1
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Trịnh Quang Bắc
đấu tranh phòng, chống tham nhũng
trong lĩnh vực đầu t xây dựng bằng nguồn vốn
nhà nớc của thanh tra tỉnh hải dơng
Chuyên ngành
Mã số
: Lý luận và lịch sử nhà nớc và pháp luật
: 60 38 01
luận văn thạc sĩ luật HọC
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Văn Mạnh
Hà Nội - 2009
2
LI CAM OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự
nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ
ràng và trung thực. Kết luận của Luận văn cha từng đợc công bố trong các công trình khác.
Trịnh Quang Bắc
CHỐNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NHÀ NƯỚC CỦA
THANH TRA TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư xây dựng bằng
nguồn vốn nhà nước ở tỉnh Hải Dương
2.2. Thực trạng tham nhũng và tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng bằng nguồn vốn nhà nước ở tỉnh Hải Dương
2.3. Thực trạng đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực
đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của Thanh tra tỉnh
Hải Dương
43
43
55
73
Chương 3: YÊU CẦU CẤP THIẾT VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG
LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN
NHÀ NƯỚC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG
98
3.1. Yêu cầu cấp thiết của việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng
trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước ở tỉnh
Hải Dương
3.2. Các giải pháp tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong
lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước ở tỉnh Hải Dương
chính sự nghiệp của cả nước. Chỉ cần giảm 10% số thất thoát trong xây dựng
cơ bản là có thể đủ nguồn để thực hiện cải cách tiền lương. Điều đó đặt ra yêu
cầu cho các cơ quan bảo vệ pháp luật cần tập trung mọi nỗ lực để đấu tranh
ngăn chặn tình trạng này, đây là vấn đề rất cấp thiết và là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Trong những năm qua, thanh tra tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng
trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với nạn tham nhũng trong lĩnh đầu tư
xây dựng từ nguồn vốn ngân sách, thu hồi số lượng tài sản lớn cho Nhà nước.
Tuy nhiên, so với tình hình mà dư luận xã hội đã phản ánh thì kết quả đó chưa
đáp ứng được yêu cầu.
Do tính đặc thù của hoạt động xây dựng cơ bản nên việc phòng ngừa,
phát hiện xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này thường gặp
5
nhiều khó khăn. Đối tượng vi phạm trong xây dựng cơ bản thường là những
người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản, có mối quan hệ với những
người có chức quyền trong bộ máy nhà nước cùng thông đồng, móc ngoặc với
những thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước.
Trong khi đó hoạt động phát hiện, xử lý của lực lượng thanh tra còn
gặp nhiều khó khăn, bất cập. Các biện pháp phòng ngừa cũng như các biện
pháp phát hiện, xử lý chưa phát huy hết vai trò, tác dụng. Mặt khác, trong quá
trình phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ thường rất khó khăn và phức tạp vì
phải qua công tác giám định công trình xây dựng.
Về phương diện lý luận, hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tham
nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước chưa được
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống nên đã tác động tiêu cực
đến hoạt động thực tiễn của lực lượng thanh tra trong phòng ngừa, đấu tranh
chống tham nhũng ở lĩnh vực này. Do vậy, đây là một vấn đề cần quan tâm
nghiên cứu.
nhũng trong đầu tư xây dựng và hoạt động phòng ngừa, đấu tranh của thanh tra
tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu khảo sát lấy số liệu từ năm 2004 đến năm 2009.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
cùng với hệ thống những quan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành thanh tra về
nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòng chống tham nhũng.
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong cả ba chương
nhằm khái quát cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải phap
tăng cường đấu tranh phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng bằng nguồn vốn nhà nước.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp tổng kết thực tiễn, nghiên cứu
điển hình; phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp so sánh được sử
dụng chủ yếu trong chương 2 nhằm đánh giá thực trạng tham nhũng và đấu
8
tranh phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn
vốn nhà nước của Thanh tra tỉnh Hải Dương.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Về lý luận, luận văn sẽ làm rõ thêm và bổ sung nhận thức lý luận về
tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước; lý luận về hoạt
động phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực này.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng
nguồn vốn nhà nước của thanh tra trong tình hình hiện nay. Đề tài có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập trong
các trường đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ thanh tra.
