LUẬN VĂN:
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh
vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước
của thanh tra tỉnh Hải Dương
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã đạt được được nhiều thành tựu quan trọng trong đời sống
kinh tế - xã hội và tạo nên những thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Ngành
xây dựng đã thực sự góp phần tạo nên vóc dáng mới của đất nước với nhiều công trình
hiện đại, góp phần tích cực và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, trong lĩnh vực này đang tồn tại nhiều vấn đề
bức xúc. Một trong những vấn đề đó là nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí diễn ra phổ
biến và phức tạp ở hầu hết các công trình xây dựng, gây ra những hậu quả nghiêm trọng
về nhiều mặt, gây bất bình trong dư luận xã hội. Theo Ban Nghiên cứu của Thủ tướng
Chính phủ, riêng trong xây dựng cơ bản không có công trình nào thất thoát dưới 20%.
Nếu theo tỷ lệ đó mà nhân lên lên, sẽ thất thoát khoảng 30 nghìn tỷ đồng, số tiền này đủ
để trả lương cho khu vực hành chính sự nghiệp của cả nước. Chỉ cần giảm 10% số thất
thoát trong xây dựng cơ bản là có thể đủ nguồn để thực hiện cải cách tiền lương. Điều đó
đặt ra yêu cầu cho các cơ quan bảo vệ pháp luật cần tập trung mọi nỗ lực để đấu tranh
ngăn chặn tình trạng này, đây là vấn đề rất cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Trong những năm qua, thanh tra tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng trong công tác
phòng ngừa, đấu tranh với nạn tham nhũng trong lĩnh đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân
sách, thu hồi số lượng tài sản lớn cho Nhà nước. Tuy nhiên, so với tình hình mà dư luận
xã hội đã phản ánh thì kết quả đó chưa đáp ứng được yêu cầu.
Do tính đặc thù của hoạt động xây dựng cơ bản nên việc phòng ngừa, phát hiện xử lý
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này thường gặp nhiều khó khăn. Đối tượng vi
phạm trong xây dựng cơ bản thường là những người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý
tài sản, có mối quan hệ với những người có chức quyền trong bộ máy nhà nước cùng
tình hình tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng tình hình tham nhũng trong đầu tư
xây dựng và hoạt động phòng ngừa, đấu tranh của thanh tra tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu
khảo sát lấy số liệu từ năm 2004 đến năm 2009.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với hệ thống những quan
điểm của Đảng, Nhà nước và ngành thanh tra về nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòng
chống tham nhũng.
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong cả ba chương nhằm khái quát cơ
sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải phap tăng cường đấu tranh phòng
chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp tổng kết thực tiễn, nghiên cứu điển hình; phương
pháp điều tra xã hội học; phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong chương 2
nhằm đánh giá thực trạng tham nhũng và đấu tranh phòng chống tham nhũng trong lĩnh
vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của Thanh tra tỉnh Hải Dương.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Về lý luận, luận văn sẽ làm rõ thêm và bổ sung nhận thức lý luận về tham nhũng trong
đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước; lý luận về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh
chống tham nhũng trong lĩnh vực này.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa,
đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của thanh tra
trong tình hình hiện nay. Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho
việc nghiên cứu, học tập trong các trường đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ thanh tra.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu
trúc thành 3 chương, 7 tiết.
Thứ hai, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh một việc gì
đó của đối tượng bị quản lý có phù hợp hay không phù hợp với quy định, ví dụ: kiểm tra
mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao thông. Theo
nghĩa này, chủ thể kiểm tra có thể áp dụng một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng các
hình thức kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính. Ở đây, khái niệm kiểm tra nằm trong khái
niệm thanh tra của Luật Thanh tra năm 2004 “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh
giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục
được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật”(Điều 4).
Thanh tra, kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính
chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi đối với quá trình quản
lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra.
Với tư cách là một chức năng quản lý, là một giai đoạn của quá trình quản lý, khái niệm
thanh tra và kiểm tra có những nét tương đồng như đã nêu trên, cho nên trong hoạt động
chúng giống nhau về bản chất và đều có mục đích, yêu cầu chung là xem xét, đánh giá
đối tượng của kiểm tra và thanh tra, từ đó rút ra kết luật đúng, sai để có biện pháp phát
huy hoặc chấn chỉnh. Như vậy, xét theo bản chất và mục đích của quản lý nhà nước thì
hoạt động thanh tra và kiểm tra gần như không có sự phân biệt, thanh tra và kiểm tra
giống nhau về bản chất, nhưng theo cách hiểu khác nhau thì chúng khác nhau về phạm vi.
