Đảng ủy công an trung ương lãnh đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực lượng từ năm 1998 đến năm 2008 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

ĐẢNG ỦY CÔNG AN TRUNG ƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẤU
TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG
LỰC LƯỢNG TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

ĐẢNG ỦY CÔNG AN TRUNG ƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẤU
TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG
LỰC LƯỢNG TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2008

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ MAI HOA

2.1.2. Chủ trương đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực
lượng của Đảng ủy Công an Trung ương ..................................................... 47
2.2. Đảng ủy Công an Trung ương chỉ đạo đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham
nhũng trong lực lượng ......................................................................................... 51
2.2.1. Chỉ đạo triển khai Nghị quyết 02/2003/NQĐU (VP) và kiện toàn bộ máy
thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng.................................................... 51
2.2.2. Chỉ đạo thực hiện công tác phòng ngừa tham nhũng .......................................... 55
2.2.3. Chỉ đạo công tác phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng ....................................... 64
Chương 3. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ...................................................................... 75
3.1. Một số nhận xét cơ bản ...................................................................................................... 75
3.1.1. Về ưu điểm ............................................................................................................ 75


3.1.2. Về hạn chế và nguyên nhân hạn chế ..................................................................... 83
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu .............................................................................................. 89
3.2.1. Về hoạch định chủ trương ..................................................................................... 89
3.2.2. Về chỉ đạo thực hiện ............................................................................................... 95
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 104
PHỤ LỤC

........................................................................................................................... 111


NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

AN
ANTT
BCĐ


: Cảnh sát Kinh tế

CSKV

: Cảnh sát Khu vực

CSTG

: Cảnh sát Trại giam

CSQLHC

: Cảnh sát Quản lý hành chính

HĐH

: Hiện đại hoá

KTĐB

: Kiểm tra đặc biệt

TTATGT

: Trật tự an toàn giao thông

TTKSGT

: Tuần tra kiểm soát giao thông


đạo.
Ở nước ta, sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo Đảng đã và đang từng
bước đạt những thành tựu to lớn trên mọi các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cùng với những kết quả quan trọng, không thể không nhận thấy những bất cập
còn tồn tại. Trong nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường, đã nảy
sinh tệ tham nhũng. Tệ tham nhũng xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực, nhiều ngành,
nhiều cấp và ngày càng diễn ra theo chiều hướng nghiêm trọng, gây ra tác hại
nặng nề về nhiều phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đạo đức… làm
xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tham nhũng đang trở
thành vấn đề nổi cộm, bức xúc, trở thành vấn nạn, mà nếu chúng ta không đấu
tranh kiên quyết để loại bỏ, nó sẽ có khả năng đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Đây là một trong bốn nguy cơ của cách mạng nước ta, thách thức sự tồn tại và
phát triển của đất nước.
Với tính chất nghiêm trọng của tệ tham nhũng, Đảng, Nhà nước Việt
Nam nói chung, Đảng ủy CATW nói riêng đã ban hành nhiều chủ trương, chính
sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là phòng, chống tham
nhũng trong lực lượng CAND, nhằm làm cho lực lượng CAND trở nên trong
sạch, vững mạnh, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Tuy nhiên, có một
thực tế là bên cạnh một số thành tựu đã đạt được trong công tác phòng, chống
tham nhũng ở lực lượng CAND, thì vẫn tồn tại không ít những hạn chế, nhược
điểm, bất cập đòi hỏi phải được tiếp tục nhận diện và giải quyết. Do vậy, nghiên
1


cứu quá trình Đảng ủy CATW lãnh đạo phòng, chống tham nhũng trong lực
lượng CAND từ năm 1998 đến năm 2008; đánh giá những thành công, hạn chế,
đúc rút những kinh nghiệm lịch sử quan trọng cho việc tiếp tục thúc đẩy công
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực lượng lên một bước tiến mới
là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, vừa có tính thời
sự nóng hổi. Đó chính là những lý do cơ bản để tác giả chọn chủ đề cho đề tài