7. Bố cục của luận văn
Kiểm tra (tiếng Anh - control) là “xem xét tình hình thực tế để đánh
giá, nhận xét” [33, tr.882], để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối
tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc). Kiểm tra được hiểu
theo nghĩa thứ nhất, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và
10
của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước. Theo nghĩa này, tính
quyền lực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế. Tuy nhiên, các chủ thể thực
hiện kiểm tra không có quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Thứ hai, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh
một việc gì đó của đối tượng bị quản lý có phù hợp hay không phù hợp với
quy định, ví dụ: kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm
tra phương tiện giao thông. Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có thể áp dụng
một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt vi
phạm hành chính. Ở đây, khái niệm kiểm tra nằm trong khái niệm thanh tra
của Luật Thanh tra năm 2004 “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá,
xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp
luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền,
trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp
luật”(Điều 4).
Thanh tra, kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt
động mang tính chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính
phản hồi đối với quá trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi những
mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra.
Với tư cách là một chức năng quản lý, là một giai đoạn của quá trình
quản lý, khái niệm thanh tra và kiểm tra có những nét tương đồng như đã nêu
trên, cho nên trong hoạt động chúng giống nhau về bản chất và đều có mục
đích, yêu cầu chung là xem xét, đánh giá đối tượng của kiểm tra và thanh tra,
từ đó rút ra kết luật đúng, sai để có biện pháp phát huy hoặc chấn chỉnh. Như
được xem như là phương thức hành động để thực hiện mục đích” [17, tr.348].
Trong quá trình phát triển của xã hội từ khi chưa có nhà nước đến khi
xuất hiện nhà nước thì tác động của chúng đối với xã hội có khác nhau về
mức độ thực hiện quyền năng: “thanh tra và kiểm tra là những chức năng,
những mặt của quản lý nói chung, chúng liên hệ, tác động lẫn nhau theo mức
độ quyền năng và trong mối tương quan với quản lý nhà nước thì thanh tra
12
giữ vai trò trực tiếp, bởi chính trong quá trình thanh tra, ưu thế về tính quyền
lực nhà nước được thể hiện rõ hơn so với kiểm tra” [14, tr.321].
Sự ra đời của nhà nước - tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt của giai
cấp thống trị về kinh tế đối với giai cấp bị trị đòi hỏi phải có những công cụ
mang tính quyền lực để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Từ đó, quản
lý mang tính quyền lực nhà nước xuất hiện và là một trong những đặc trưng
phân biệt nhà nước với các bộ lạc, thị tộc xưa kia và các tổ chức xã hội hiện
nay. Để thực hiện quản lý nhà nước, giai cấp thống trị sử dụng các chức năng
khác nhau, trong đó chức năng thanh tra nhằm tác động tới khách thể quản lý,
lập lại trật tự và nâng cao hiệu quả quản lý.
Như vậy, xét về mặt lịch sử, kiểm tra tồn tại từ rất xa xưa, khi chưa có
nhà nước còn thanh tra xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Đương
nhiên, cùng với sự xuất hiện, tồn tại và tiêu vong của nhà nước, thì thanh tra
cũng sẽ không tồn tại, nhưng kiểm tra (mang tính xã hội) vẫn tồn tại cùng với
sự tồn tại của xã hội loài người.
Việc tìm hiểu khái niệm thanh tra còn đòi hỏi phải nghiên cứu một số
quan niệm trong thực tiễn pháp lý hiện hành, cũng như trong lịch sử nước ta
thông qua mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước và các quy định của Hiến
pháp và pháp luật.
Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử
dụng, nhưng các triều đại Lý, Trần, Lê có cơ quan với chức năng gần giống
Hiến pháp năm 1980 đã sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là
một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước. Khoản 15 Điều 107 của Hiến
pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công
tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra
việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng nhà nước, Hội đồng
Bộ trưởng”. Về Uỷ ban nhân dân, Điều 124 quy định: “Uỷ ban nhân dân các
cấp chiểu theo quyền hạn do luật định, ra những quyết định, chỉ thị và kiểm
tra việc thi hành những văn bản đó”.
14
Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện
rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính
phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà
nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng
trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”.
Điều 115 quy định: “… Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính
phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó …”. Đối
với Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, thủ trưởng các cơ quan
thuộc Chính phủ “ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các
văn bản đó…” (Điều 116). Đối với Uỷ ban nhân dân, Điều 124 Hiến pháp
năm 1992 cũng quy định “Uỷ ban nhân dân… ra quyết định, chỉ thị và kiểm
tra việc thi hành những văn bản đó”.
Trong sách báo pháp lý của ngành thanh tra thì “thanh tra được hiểu là
sự xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những
nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục
những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước” [15, tr.18]. Cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra việc
thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
thông tin từ phía các cơ quan thanh tra). Mặt khác, hoạt động chấp hành của
quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình
thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của
các cơ quan có thẩm quyền.