Thanh tra bao hàm kiểm tra nếu hiểu kiểm tra theo nghĩa hẹp, nhưng ngược lại, kiểm tra
lại bao hàm thanh tra nếu hiểu theo nghĩa rộng. Nhưng thanh tra luôn mang tính nhà
nước, còn kiểm tra có thể mang tính nhà nước hoặc phi nhà nước. V.I Lênin nhiều lần
nhấn mạnh rằng, mục đích của kiểm tra và thanh tra là nhằm xây dựng “khả năng biết
làm, biết thành thạo trong quản lý”. Khi bàn đến sự thống nhất của hai loại hoạt động, V.I
Lênin nói: “…phải cải tổ bộ dân uỷ thanh tra công nông… để tăng cường sự kiểm tra từ
phía quần chúng nhằm tiêu diệt cái thứ cỏ dại - chủ nghĩa quan liêu” [16, tr.157]. Tuy
nhiên, giữa chúng cũng có những điểm không giống nhau.
- Thanh tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự uỷ
thanh tra xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Đương nhiên, cùng với sự xuất
hiện, tồn tại và tiêu vong của nhà nước, thì thanh tra cũng sẽ không tồn tại, nhưng kiểm
tra (mang tính xã hội) vẫn tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội loài người.
Việc tìm hiểu khái niệm thanh tra còn đòi hỏi phải nghiên cứu một số quan niệm trong
thực tiễn pháp lý hiện hành, cũng như trong lịch sử nước ta thông qua mô hình tổ chức
các cơ quan nhà nước và các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, nhưng các
triều đại Lý, Trần, Lê có cơ quan với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra hiện
nay gọi là “Ngự sử đài” và có chức “Quan ngự sử” đứng đầu Ngự sử đài. Ngự sử đài có
nhiệm vụ giúp vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình.
Quan ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền
can gián vua. Thời Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám
nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền can gián nhà vua những việc nên
làm và những việc không nên làm.
Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta chưa sử dụng thuật ngữ
thanh tra, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách
nào, quyền kiểm soát đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường vụ Nghị viện: “khi
Nghị viện không họp, Ban Thường vụ có quyền kiểm soát, phê bình Chính phủ”.
Ngày 23/11/1945, chỉ sau ba tháng từ khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh nêu
rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả
các công việc và các nhân viên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”, từ
đây thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao
cho Chính phủ.
Hiến pháp năm 1959 cũng đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành
các quyết định quản lý nhà nước: “Các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội
đồng Chính phủ ra đời những thông tư, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các thông tư và
chỉ thị ấy” và “Uỷ ban hành chính các cấp chiếu theo quyền hạn do luật định mà ra quyết
Luật Thanh tra 2004 .
Từ những phân tích nêu trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: Thanh tra là
một chức năng của quản lý nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền,
nhân danh quyền lực nhà nước nhằm tác động đến đối tượng quản lý theo một trình tự,
thủ tục do pháp luật quy định trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phát
huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản
lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.
1.1.2. Đặc điểm của thanh tra
1.1.2.1. Thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước
Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của quá trình quản lý nhà nước,
thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước, “quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và
thanh tra là một chứ không phải là hai”.
Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với quá trình lao động xã hội.
Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đòi hỏi tính tất yếu phải có quản lý để điều
chỉnh những hoạt động của tổ chức và cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động của cả cơ chế sản xuất với sự vận động của các
yếu tố khách quan, độc lập hợp thành cơ chế sản xuất đó.
Như vậy, việc xem xét, định hướng, đánh giá kết quả quản lý là một phương diện
của quản lý xã hội. Quản lý nhà nước là một bộ phận quản lý xã hội và ở đâu có quản lý
nhà nước thì ở đó có thanh tra.
Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (đề ra đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền
của các cơ quan thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh
tra). Mặt khác, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều
hành, cho nên trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra
nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩm quyền.
Quản lý nhà nước và thanh tra có cái chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực
và chiếc rìu đồng cổ.
Nói tóm lại, chủ thể duy nhất tiến hành thanh tra là nhà nước, thanh tra xuất hiện,
tồn tại và tiêu vong cùng với nhà nước. Ở các nước trên thế giới, dù mô hình tổ chức,
hoạt động thanh tra có khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm này. Thậm chí, kể cả ở
những nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ vốn có xu hướng “khế ước hoá” các mối
quan hệ, kể cả quan hệ giữa nhà nước với công dân cũng hoàn toàn không có một loại
hình thanh tra nào ngoài những tổ chức thanh tra của nhà nước, mang uy danh nhà nước.
