MỤC LỤC
Tham nhũng là vấn đề mang tính phổ biến, xuất hiện từ khi xã hội có nhà
nước. Ngay từ thời Hồng Đức và Gia Long đã có các bộ luật để chống tham nhũng.
Thời Minh Mạng có “phép làm liêm”, thời Tự Đức có “chính sách báo liêm” của
Nguyễn Trường Tộ. Ngày nay, tham những đang phát triển phức tạp và nguy hiểm,
trở thành vấn đề nhức nhối của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Có thể nói tham nhũng là căn bệnh hiểm nghèo gắn liền với mọi Nhà nước, bởi lẽ
chừng nào còn Nhà nước thì còn quyền lực, mà còn quyền lực thì dễ xuất hiện
những người dùng sai quyền lực. Cuộc đấu tranh để loại bỏ những người sử dụng
sai quyền lực ra khỏi bộ máy nhà nước các cấp là cuộc đấu tranh lâu dài, liên tục
bền bỉ và kiên định của mọi nhà nước, chống mạnh thì thịnh, chống yếu thì suy,
ngoài ra không có con đường nào khác. Bởi vậy, phòng, chống tham nhũng luôn
được coi là nhiệm vụ cấp bách của mọi nhà nước. Nhận thức rõ tác hại của tham
nhũng đối với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định cuộc
đấu tranh phòng chống tham nhũng là vấn đề cấp bách và thường xuyên; đã có
nhiều chủ trương, biện pháp mang tính đồng bộ nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy
lùi tệ tham nhũng, trong đó có việc thành lập các cơ quan phòng chống tham nhũng
từ trung ương đến địa phương. Đại hội toàn quốc lần thứ X đảng ta đã chỉ rõ: “Tích
cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của
xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và
quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự
sống còn của chế độ ta”1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
khẳng định: “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm
vụ vừa cấp bách , vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận
tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước
hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh
phòng chống tham nhũng, lãng phí”2
Những tổn thất do tham nhũng gây nên thật khó đo lường cho hết đặc biệt là
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Trần Quốc Tuấn đã từng nói: “để dân khinh là
mất nước”.
Để khắc phục, hạn chế tình trạng tham nhũng trong Đảng ta hiện nay em xin
Luật Phòng, chống tham nhũng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, số 55/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: “Tham nhũng là
hành vi người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ
lợi”4. Luật này cũng quy định người có chức vụ quyền hạn gồm: “Cán bộ, công
chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên môn – kỹ
thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý
trong doanh nghiệp nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn,
góp vốn của nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao nhiệm vụ, công vụ có
quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.5
Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20-10-2006 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, xác định
các hành vi tham nhũng gồm:
3 Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2002, tr. 910
4 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2007, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.
8
5 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2007, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010,
tr.8.
2
“Hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có nhiệm vụ, quyền
hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.
Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ
lợi.
Hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi là hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn,
phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhằm đòi hỏi, ép buộc công dân, doanh
nghiệp và tổ chức, cá nhân khác phải nộp những khoản chi phí ngoài quy định
6 Phan Khắc Nhưỡng, 2008, Hướng dẫn chi tiết thi hành luật thanh tra và các qui định mới nhất về công tác thanh
tra (giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, lãng phí), nhà xuất bản lao động – xã hội, tr 506-507
3
nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng
của người cán bộ và công nhân.”7, “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở
trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống
giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình.”8
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản
lý ở các ngành, các cấp, các lĩnh vực đời sống xã hội, họ có chức, có quyền, nắm
trong tay tài sản của đất nước, của nhân dân. Cán bộ, đảng viên dễ mắc bệnh lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, tức là mắc bệnh tham nhũng, gây thiệt hại rất
lớn cho Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ rất sớm Đảng ta đã nhận
thức rõ tham nhũng là một sự nguy hại đến đất nước, tại Hội nghị đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (ngày 20-25 tháng 1-1994), Đảng ta chỉ rõ bốn nguy
cơ lớn đối với đất nước, đó là: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch
hướng xã hội chủ nghĩa ; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành
động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch”9. Đảng ta đã thẳng thắn thừa
nhận tham nhũng là một nguy cơ . Bởi vì trở thành Đảng cầm quyền, Đảng lãnh
đạo tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp
và các lĩnh vực đời sống xã hội. Đảng chịu trách nhiệm về cuộc sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, chịu trách nhiệm trước vận mệnh đất nước và dân tộc.
Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Có thể khái quát những tác hại chủ yếu của tham nhũng ở
những điểm chính sau:
Tác hại về chính trị
Tham nhũng gây tác hại rất lớn trên các mặt, các lĩnh vực hoạt động của Đảng.
bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân” 12. “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm
trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống
còn của chế độ ta"13.
Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 tiếp tục khẳng định:
“tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong
quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước,
quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm
sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước,
tiềm ẩn các xung đột lợi ích, phản kháng về xã hội, làm tăng thêm khoảng cách
giàu nghèo. Tham nhũng trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi
mới, cho sức chiến đấu của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ”.14
Tham nhũng là nguy cơ của Đảng Cộng sản cầm quyền là một trọng tâm chú ý lợi
dụng của thế lực thù địch thù địch, để phá hoại Đảng, phá hoại sự nghiệp đổi mới,
xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Điều này đã được Đại hội X của Đảng
nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một
bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm
trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục.
Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo
loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ
chính trị ở nước ta”15.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, 1992, tr.26.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.68.
12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001,
tr.50.
13 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001,
tr.67
14 Nghị quyết số: 21/NQ-CP Ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến
năm 2020, ban hành 12/05/2009
xã hội, đối với con đường xã hội chủ nghĩa. Những kẻ tham nhũng chính là những
tên đầu xỏ trong việc làm tê liệt hệ thống hành pháp, làm cho Nhà nước trở thành
đối lập và gánh nặng cho công dân. Tham nhũng tất yếu dẫn đến phá hoại đội ngũ
cán bộ Nhà nước bởi vì những kẻ tham nhũng sẽ lừa dối và hư hoá cấp trên làm
cho bộ máy trở thành quan liêu, chúng sẽ tăng cường đưa thêm kẻ xấu vào guồng
máy và triệt hại đội ngũ viên chức chưa tốt. Những kẻ tham nhũng chính là những
tên phá hoại từ bên trong của hệ thống hành pháp quốc gia.
Tác hại nguy hiểm của tệ tham nhũng, lãng phí ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
của việc thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội hoặc một nhiệm vụ
quản lý nhất định của Nhà nước. Tổng quát hơn, sự nghiệp cách mạng xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Nhân dân
16 Ban Nội chính Trung ương, Một số văn bản của Đảng về phòng, chống tham nhũng, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, 2005, tr.204-205.
17 Phạm Ngọc Hiển, Phạm Anh Tuấn, 2012, Hỏi – Đáp về Phòng chống tham nhũng, nxb chính trị quốc gia, tr 142.
6
chính là động lực, chủ thể, mục đích của cách mạng. Tình trạng tham nhũng lại là
một trở lực lớn đối với quá trình này. Quan điểm và tư duy đổi mới cùng với cơ
chế, pháp luật đúng đắn, phù hợp đã bị tệ tham nhũng làm cho méo mó. Đối tượng
tham nhũng đã lợi dụng sự thông thoáng của cơ chế, chính sách để thực hiện hành
vi tham nhũng. Kẻ tham nhũng lợi dụng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát và
các biện pháp khác để dọa dẫm, đòi hối lộ của đối tượng bị thanh tra, kiểm tra. Cơ chế,
chính sách trở thành công cụ để thực hiện những lợi ích cá nhân.
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tham nhũng sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nếu
chúng ta không có biện pháp kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng.
Hiện nay, tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo động.
Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn
mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - cơ quan tiếp xúc với
hoạt động của tổ chức tín dụng xảy ra tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam chi nhánh Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh gây thiệt hại
410 tỉ đồng, vụ án lạm quyền trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Ngân hàng
SeaBank gây thiệt hại 310 tỉ đồng, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm xảy
ra tại Phòng giao dịch Điện Biên Phủ, Chi nhánh Nhà Bè – thành phố Hồ Chí Minh
và Ngân hàng Công thương thành phố Hồ Chí Minh, khởi tố về tội danh lừa đảo,
chiếm đọat tài sản, cho vay nặng lãi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ…Đây chỉ là một số vụ án đã được phanh phui, thiết nghĩ sẽ còn rất
nhiểu kẻ tham nhũng đang lộng hành, ăn cướp của dân mà vẫn chưa đưa ra được
phá luật.
Đó là những con số lớn và đáng lo ngại so với số thu ngân sách hằng năm
của nước ta. Hậu quả của hành vi tham nhũng không chỉ là việc tài sản, lợi ích của
Nhà nước, của tập thể hoặc của cá nhân bị biến thành tài sản riêng của người thực
hiện hành vi tham nhũng, mà nguy hiểm hơn, hành vi tham nhũng còn gây thiệt
hại, gây thất thoát, lãng phí một lượng lớn tài sản của Nhà nước, của tập thể, của
công dân. Ở mức độ thấp hơn, việc một số cán bộ, công chức quan liêu, sách nhiễu
đối với nhân dân trong khi thực thi công vụ, lạm dụng quyền hạn trong khi thi hành
công vụ khiến cho nhân dân phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để có
thể thực hiện được công việc của mình như: xin cấp các loại giấy phép, giấy chứng
nhận, hoặc các loại giấy tờ khác... Nếu xét từng trường hợp một thì giá trị vật chất
bị lãng phí có thể không quá lớn, nhưng nếu tổng hợp những vụ việc diễn ra
thường xuyên, liên tục trong đời sống hằng ngày của nhân dân thì con số bị thất
thoát đã ở mức độ nghiêm trọng.
Một số cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách
không dựa trên yêu cầu mang lại lợi ích cho Nhà nước, cho xã hội mà chỉ nhằm
mưu cầu lợi ích cho cá nhân. Vì lợi ích cá nhân của mình hay của một nhóm người,
một số doanh nghiệp đã đầu tư mua, nhập khẩu những dây chuyền sản xuất, máy
móc, thiết bị, phương tiện, tàu thủy rất lạc hậu, cũ nát mang về không thể sử dụng
được do công nghệ đã quá cũ hoặc tiêu tốn quá nhiều nhiên liệu hoặc thải ra quá
Tác hại về xã hội
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức
xã hội, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trước những lợi ích bất chính
đã hoặc sẽ có được khi thực hiện hành vi tham nhũng, nhiều cán bộ, công chức đã
không giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng. Cán bộ, công
chức khi thực hiện hành vi tham nhũng đã không còn làm việc vì mục đích phục vụ
sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân mà hướng tới việc thu được các lợi ích bất
chính, bất chấp việc vi phạm pháp luật, làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức
nghề nghiệp. Điều đáng báo động là một số cán bộ, công chức coi việc tham nhũng
trở thành bình thường. Đó chính là biểu hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo
đức một cách nghiêm trọng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo
đức, lối sống thể hiện trước hết ở tư tưởng hưởng thụ, quá coi trọng đồng tiền, tư
tưởng vụ lợi, làm giàu bất chính… Những tư tưởng này đang làm suy thoái một bộ
phận cán bộ có chức, có quyền. Xuất phát từ những tâm lí này mà một số cán bộ,
đảng viên đã lợi dụng công việc, nhiệm vụ, quyền hạn được giao để đòi hối lộ,
tham ô tài sản. Đặc biệt là những cán bộ công tác trong các lĩnh vực tài chính, tiền
tệ, cấp phát vốn, thanh tra, kiểm toán cũng như các lĩnh vực có liên quan đến
nguồn vốn ngân sách hay vốn tài trợ, vốn vay ưu đãi…
Hơn thế, tham nhũng còn xâm phạm những giá trị đạo đức truyền thống của dân
tộc, khi người thực hiện hành vi tham nhũng cũng có khi là giáo viên, bác sỹ,
9
những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội – những
người xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội.
Tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính làm tăng trưởng tệ nạn xã hội.
Để công việc không bị cản trở những kẻ phạm pháp tìm cách mua chuộc cán bộ,
nhân viên, thành viên chính quyền. Nếu những viên chức này tham nhũng hành vi
những kẻ phạm pháp được che chở và trở thành “hợp pháp hoá”. Người dân hàng
ngày chứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần họ
10
Năm
Điểm
Xếp hạng
2015
31/100
112/168
2014
31/100
119/175
2013
31/100
116/177
2012
31/100
22 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhà xuất bản Chính trị quóc gia, 1996
tr.76.
23 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhà xuất bản Chính trị quóc gia, 1996,
tr.21.
11
vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi
rộng, tính chất phức tạp”24. Đến Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Tình trạng suy
thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng” 25, và đến Hội nghị
Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ rõ trong “một bộ phận không nhỏ”, đó “có những
đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp…”. Từ đó, Nghị
quyết Trung ương 4 (khoá XI) chỉ ra một số vấn đề cấp bách cần tập trung giải
quyết: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống của một phần không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là
cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”26.
Qua các văn kiện trên có thể thấy mức độ nguy hiểm, tinh vi của nạn tham nhũng
tăng theo từng năm và ngày càng nghiêm trọng hơn, Đảng ta cũng đã nhận thức
được điều đó. Sau đây là một số số liệu để chứng minh cho thực trạng này
Trong Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng trong nhiệm kỳ Đại hộ
X của Đảng nêu:“ Trong 4 năm (2007-2010), toàn ngành Thanh tra triển khai
53.954 cuộc thanh tra, đã kết thúc 48649 cuộc. Qua thanh tra phát hiện nhiều tổ
chức cá nhân có hành vi vi phạm trên các lĩnh vực, kiến nghị xứ lý kỷ luật hành
chính đối với 1300 tập thể, 11022 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra xử lý 439 vụ
việc. Qua thanh tra phát hiện thiếu sót, sai phạm về kinh tế 47364 tỷ đồng,
7028236 USD; kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 18035 tỷ đồng, 993978
USD; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét
làm trái, lợi dụng chức vụ, quyền hạn xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy
Việt Nam (Vinashin), vụ án tham ô tài sản, cố ý làm trái xảy ra tại Cong ty trách
nhiệm hữu hạn sửa chữa tàu biển Vinalines, thuộc tổng công ty hàng hải Việt
Nam..
Với những con số khủng khiếp như vậy, nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay là
đáng báo động, là vấn đề nhức nhối, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nó xảy ra ở nhiều nơi thuộc các cấp, các ngành, các lĩnh vực đời sống xã hội như:
sản xuất kinh doanh; đầu tư xây dựng cơ bản, xuất nhập khẩu; tài chính, ngân hàng;
quản lý, sử dụng đất đai; thực hiện chính sách xã hội; nông nghiệp, phát triển nông
thôn; y tế, giáo dục, Quân đội, Công an, các ngành tư pháp, sử dụng nguồn vốn
ODA ... với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, những thủ đoạn tinh vi. Nó thâm nhập
cả vào một số lĩnh vực từ xưa đến nay luôn được coi trọng, như: Giáo dục, Y tế,
thực hiện chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và có công với nước, xoá đói, giảm
nghèo, cứu trợ đồng bào vùng bị thiên tai.
Chương III Công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
1. Mô hình cơ quan chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, tại điều
73 qui định: “Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng
Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc họat động
phòng chống tham nhũng trong phạm vi cả nước. Giúp việc cho Ban chỉ đạo Trung
ương về phòng chóng tham nhũng có bộ phận thường trực hoạt động chuyên
trách”30. Theo nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH 11, ngày 28-8-2006 cua ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Ban Chỉ đạo Trung ương đã được thành lập và bắt đầu
họat động từ tháng 10-2006, với chức năng “chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc
công tác phòng chống tham nhũng trong phạm vi cả nước”. Thủ tướng chính phủ Trưởng ban Chỉ đạo và Phó Thủ tướng Chính phủ - Phó Trưởng ban Chỉ đạo
29 chuyên mục thời sự- chính trị, Phát hiện hơn 3,1 tỷ đồng tham nhũng trong ba tháng đầu
năm. 20:55' 14/4/2016.
30Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí Luật phòng chống tham nhũng và văn bản hướng dẫn thi hành, nhà xuất
bản Lao động – Xã hội, 2006, tr 177
giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách, giải pháp phòng, chống
tham nhũng. Các quy định nêu trên vừa quy định phương thức phối hợp công tác
giữa các cơ quan trong đấu tranh chống tham nhũng, vừa tạo cơ chế ràng buộc,
giám sát lẫn nhau trong hoạt động của các cơ quan để tránh tình trạng có thể bỏ lọt
vụ việc tham nhũng trong quá trình hoạt động của các cơ quan này.
Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng
được thể hiện trong nhiều văn bản. Ví dụ: Thông tư Liên tịch số 03/2006/TTLT
ngày 23-5-2006 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xử lý
các vụ có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố; Thông tư liên
31 Tư liệu- Văn kiện, Khóa XI, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI. Cập nhật lúc 11h15 - Ngày 26/09/2015
32 Phạm Ngọc Hiển, Phạm Anh Tuấn, 2012, Hỏi – Đáp về Phòng chống tham nhũng, nxb chính trị quốc gia, tr 193195
14
tịch số 2462/2007/TTLT ngày 19-11-2007 của Thanh tra Chính phủ, Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng về chế độ trao đổi, cung cấp thông tin về phòng, chống tham
nhũng...
Hiện nay, nhiệm vụ chống tham nhũng được giao cho nhiều cơ quan khác
nhau, với nguyên tắc toàn bộ các cơ quan nhà nước, toàn thể hệ thống chính trị và
cả xã hội có trách nhiệm tham gia đấu tranh chống tham nhũng. Tuy nhiên, do các
nỗ lực chống tham nhũng của các cơ quan còn mang tính riêng lẻ, thiếu sự thống
nhất và phối hợp nên hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng còn nhiều hạn
chế.
2. Công tác phòng ngừa tham nhũng
Phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam được coi là một hình thức chống tham nhũng
căn bản, nền tảng cho toàn bộ hệ thống các biện pháp chống tham nhũng. Nhận
Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được triển khai thực hiện đồng bộ và khá
toàn diện, đang từng bước phát huy tác dụng
2.1 Công khai , minh bạch trong họat động của cơ quan, tổ chức đơn vị.
Đây là biện pháp quan trọng đầu tiên để ngăn ngừa tham nhũng. Công khai,
minh bạch sẽ tạo điều kiện để người dân cũng như toàn xã hội tham gia giám sát
hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với việc công khai minh bạch trong hoạt
động tại các cơ quan Nhà nước, người dân sẽ dễ dàng nhận biết được các quyền và
nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật cũng
như đòi hỏi cơ quan Nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các
quy định đó. Công khai, minh bạch sẽ làm cho công chức nhà nước có ý thức hơn
trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm
quyền mà pháp luật quy định, bởi mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay
lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý.
Luật phòng, chống tham nhũng đưa ra các nguyên tắc cũng như thể chế hoá để bảo
đảm cho việc thực hiện các nguyên tắc đó. Bên cạnh đó Luật phòng, chống tham
nhũng quy định công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể,
những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng.
- Về nguyên tắc công khai:
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định chính sách, pháp luật và việc
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được tiến hành công khai, minh bạch,
bảo đảm công bằng, dân chủ. Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động
của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy
định của Chính phủ.34
Đây là một bước tiến rất lớn trong quá trình công khai hoá hoạt động của bộ máy
nhà nước. Trước đây, Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 cũng coi công khai
là biện pháp quan trọng nhằm phòng ngừa tham nhũng nhưng chỉ giới hạn trong
phạm vi rất hẹp, đó là thủ tục hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến giải
quyết công việc của công dân.
- Về hình thức công khai:
Để công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật
chương trình mục tiêu quốc gia, về tài chính và ngân sách nhà nước, trang mua
sấm công, quy hoạch cán bộ, quy hoạch dự án, quy hoạch sử dụng đất. Việc công
khai báo cáo hằng năm về phòng, chống tham nhũng đã tạo điều kiện thuận lợi để
người dân, doanh nghiệp, các cơ quan chức năng nắm bắt thông tin về họat động
của các cơ quan nhà nước và giám sát công tác phòng, chống tham nhũng. Các bộ,
ngành địa phương đã bổ sung, hoàn thiện các qui định về quản lý cán bộ nhằm bảo
đảm công khai, minh bạch trong công tác này, nhất là việc bổ nhiệm, tuyển dụng
cán bộ, công chức, giới thiệu cán bộ ứng cử vào các vị trí lãnh đạo, quản lý của các
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, công tác thi tuyển, tiếp nhận cán bộ,
công chức đã được quan tâm chấn chỉnh; công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện,
xử lý các hành vi tham nhũng đã được chú trọng; ban hành quy định về phân cấp
quản lý cán bộ theo hướng đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ
và người đứng đầu các cơ quan, tổ chức.
Tuy nhiên, công khai, dân chủ trên một số mặt họat động còn nhiều hạn chế (như
họat động cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, đầu tư dự án, xây dựng…).
Vẫn còn tình trạng làm dụng các qui định về bí mật Nhà nước để không thực hiện
việc công khai, minh bạch. Qua kiểm tra việc thực hiện các quy định về công khai,
35 Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí Luật phòng chống tham nhũng và văn bản hướng dẫn thi hành, nhà xuất
bản Lao động – Xã hội, 2006, tr 147
36 Văn phòng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, 2012, Ban Chỉ đạo và văn phòng Ban chỉ đạo
Trung ương về phòng chống tham nhũng (2006-2011), nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr120
17
minh bạch tại 23522 cơ quan đơn vị đã phát hiện 1704 cơ quan, đơn vị có vi phạm
qui định về công khai, minh bạch trong hoạt động37
2.2 Xây dựng thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn:
Chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lý luôn liên quan đến việc sử
- Người cho phép thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn - kỹ thuật
thấp hơn mức quy định phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng
thấp hơn; người hưởng lợi từ việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên
37 Phạm Ngọc Hiển, Phạm Anh Tuấn, 2012, Hỏi – Đáp về Phòng chống tham nhũng, nxb chính trị quốc gia,tr 198
18
môn - kỹ thuật thấp hơn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được
hưởng lợi”38
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ và ngành, địa phương đẩy
mạnh việc rà soát cơ chế, chính sách, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định
về chế độ, định mức, tiêu chuẩn trên tất cả các lĩnh vực, nhất là một số lĩnh vực dễ
phát sinh tham nhũng như: đất đai, tài chính, đầu tư xây dựng, quản lý, sử sụng tài
sản công…; đồng thời yêu cầu các bộ ngành, địa phương chú trọng thực hiện công
tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành các qui định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.
Tính đến 2010 trong cả nước đã ban hành mới hơn 16200 văn bản, sửa đổi, bổ
sung, hủy bỏ 5684 văn bản quy phạm pháp luật về chế độ, định mức, tiêu chuẩn
trên các lĩnh vực.39 Các quy định về tiêu chuẩn, định mức cán bộ, công chức, viên
chức nhà nước; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp; tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ; tiêu chuẩn, định mức và
chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự
nghiệp công lập, công ty nhà nước đã được ban hành.
Nhìn chung các cấp, các ngành đã đẩy mạnh rà soát, xây dựng, thực hiện chế độ,
định mức, tiêu chuẩn, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản
nhà nước, góp phần tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tuy nhiên vẫn
còn nhiều chế độ, định mức, tiêu chuẩn chậm được sửa đổi, bổ sung nên không phù
hợp với thực tiễn đời sống xã hội, nhất là các quy định về chỉ tiêu tài chính. Tình
trạng vi phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi. Qua tiến
hành 35753 cuộc kiểm tra việc thực hiện các quy định về chế độ, định mức, tiêu
của cán bộ, công chức, viên chức. Nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức xã
hội – nghề nghiệp đã xây dựng và phát động thực hiện quy tắc đạo đức nghề
nghiệp. Đã có 265 cán bộ, công chức nộp lại quà tặng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị
với tổng giá trị trên 1439 triệu đồng; nhiều cán bộ, công chức kiên quyết không
nhận quà tặng liên quan đến nhiệm vụ, công vụ và không nhận hối lộ. Riêng lực
lượng Công an đã có hơn 57000 lượt cán bộ, chiến sĩ không nhận hối lộ. 41 Tuy đã
đạt một số kết quả nhất định, nhưng thực tế một số cán bộ, công chức trong thực
hiện nhiệm vụ, công vụ vẫn còn nhũng nhiễu, gây khó khăn cho nhân dân, nhất là
tại cấp cơ sở. Qua tổ chức kiểm tra việc thực hiện quy tắc ứng xử của 13204 cơ
quan, tổ chức tại 5 bộ, ngành và 31 tỉnh thành phố trên cả nước cũng đã phát hiện
và xử lý 2510 cán bộ, công chức, viên chức vi phạm.42
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2007/NĐ-CP về chuyển đổi vị trí công
tác đối với cán bộ, công chức, viên chức để các bộ, ngành, địa phương trên cả nước
thực hiện. Đến nay 100% các cơ quan, tổ chức ở trung ương đã hoàn thành việc
xây dựng và ban hành quy định danh mục các vị trí công tác cần phải chuyển đổi.
Theo báo cáo của Chính phủ trong năm 2008 có 10 cán bộ, ngành đã ban hành
danh mục các vị trí công tác phải chuyển đổi và đã chuyển đổi vị trí 768 người,
năm 2009 có thêm 10903 người, ở địa phương chuyển đổi 12483 người, đến năm
2010 có 38/38 bộ, cơ quan, bộ, ngành ban hành danh mục chuyển đổi và đã
chuyển đổi được 20000 người. Các vị trí công tác được chuyển đổi chủ yếu liên
quan đến người dân, doanh nghiệp, có tác dụng phòng ngừa tình trạng lợi dụng các
mối quan hệ công tác để vụ lợi.43
2.4 Minh bạch tài sản, thu nhập
Theo báo cáo của Chính phủ, kết quả kê khai tài sản trong 3 năm (2008-2010) 44
như sau:
41 Văn phòng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, 2012, Ban Chỉ đạo và văn phòng Ban chỉ đạo
Trung ương về phòng chống tham nhũng (2006-2011), nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr122
42 Phạm Ngọc Hiển, Phạm Anh Tuấn, 2012, Hỏi – Đáp về Phòng chống tham nhũng, nxb chính trị quốc gia,tr 200
43 Văn phòng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, 2012, Ban Chỉ đạo và văn phòng Ban chỉ đạo
Trung ương về phòng chống tham nhũng (2006-2011), nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr122-123
nhận thức và hành động của cac cấp, các ngành, của cán bộ, công chức về trách
nhiệm minh bạch tài sản, thu nhập và có tác dụng phòng ngừa tham nhũng nhất
định, giúp cho công tác quản lý cán bộ, đảng viên được chặt chẽ hơn.
2.5 Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng.
Đề cao trách nhiệm người đứng đầu là một yếu tố quan trọng trong quản lý
nhà nước và chống tham nhũng nói riêng.
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã khẳng định lại nguyên tắc: “Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi
tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách” 45. Luật
phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định việc loại trừ trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong những trường hợp bất khả kháng,
những hành vi tham nhũng vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của người lãnh đạo
45 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2007, Sđd, tr. 41
21
quản lý, trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần
thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.Ngoài ra, Luật phòng, chống
tham nhũng năm 2005 quy định nguyên tắc về việc xử lý đối với người đứng đầu
và cá nhân có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước để
xảy ra hành vi tham nhũng thì được thực hiện theo quy định của Luật phòng,
chống tham nhũng năm 2005 này và điều lệ, quy chế của tổ chức đó.
Cụ thể hóa những quy định trên của Luật phòng, chống tham nhũng, ngày 22-92006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là
Nghị định 107)46 quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý,
phụ trách. Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 08/2007/TT-BNV hướng dẫn việc xử
lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng đối với các đơn vị sự
nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp có sử dụng
chính là công việc có tính chất thường xuyên, lâu dài, liên tục với mục tiêu xây
dựng một nền hành chính trong sạch, hiện đại, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực và
thể hiện tính phục vụ. Cải cách hành chính bao gồm rất nhiều nội dung phong phú
và toàn diện, từ cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng cán bộ công
chức, quản lý tài chính công...
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ đề cập đến một số khâu quan trọng
cần lưu ý trong quá trình tiến hành cải cách hành chính để góp phần phòng ngừa
tham nhũng. Trong đó có nội dung Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm
tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy
mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các
cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan
nhà nước; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ
thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị (Điều 56).50
Thực hiện quy định này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP
ngày 7-1-2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoáng X về đẩy
mạnh cải cách hành chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà
nước đặt ra yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đã đẩy mạnh công tác rà soát thủ
tục hành chính để sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ những quy định không còn phù
hợp; công khai các thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa
liên thông” trong việc giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp đến cấp
xã, áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vào quản lý hành chính.
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định có tính chất định hướng
cho các cơ quan nhà nước áp dụng khoa học - công nghệ trong quản lý nhằm giảm
bớt cơ hội và nguy cơ xảy ra tham nhũng, nhất là việc tiếp xúc trực tiếp giữa người
quản lý và người bị quản lý trong những trường hợp không cần thiết trong Điều 57
Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ trong quản lý.
Một giải pháp phòng ngừa tham nhũng quan trọng nữa mà Luật phòng, chống tham
nhũng năm 2005 có quy định đó là vấn đề đổi mới phương thức thanh toán trong
định; đồng thời chuẩn hóa thu gọn từ 10000 bộ thủ tục cấp xã, 700 bộ thủ tục hành
chính cấp huyện xuống còn 63 bộ thủ tục hành chính cấp xã 63 bộ thủ tục hành
chính cấp huyện để thực hiện tại 63 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương” 51. Thủ
tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về việc trả lương
qua tài khoản. “Đến nay cả nước đã có 43953 cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân
sách đã trả lương qua tài khoản, đạt tỷ lệ 54%”52.
3. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng
3.1 Công tác phát hiện tham nhũng
Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời
để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có
hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện
tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có
chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng như sự tham gia tích cực của
công dân.
Thực tiễn cho thấy nếu ngay từ khi phát hiện tham nhũng chúng ta không chú
trọng, không có những biện pháp, phương tiện cũng như các hình thức hữu hiệu để
phát hiện ra các dấu hiệu tham nhũng thì việc tiến hành điều tra, đấu tranh và xử lý
tham nhũng coi như không có hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, việc phát hiện tham
nhũng là một khâu yếu ngay cả từ các qui định của luật pháp đến việc tổ chức bộ
máy, công cụ, thẩm quyền và cơ chế chưa thực sự khoa học và hiệu quả.
51 Phạm Ngọc Hiển, Phạm Anh Tuấn, 2012, Hỏi – Đáp về Phòng chống tham nhũng, nxb chính trị quốc gia,tr 203
52 Phạm Ngọc Hiển, Phạm Anh Tuấn, 2012, Hỏi – Đáp về Phòng chống tham nhũng, nxb chính trị quốc gia,tr 203
24
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định việc phát hiện tham nhũng
thông qua ba hoạt động chủ yếu:
- Công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước;
Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.54
53 Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, luật phòng, chống tham nhũng và văn bản hưỡng dân thi hành; nhà xuất
bản lao động-xã hội, 2006, tr 171
54 Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, luật phòng, chống tham nhũng và văn bản hưỡng dân thi hành; nhà xuất
bản lao động-xã hội, 2006, tr 172
25