Quản lý nhà nước và thanh tra có cái chung là nhân danh quyền lực nhà
nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý. Song xem xét theo
cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là những công cụ, phương tiện
để quản lý nhà nước.
Là một khâu trong quá trình quản lý, thanh tra bị ràng buộc, chế ước
bởi quản lý, nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức,
phương pháp quản lý của chủ thể quản lý nhà nước. Trong quá trình trình đó,
16
thanh tra phản ánh và bảo vệ mục đích của quản lý. Một thể chế hành chính
và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra. Trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động có tính hiệu quả của
thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tuỳ tiện, thiếu kỷ cương trong
hoạt động quản lý nhà nước. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh: Nhà nước xã hội
chủ nghĩa sẽ hạn chế được nguy cơ tham nhũng, tệ quan liêu, tăng cường
được kỷ cương xã hội khi những người cộng sản thực hiện tốt công tác thanh
tra, kiểm soát.
1.1.2.2. Tính quyền lực nhà nước của thanh tra
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt
chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước. Là một chức năng
của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm
thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Không thể
không có quyền lực mà không gắn với một tổ chức. Nói về quyền lực nhà
nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính
chất nhà nước của tổ chức thanh tra. Vì vậy, thanh tra phải được nhà nước sử
- Trong một số trường hợp, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế
nhà nước.
Không nên cho rằng, hoạt động thanh tra là hoạt động mang tính cưỡng
chế, vì như thế là đồng nhất quyền lực với cưỡng chế. Cưỡng chế chỉ là một
yếu tố đặc biệt và chỉ trong những trường hợp cần thiết khi sử dụng quyền lực
nhà nước mà thôi. Thanh tra là hoạt động thường xuyên, thiết thực, có tính
sáng tạo, ngày càng được mở rộng và trở nên rộng khắp, mang tính dân chủ sâu
sắc. Do đó, nói đến tính quyền lực nhà nước trong hoạt động thanh tra không
có nghĩa là trong hoạt động thanh tra chỉ sử dụng các biện pháp cưỡng chế.
Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra phải được cụ thể hoá
trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống thanh tra, phương thức tiến
hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối
tượng bị thanh tra, sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước và thanh tra
nhà nước chuyên ngành, thanh tra nhân dân. Nếu cụ thể hoá một mặt nào đó mà
18
không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực đều dẫn đến
hạ thấp vai trò và hiệu quả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
lao động, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua các cơ quan nhà
nước do mình bầu ra (trực tiếp hoặc gián tiếp). Do đó, nói tính chất nhân dân
của thanh tra là xác định vai trò to lớn của quần chúng tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào quá trình thanh tra. Đây cũng là điều kiện đảm bảo thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sự tham gia của quần chúng vào quá trình thanh
tra, nói như Lênin: không chỉ là những phong trào, những tín hiệu dân chủ mà
phải quy định bằng pháp luật và thông qua bộ máy của Nhà nước.
1.1.2.3. Tính độc lập tương đối của thanh tra
Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm
này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy
quan thanh tra có quyền bảo lưu ý kiến và chuyển kết luận thanh tra lên cơ
quan thanh tra cấp trên cho đến Tổng Thanh tra Chính phủ.
Mọi hoạt động tài phán đều mất tính công minh nếu xa rời cơ sở pháp
luật, nếu chịu ảnh hưởng của những quyền lực khác, kể cả quyền lực về phía
cơ quan nhà nước cấp trên không chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả thanh
tra. Tuy nhiên, tính độc lập của thanh tra ở đây cần được hiểu là tính độc lập
của hoạt động thanh tra nói chung và độc lập về nguyên tắc nói riêng. Nó
khác với tính độc lập trong xét xử ở Toà án, bởi vì:
Một là, thanh tra xem xét mọi việc không chỉ căn cứ vào tính hợp pháp
mà cả tính hợp lý;
Hai là, không phải mọi hoạt động thanh tra đều mang tính chất tài phán;
Ba là, trong hoạt động về thanh tra, về nguyên tắc người có trách
nhiệm, người quyết định cuối cùng trong việc xử lý kết quả thanh tra vẫn là
thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước;
1.1.3. Vai trò và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức
thanh tra
1.1.3.1. Vai trò của thanh tra
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai
đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu
20
quả của quản lý nhà nước. Qua thanh tra để có các kiến nghị khắc phục những
sơ hở, yếu kém, đề xuất những biện pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả quản
lý, sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm quản lý tốt hơn, hiệu quả hơn. Chính vì
vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước phải có thanh tra và thanh tra phải
phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước. Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó
phải tổ chức công tác thanh tra, có hoạt động thanh tra. Quản lý nhà nước mà
không có thanh tra là quản lý suông, dễ quan liêu và xa rời thực tiễn.