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ các cơ quan thanh tra
nhà nước đều có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó:
- Ra các quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc sửa
chữa những thiếu sót đã bị thanh tra phát hiện.
- Yêu cầu có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm
đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, kể cả việc chuyển hồ
sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trước pháp luật.
- Trong một số trường hợp, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Không nên cho rằng, hoạt động thanh tra là hoạt động mang tính cưỡng chế, vì
như thế là đồng nhất quyền lực với cưỡng chế. Cưỡng chế chỉ là một yếu tố đặc biệt và
chỉ trong những trường hợp cần thiết khi sử dụng quyền lực nhà nước mà thôi. Thanh tra là
hoạt động thường xuyên, thiết thực, có tính sáng tạo, ngày càng được mở rộng và trở nên
rộng khắp, mang tính dân chủ sâu sắc. Do đó, nói đến tính quyền lực nhà nước trong hoạt
động thanh tra không có nghĩa là trong hoạt động thanh tra chỉ sử dụng các biện pháp
cưỡng chế.
Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra phải được cụ thể hoá trong chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết
quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra, sự phối hợp giữa các
tổ chức thanh tra nhà nước và thanh tra nhà nước chuyên ngành, thanh tra nhân dân. Nếu cụ
thể hoá một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực
đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệu quả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra.
Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực,
công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ
chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Mặt khác, Luật cũng quy định cơ quan thanh tra tiến
hành thanh tra theo yêu cầu, nhiệm vụ mà thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước giao.
Nếu thủ trưởng không sử dụng kết quả thanh tra, không đồng ý với kết luận thanh tra thì
cơ quan thanh tra có quyền bảo lưu ý kiến và chuyển kết luận thanh tra lên cơ quan thanh
tra cấp trên cho đến Tổng Thanh tra Chính phủ.
Mọi hoạt động tài phán đều mất tính công minh nếu xa rời cơ sở pháp luật, nếu chịu ảnh
hưởng của những quyền lực khác, kể cả quyền lực về phía cơ quan nhà nước cấp trên
không chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả thanh tra. Tuy nhiên, tính độc lập của thanh
tra ở đây cần được hiểu là tính độc lập của hoạt động thanh tra nói chung và độc lập về
nguyên tắc nói riêng. Nó khác với tính độc lập trong xét xử ở Toà án, bởi vì:
Một là, thanh tra xem xét mọi việc không chỉ căn cứ vào tính hợp pháp mà cả tính hợp lý;
Hai là, không phải mọi hoạt động thanh tra đều mang tính chất tài phán;
Ba là, trong hoạt động về thanh tra, về nguyên tắc người có trách nhiệm, người quyết
định cuối cùng trong việc xử lý kết quả thanh tra vẫn là thủ trưởng cơ quan hành chính
nhà nước;
1.1.3. Vai trò và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức thanh tra
1.1.3.1. Vai trò của thanh tra
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong
chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Qua
thanh tra để có các kiến nghị khắc phục những sơ hở, yếu kém, đề xuất những biện pháp
đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm quản lý tốt hơn,
hiệu quả hơn. Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước phải có thanh tra và thanh
tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước. Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó phải
tổ chức công tác thanh tra, có hoạt động thanh tra. Quản lý nhà nước mà không có thanh
tra là quản lý suông, dễ quan liêu và xa rời thực tiễn.
Thanh tra làm cho quá trình quản lý nhà nước được khép kín, các hoạt động ban hành và
thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, đồng thời tạo điều kiện cho những cơ chế
mới nẩy sinh phát triển. Có như vậy thì hiệu quả công tác quản lý mới đáp ứng được yêu
cầu phát triển của thực tiễn.
Hoạt động thanh tra góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Ở nước ta, quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước. Nhà
nước có nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo mọi điều
kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước và quản
lý xã hội. Ngoài ra, nhân dân là người giám sát các hoạt động của nhà nước. Trong Hiến
pháp và các văn bản pháp luật, Nhà nước ta không chỉ ghi nhận mà còn có các cơ chế
đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân thông qua hình thức dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện.
Việc kiểm tra, giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước là phương
thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra,
giám sát thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước do mình bầu ra, các tổ chức
chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp mà mình là thành viên và các Ban Thanh tra nhân
dân; thông qua việc khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật; xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
Với việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, hướng dẫn, giúp đỡ Ban
Thanh tra nhân dân hoạt động, tổ chức thanh tra nhà nước tạo điều kiện để nhân dân thực
hiện quyền dân chủ của mình. Qua việc xem xét, kết luận và kiến nghị giải quyết khiếu
nại, tố cáo, các tổ chức thanh tra nhà nước giúp Đảng và Nhà nước phát hiện kịp thời
những vi phạm của cán bộ, công chức, loại trừ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, mất
dân chủ, thiếu công bằng, xa rời lợi ích của nhân dân, từ đó có các biện pháp xử lý, khắc
phục, góp phần xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Với ý nghĩa này, thanh tra
không chỉ là chức năng thiết yếu của bộ máy nhà nước mà còn là nhu cầu khách quan của
nhân dân, của xã hội.
1.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của của thanh tra
a. Về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức thanh tra
quả hơn. Như vậy, hoạt động thanh tra phải hướng vào các nội dung chủ yếu sau:
- Thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và
trách nhiệm thi hành công vụ của cơ quan nhà nước và viên chức nhà nước. Thông qua
hoạt động này, thanh tra góp phần quan trọng vào việc làm trong sạch bộ máy nhà nước,
phát hiện và ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của quan chức nhà nước.
- Thanh tra trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo (tổ
chức Thanh tra không phải là một cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo). Thông qua hoạt động
này, thanh tra góp phần tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
- Thanh tra các hoạt động quản lý kinh tế, quản lý xã hội của cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị, xã hội, các đơn vị lực lượng vũ trang, hoạt động của các doanh nghiệp nhà
nước, các tập đoàn sản xuất, các doanh nghiệp liên doanh, liên kết với nước ngoài có sử
dụng vốn và tài sản của Nhà nước. Thông qua hoạt động này, thanh tra góp phần rất quan
trọng trong việc chống tệ tham nhũng, cũng như các hành vi tiêu cực khác trong hoạt
động kinh tế, xã hội.
b. Về quyền hạn của các tổ chức thanh tra
Quyền hạn của các tổ chức thanh tra được xác định trên cơ sở tính quyền lực nhà nước
của hoạt động thanh tra, nó có mối quan hệ chặt chẽ với tính quyền uy, phục tùng của
quản lý nhà nước. Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như
một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng
quản lý. Không thể nói đến quyền lực khi không gắn với một tổ chức. Nói về quyền lực
nhà nước tron quá trình thanh tra có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước
của tổ chức thanh tra, hay quyền hạn của thanh tra được thực hiện trên cơ sở quyền lực
nhà nước. Đó là quyền hạn của cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Khi nhấn mạnh
tính quyền lực của tổ chức thanh tra, Lênin nói: “thanh tra thiếu quyền lực là thanh tra
suông”.
Tính quyền lực nhà nước của thanh tra thể hiện thông qua các quyền hạn của các tổ chức
thanh tra nhà nước được quy định trong Luật Thanh tra mà tập trung cụ thể là Điều 39,
việc áp dụng các biện pháp đó.
3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, Trưởng Đoàn thanh
tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi quyết định của mình; nếu có hành vi vi
phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy
định của pháp luật.
Như vậy, quyền hạn của các tổ chức thanh tra nhà nước được quy định tương đối đầy đủ,
rõ ràng, mức độ từ thấp đến cao, làm cơ sở cho các tổ chức thanh tra nhà nước thực hiện
đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình và đó cũng là việc thực hiện quyền lực nhà nước
trong công tác thanh tra.
1.2. KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THAM NHŨNG TRONG LĨNH VỰC
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm đầu tư xây dựng và những đặc điểm cơ bản của đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn nhà nước
Nghiên cứu các văn bản pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng, cho thấy: đầu tư và xây
dựng là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ gắn bó với nhau. Đầu tư là việc bỏ vốn
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng
trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
trong khoảng thời gian xác định. Xây dựng là việc sử dụng vốn để tạo mới các công trình
phục vụ cho các hoạt động kinh tế - xã hội như: cầu, đường, nhà máy, xí nghiệp, các công
trình thủy lợi, cơ quan, trường học, bệnh viện... Công trình xây dựng là sản phẩm của công
nghệ xây lắp gắn liền với đất đai (bao gồm cả khoảng không, mặt nước, mặt biển, thềm
lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động, đồng thời, đó cũng là
kết quả sử dụng vốn đầu tư cho công trình xây dựng.
Như vậy, đầu tư xây dựng là toàn bộ quá trình sử dụng các nguồn vốn gắn với quá trình
xây dựng các công trình phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Đầu tư - xây
dựng là lĩnh vực bao gồm nhiều giai đoạn được tiến hành theo trình tự thống nhất rất chặt
chẽ từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đấu thầu, thi công xây lắp cho đến nghiệm thu đưa công
hoặc xin vay thông qua tín dụng ưu đãi). Có xin thì có cho. Mà thông thường, để xin
được tiền thì phải chi tiền. Hối lộ nhiều được cấp phát nhiều, hối lộ ít được cấp phát ít.
Chính vì thế, cơ chế xin - cho là mảnh đất màu mỡ để tham nhũng tồn tại và phát triển.
- Thứ hai, để có một công trình xây dựng được triển khai thực hiện trong thực tế thường phải
trải qua nhiều khâu, với những thủ tục phức tạp như: lập dự án, khảo sát, thiết kế; đấu thầu,
giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị; kết thúc xây dựng, nghiệm thu công
trình đưa vào sử dụng. Mặt khác, vật tư, thiết bị dùng cho xây dựng rất phong phú, đa dạng
và dễ thay thế. Thị trường vật tư, thiết bị dùng cho xây dựng cơ bản rất đa dạng, nhiều chủng
loại đáp ứng nhu cầu sử dụng trong xã hội và dễ tiêu thụ. Giá vật tư, thiết bị dùng trong xây
dựng cơ bản phần lớn phụ thuộc vào giá thị trường và thường liên tục biến động. Hơn nữa,
trong thực tế nhiều trường hợp rất khó kiểm soát chất lượng vì công trình nằm sâu trong lòng
đất, khối bê tông... Bên cạnh đó, điều kiện bảo vệ an toàn cho tài sản ở các công trình còn
nhiều sơ hở, nhiều nơi kho tàng, bến bãi không đảm bảo cho công tác bảo vệ an toàn tài sản.
Lợi dụng tình hình đó, các đối tượng phạm tội đã dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để
chiếm đoạt tài sản, hợp pháp hóa hành vi chiếm đoạt, thậm chí đổ lỗi cho khách quan để biện
minh cho những thất thoát về tài sản trong quá trình đầu tư xây dựng.
- Thứ ba, thời gian xây dựng công trình, đặc biệt là công trình trọng điểm thường kéo
dài, có nhiều đơn vị tham gia. Có công trình xây dựng kéo dài đến hàng chục năm như
các công trình thủy điện, có công trình trải dài hàng ngàn km như công trình xây dựng
giao thông. Có công trình vừa thiết kế, vừa xây dựng, vừa hoàn thiện bàn giao từng
phần, vừa xây dựng, vừa sử dụng đan xen...
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản có tính chất đặc thù của lĩnh vực đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn nhà nước có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
đòi hỏi ngành thanh tra cần nắm vững những đặc điểm đó. Việc nắm vững những đặc điểm
này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định địa bàn trọng điểm, mối quan hệ giữa các
khâu trong đầu tư xây dựng để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cơ bản, đảm bảo chủ động
phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và điều tra khám phá tội phạm.
1.2.2. Khái niệm tham nhũng và tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng
2. Nhận hối lộ.
3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.
7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải
quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.
9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.
10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.
11. Khụng thực hiện nhiệm vụ, cụng vụ vì vụ lợi.
12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì
vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Qua phân tích tính chất của hoạt động tham nhũng, có thể đưa ra khái niệm về tham
nhũng như sau:
Tham nhũng là tập hợp những hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện
bằng cách sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi, gây thiệt hại tài sản, lợi ích
của Nhà nước, tập thể, công dân, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức.
Từ khái niệm về tham nhũng, chúng ta có thể khái quát các đặc trưng của tham nhũng
được thể hiện như sau:
1- Tham nhũng là hoạt động nguy hiểm cho xã hội; đó là những hoạt động đã xâm hại
đến các quan hệ xã hội đã được pháp luật bảo vệ. Đó là hành vi trực tiếp xâm hại đến uy
tín chế độ, xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của công dân, gây hậu quả nghiêm trọng.
2- Tham nhũng là tập hợp những hành vi tiêu cực trái đạo đức xã hội, pháp luật. Đó là
những hành vi phản ánh về mặt khách quan đã xâm hại đến các quan hệ xã hội. Từ tính
chất của phương pháp, thủ đoạn, phương tiện phạm tội... và các hành vi tham nhũng của