Bộ Nội vụ, Tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng, Viện Khoa học
Công an, 1997; Nguyễn Hữu Tiếp, Đấu tranh chống tham nhũng trong lực
lượng Công an nhân dân của Thanh tra Công an thực trạng và giải pháp, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Đại học An ninh nhân dân, Hà Nội, 1997; Lê Văn Cương,
Tham nhũng trong đấu tranh xây dựng, một số vấn đề phương pháp luận, Tạp
chí Công an nhân dân, số 3/1998; Phan Văn Lai, Các dạng tham nhũng trong
CAND và giải pháp khắc phục, đề tài khoa học cấp Bộ;…
Những công trình này có một đặc điểm chung là khai thác về tham nhũng
ở góc độ của những nhà làm luật pháp. Các công trình này bước đầu đã khái
quát những nét cơ bản nhất về thực trạng tham nhũng, cũng như phòng, chống
tham nhũng trong lực lượng CAND trong quá trình ra đời, phát triển và trưởng
thành. Các tác giả cũng đã rút ra một số kinh nghiệm trong công tác phòng,
chống tham trong của lực lượng CAND dưới góc độ áp dụng luật pháp. Ở các
công trình này, công tác phòng, chống tham nhũng trong lực lượng CAND
những năm 1998 -2008 có được đề cập, tổng kết, song còn khá sơ sài.
2.3. Những công trình của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu khác
Tham nhũng - tệ nạn của mọi tệ nạn, Nxb. Viện Thông tin Khoa học xã
hội, 1997; Đặng Huy Trứ, “Bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người
xưa”, Nxb. Văn hoá thông tin, 2002; Stapenhurst.R, “Kiềm chế tham nhũngHướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch quốc gia”, Sách tham khảo,
Nxb. Chính trị quốc gia, 2002; Đỗ Xuân Tuất, Phạm Quang Hưởng, Nguyễn
Ngọc Hân,“Đảng cộng sản Việt Nam với cuộc đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí”, Nxb. Lao động - Xã hội, 2006…
Nhìn chung, những công trình này đã đề cập trực tiếp, hoặc gián tiếp đến
công cuộc phòng, chống tham nhũng của nước ta ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Đáng chú ý là cuốn sách “Đảng Cộng sản Việt Nam với cuộc đấu tranh chống
tham nhũng, lãng phí” (tập thể tác giả) - một công trình đã khái quát tương đối
3


đầy đủ những chủ trương, chính sách trong công cuộc đấu tranh chống tham



nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện quá trình Đảng ủy CATW lãnh đạo
phòng, chống tham nhũng trong lực lượng CAND từ năm 1998 đến năm 2008,
dưới góc độ lịch sử Đảng như đề tài mà tác giả luận văn đã lựa chọn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những quan điểm, chủ trương và của Đảng ủy CATW đối với
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực lượng CAND những năm
1998-2008; làm rõ vai trò của Đảng ủy CATW trong chỉ đạo tổ chức thực hiện
những chủ trương đó trên thực tế.
- Đúc rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng ủy CATW lãnh đạo
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực lượng CAND những năm
1998-2008.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày khái quát về đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực
lượng CAND những năm 1986-1997.
- Phân tích hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng ủy CATW trong
đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở lực lượng CAND qua hai giai đoạn:
1998-2003; 2003-2008.
- Trình bày một cách hệ thống, khách quan quá trình Đảng ủy CATW chỉ
đạo thực hiện đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực lượng CAND qua
hai giai đoạn: 1998-2003; 2003-2008.
- Đưa ra những đánh giá, nhận xét có căn cứ khoa học về thành tựu,
những vấn đề tồn tại, bất cập của quá trình Đảng ủy CATW lãnh đạo thực hiện
phòng, chống tham nhũng trong lực lượng CAND những năm 1998-2008, từ đó
rút ra một số kinh nghiệm quan trọng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chủ trương, biện pháp mà Đảng

phân tích, luận giải cho những kinh nghiệm được đúc kết ở chương 3.
5.2. Nguồn tài liệu và hướng sử dụng
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về
chống tham nhũng là cơ sở lý luận cho luận văn.

6


- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, thông tư... của Đảng và Nhà
nước Việt Nam về phòng, chống tham nhũng nói chung và phòng, chống tham
nhũng trong lực lượng CAND nói riêng; các báo cáo của Bộ Công an... là những
tài liệu gốc của luận văn.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, sách có liên quan do
các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện Lịch sử Công an nhân dân,
Viện Khoa học Công an, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Thanh tra... là
nguồn tư liệu quan trọng.
- Các tư liệu, sách báo về phòng, chống tham nhũng nói chung và trong
lực lượng CAND nói riêng, về phòng, chống tham nhũng một số nước trên thế
giới... là nguồn tài liệu bổ trợ dùng để làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của
vấn đề nghiên cứu.
- Tài liệu thống kê của Bộ Công an được sử dụng để làm rõ một số nội
dung có liên quan.
6. Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở tập hợp, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học, luận văn có
những đóng góp sau:
- Làm sáng tỏ quan điểm, sự chỉ đạo của Đảng ủy CATW trong quá trình
lãnh đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng từ năm 1998 đến năm 2008.
- Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn về
sự lãnh đạo của Đảng ủy CATW đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng trong lực lượng CAND phục vụ hiện tại.

CSVN phải điều chỉnh và bổ sung đường lối lãnh đạo đất nước cho phù hợp với
tình hình mới. Để quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, từ ngày 15
đến 18-12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành
tại Hà Nội.
Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm, đánh giá tình hình và thực trạng kinh
tế - xã hội của đất nước, chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm trong những năm
1975-1985. Đó là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính
sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện; đồng thời, phân tích
nguyên nhân chủ yếu của những sai lầm, khuyết điểm đó là bệnh chủ quan, duy ý
chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ
quan của Đảng. Đại hội xác định đường lối đổi mới để đưa đất nước thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh”, chỉ rõ: “Đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp
cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn” [24, tr.897].
Quán triệt Nghị quyết Đại hội VI, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 42
(2-1987) đã họp, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác của lực
lượng công an trong 5 năm (1986 - 1990). Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ những
nhiệm vụ cấp thiết: 1). Đổi mới toàn diện các mặt công tác công an, đặc biệt là
đổi mới tổ chức, cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo chỉ huy và phong cách
làm việc; 2). Tăng cường củng cố tổ chức cán bộ; 3). Xây dựng tổ chức công an
9


thực sự tinh gọn, bớt trung gian, giảm đầu mối, hoạt động có hiệu quả [4, tr.45].
Bổ sung cho Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 42, Nghị quyết
Hội nghị công an toàn quốc lần thứ 43 (2-1988) nêu thêm: “Phải khẩn trương
đổi mới tổ chức cán bộ và phong cách làm việc của lực lượng Công an nhân
dân” [23, tr.62]. Hội nghị cũng khẳng định đây là công tác có vị trí đặc biệt
quan trọng, cần hết sức chú trọng và tập trung sức lực cho công tác mang tính
mấu chốt này.

độ. Về an ninh, quốc phòng, Đại hội xác định nhiệm vụ trọng yếu trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn
định chính trị của đất nước, đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động phá
hoại của các thế lực thù địch và các loại tội phạm khác; giữ vững trật tự an toàn
xã hội; bảo vệ vững chắc những thành quả của cách mạng, phục vụ đắc lực công
cuộc đổi mới; đồng thời, xác định nhiệm vụ “xây dựng lực lượng công an nhân
dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là một lực lượng vũ trang xung kích trên
mặt trận bảo vệ an ninh, trật tự” [24, tr.117].
Sau Đại hội VII của Đảng, các Đảng bộ lực lượng CAND đã tổ chức Đại
hội vòng II, nhằm quán triệt những quan điểm, đường lối, nhiệm vụ cách mạng
do Đại hội VII đề ra. Sau Đại hội Đảng bộ các cấp, lực lượng CAND đã có
chuyển biến về mọi mặt, tăng thêm sự nhất trí trong toàn lực lượng. Từ Bộ đến
các địa phương, đơn vị, đã bố trí lại đội ngũ cán bộ chủ chốt, từng bước thực
hiện trẻ hóa cán bộ lãnh đạo chỉ huy các cấp Công an, từng bước ổn định cơ bản
tổ chức và bố trí cán bộ chủ chốt theo mô hình tổ chức mới, khắc phục tình
trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo các Tổng cục, Bộ tư lệnh, Vụ, Cục, Viện,
Trường và Công an các địa phương. Đã tiến hành tăng cường biên chế cho các
lực lượng chiến đấu, giảm biên chế cán bộ ở Bộ để tăng cường cho các địa
phương, đơn vị, giảm đến mức tối đa biên chế đối với các bộ phận hành chính.
Tất cả những biện pháp trên là nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng
CAND trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là một lực lượng vũ trang xung kích
trên mặt trận bảo vệ an ninh, trật tự.
Bước sang năm 1996, tình hình tiếp tục có những chuyển biến nhanh
chóng. Đất nước ta đã vượt qua được một giai đoạn thử thách khó khăn và gay
go, thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, ổn định chính trị - xã
hội được giữ vững, quốc phòng, an ninh được củng cố. Quan hệ đối ngoại phát
triển mạnh mẽ, phá được thế bao vây, cấm vận, mở rộng hợp tác quốc tế và khu
11



12


an ninh, quốc phòng phải không ngừng được xây dựng, củng cố, phát triển, thật
sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là một lực lượng vũ trang xung kích trên
mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, cùng với hội
nhập, mở cửa, phát triển kinh tế thị trường, thì vấn nạn tham nhũng cũng phát
triển theo, trở thành nguy cơ trầm trọng, trực tiếp đối với an ninh quốc gia và
trật tự xã hội. Và tham nhũng sẽ càng trở nên nguy hiểm, nếu nó trở thành căn
bệnh trong lực lượng CAND, làm suy yếu lực lượng CAND từ bên trong.
Những luận giải trên đây cho thấy, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức
tạp, trong điều kiện Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN,
thì nhiệm vụ xây dựng lực lượng CAND trở thành một nhiệm vụ quan trọng,
song cũng hết sức nặng nề. Do đó, bên cạnh việc xây dựng lực lượng vững
mạnh về tổ chức, chính trị - tư tưởng, thì vấn đề phòng, chống tham nhũng trong
lực lượng phải được tiến hành mạnh mẽ, triệt để, làm trong sạch lực lượng, để
lực lượng đủ năng lực, tăng cường sức chiến đấu, thực hiện thành công nhiệm
vụ do Đại hội VIII đề ra là “củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia”.
Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, những năm 1986-1997, Đảng ủy Bộ
Nội vụ luôn chú trọng công tác tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng
trong lực lượng.
1.1.2. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực lượng Công
an nhân dân trước năm 1998
Tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực mang tính lịch sử - xã hội, gắn
liền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Về
tham nhũng, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, nhất là trên bình diện quốc tế.
Do sự khác biệt về văn hóa, điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp lý…
nên hầu như mỗi quốc gia đều có những cách tiếp cận riêng trong việc nhận
diện tham nhũng. Các nước phát triển còn có xu hướng mở rộng khái niệm tham
nhũng đến cả khu vực tư nhân. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, thì “tham

định số 240 Về chống tham nhũng. Quán triệt tinh thần các văn kiện nêu trên,
ngày 26-7-1990, Bộ Nội vụ đã có Chỉ thị số 31/CT, chỉ đạo toàn lực lượng thi
hành, thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong lực lượng, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh đến công tác giáo dục chính trị - tư tưởng đối với cán bộ,
1

Xem thêm Phụ lục số 2

14


chiến sỹ. Chỉ thị số 31/CT cũng nhấn mạnh việc chú ý xây dựng tác phong làm
việc cán bộ, chiến sĩ Công an - một tác phong sâu sát, gần gũi với quần chúng;
gắn nhiệm vụ đó với nhiệm vụ củng cố nội bộ, làm trong sạch nội bộ thông qua
công tác đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, quan liêu, cửa quyền, gây phiền
hà đối với nhân dân. Cùng với việc tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư
tưởng, các đơn vị cũng cần tập trung vào việc bố trí lại đội ngũ cán bộ đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ, từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, thực hiện
giảm biên chế, nhằm tạo ra chất lượng mới trong việc thực hiện nhiệm vụ chính
trị. Bộ Nội vụ cũng phát động nhiều cuộc vận động xây dựng lực lượng CAND
trong sạch, vững mạnh như Phong trào học tập 6 điều Bác Hồ dạy, chống quan
liêu, cửa quyền, tham nhũng trong Công an với mục đích củng cố sự đoàn kết,
thống nhất trong lực lượng, tăng cường mối liên hệ giữa công an và quần chúng,
củng cố, lòng tin của quần chúng đối với lực lượng.
Để giữ nghiêm kỷ luật, Đảng ủy CATW chỉ đạo lãnh đạo Bộ tăng cường
công tác thanh tra trong lực lượng CAND. Lực lượng thanh tra tập trung vào
việc tiếp tục thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh thanh tra năm 1990, Pháp lệnh
khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991. Sau khi có Pháp lệnh thanh tra, ngày
12-10-1990, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra Chỉ thị số 17-CT/BNV Về việc tăng cường
công tác thanh tra trong tình hình mới. Chỉ thị nhận định rằng, “trong lực lượng

tham nhũng phải tiến hành khẩn trương, kiên quyết nhưng không gây ra căng
thẳng, không để kẻ địch và bọn xấu lợi dụng kích động, xuyên tạc” [13, tr.2];
thứ ba, “phải tạo được động lực thúc đẩy các hoạt động đúng pháp luật trong
toàn lực lượng để thực hiện kết quả nhiệm vụ chính trị, lấy lại lòng tin của nhân
dân” [13, tr.2].
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên, ngày 24-7-1993, Bộ Nội vụ đã ban hành
Quyết định số 328/QĐ-BNV Về Thành lập Ban thường trực chống tham nhũng
trong Công an nhân dân trực thuộc Bộ trưởng, nhằm chủ động phòng ngừa, kịp
thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các vi phạm trong lực lượng CAND.
Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 14/NQ/TW, ngày 15-5-1996 của
BCT Về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng và Chỉ thị số 10 CT/TW,
ngày 4-1-1997 của BCT (khóa VIII) Về tăng cường việc tổ chức thực hiện Nghị
quyết 14 của Bộ Chính trị khóa VII, ngày 16-1-1997, Bộ Nội vụ ban hành Chỉ
thị số 03/BNV (V24), Về việc tăng cường đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng
16


trong lực lượng Công an nhân dân với nội dung chính: 1). Đấu tranh chống
tham nhũng, tiêu cực trong CAND là trách nhiệm của toàn thể cán bộ, đảng
viên, chiến sỹ, bằng các biện pháp đồng bộ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng
ủy Bộ Nội vụ; 2). Phải gắn việc chống quan liêu, cửa quyền, chống xa hoa, lãng
phí, gắn thực hành tiết kiệm với việc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng; 3).
Đấu tranh phải kiên quyết, triệt để, nhưng rất thận trọng; 4). Trong đấu tranh
phải lấy xây làm chính, gắn đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng với yêu cầu
đổi mới tổ chức và công tác Công an; 5). Tập trung đấu tranh mạnh với các
hành vi tiêu cực, tham nhũng ở các “địa danh”, “địa chỉ” đã được xác định [14,
tr.2-3].
Có thể thấy rằng, nhiều quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng ủy Bộ
Nội vụ và lãnh đạo Bộ Nội vụ về đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng trong
nội bộ được hình thành ngay từ năm 1990. Các hoạt động tích cực trong đấu

bộ, chiến sỹ, cùng với việc không chịu rèn luyện về phẩm chất, đạo đức của một
số cán bộ, chiến sỹ, do bất cập về chế độ chính sách và do công tác quản lý cán
bộ còn yếu, nên một số cán bộ, chiến sỹ đã bị sa ngã, thoái hóa, biến chất, đặc
biệt là các lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng chống tội phạm, lĩnh vực quản lý
hành chính về an ninh trật tự, lĩnh vực công tác hậu cần, kỹ thuật và quản lý tài
chính, tài sản; lĩnh vực xây dựng lực lượng. Do vậy, những tồn tại này tiếp tục
đặt ra đòi hỏi về việc đẩy mạnh, tăng cường cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng trong thời gian tiếp theo.
1.2. Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện đấu tranh phòng,
chống tham nhũng trong lực lượng của Đảng ủy Công an Trung ương từ
năm 1998 đến năm 2003
1.2.1. Chủ trương đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lực
lượng của Đảng ủy Công an Trung ương
Cuối những năm 80, đầu những năm 90 (XX), CNXH tạm thời lâm vào
thoái trào sau sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, “nhưng điều đó không làm
thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” [26, tr.640 ]. Nguy cơ chiến tranh thế giới bị
đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc
tộc và tôn giáo chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy
ra ở nhiều nơi. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình
độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất; đồng thời, thúc đẩy quá trình
18


chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội.
Bối cảnh quốc tế nói trên có ảnh hưởng lớn đến công cuộc đổi mới, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam.
Đến năm 1998, công cuộc đổi mới đã tiến hành được hơn 10 năm và đạt
được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội; đời sống vật chất của đông đảo nhân dân được cải thiện một




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status