Thanh tra làm cho quá trình quản lý nhà nước được khép kín, các hoạt
quản lý sẽ bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý. Mặt
khác, việc tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, phát hiện
những nội dung chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các
biện pháp sửa đổi, bổ sung, khắc phục kịp thời có ý nghĩa tích cực trong việc
củng cố trật tự, kỷ cương, hoàn thiện cơ chế quản lý. Tuy nhiên, cũng phải
hiểu rằng chỉ phát hiện, tìm kiếm sai phạm, sở hở, yếu kém trong quản lý thì
chưa đủ, mà thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, đồng thời tạo điều
kiện cho những cơ chế mới nẩy sinh phát triển. Có như vậy thì hiệu quả công
tác quản lý mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn.
Hoạt động thanh tra góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Ở
nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là cội nguồn của
quyền lực nhà nước. Nhà nước có nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của nhân dân, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Ngoài ra, nhân
dân là người giám sát các hoạt động của nhà nước. Trong Hiến pháp và các
văn bản pháp luật, Nhà nước ta không chỉ ghi nhận mà còn có các cơ chế đảm
bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân thông qua hình thức dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện.
Việc kiểm tra, giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức
nhà nước là phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân.
Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát thông qua hoạt động của các cơ
quan nhà nước do mình bầu ra, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề
22
nghiệp mà mình là thành viên và các Ban Thanh tra nhân dân; thông qua việc
khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật; xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
Với việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, hướng
dẫn, giúp đỡ Ban Thanh tra nhân dân hoạt động, tổ chức thanh tra nhà nước
hiện chính sách, pháp luật của các cơ quan nhà nước cần chú ý đến hai mặt:
- Tính hợp pháp của hoạt động quản lý, bao gồm từ việc ban hành
quyết định quản lý theo thẩm quyền, đến những hành vi hành chính của các
cơ quan quản lý và tính phù hợp theo luật định của các hoạt động trên. Mọi
hành vi lạm quyền, vượt thẩm quyền đều phải được cơ quan thanh tra với tư
cách là chủ thể nhân danh quyền hành pháp xem xét, kết luận.
- Tính hợp lý của các hoạt động quản lý thông tin qua hành vi hành
chính (ban hành quyết định quản lý, hành động hay không hành động của các
chủ thể quản lý). Tính hợp lý của hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ xem xét
các quyết định quản lý có tính khả thi hay không. Trong hoạt động quản lý,
tính hợp lý không gây ra những tác hại lớn, do đó không thể áp dụng các biện
pháp cưỡng chế mạnh.
Hoạt động thanh tra phải làm cho bộ máy hành chính nhà nước hoạt
động tốt hơn, hiệu quả hơn. Như vậy, hoạt động thanh tra phải hướng vào các
nội dung chủ yếu sau:
- Thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ và trách nhiệm thi hành công vụ của cơ quan nhà nước và
viên chức nhà nước. Thông qua hoạt động này, thanh tra góp phần quan trọng
vào việc làm trong sạch bộ máy nhà nước, phát hiện và ngăn ngừa hành vi vi
phạm pháp luật của quan chức nhà nước.
- Thanh tra trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo (tổ chức Thanh tra không phải là một cấp giải quyết khiếu
nại, tố cáo). Thông qua hoạt động này, thanh tra góp phần tăng cường kỷ luật
trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
24
- Thanh tra các hoạt động quản lý kinh tế, quản lý xã hội của cơ quan
nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, các đơn vị lực lượng vũ trang, hoạt
bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; khi
cần thiết có thể tiến hành kiểm kê tài sản của đối tượng thanh tra liên quan
đến nội dung thanh tra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến
nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó;
đ) Yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được
cấp hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm
pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý;
e) Quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra khi có căn cứ
cho rằng có vi phạm pháp luật;
g) Tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm
khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
h) Kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ việc thi hành quyết
định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng
tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc
thi hành quyết định đó gây trở ngại cho việc thanh tra;
g) Báo cáo với người ra quyết định thanh tra về kết quả thanh tra và
chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó.
2. Khi xét thấy không cần thiết áp dụng các biện pháp quy định tại các
điểm đ, e, g và h khoản 1 Điều này thì Trưởng Đoàn thanh tra phải quyết định
hoặc kiến nghị huỷ bỏ ngay việc áp dụng các biện pháp đó.
3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này,
Trưởng Đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi quyết
định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật.