LUẬN văn THẠC sĩ TỈNH ủy sóc TRĂNG LÃNH đạo NHIỆM vụ PHÒNG , CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY - Pdf 40

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1

Trang
3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN TỈNH ỦY SÓC TRĂNG LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

11

1.1

Tỉnh ủy Sóc Trăng và những vấn đề cơ bản về Tỉnh ủy
11

1.2

Sóc Trăng lãnh đạo nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng
Thực trạng và một số kinh nghiệm Tỉnh ủy Sóc Trăng
lãnh đạo nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng

41

Chương 2

PHƯƠNG HƯỚNG YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG CỦA TỈNH ỦY SÓC TRĂNG
HIỆN NAY

Asia Pacific Economic Cooperation
Ban chỉ đạo
Corrupt Practices Investigation Bureau
Chống tham nhũng
Kinh tế thị trường
Kinh tế - xã hội
Liên hợp quốc
Mặt trận Tổ quốc
Phòng, chống tham nhũng
Thanh tra Chính phủ
Thanh tra nhân dân
Tòa án nhân dân
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ủy ban nhân dân
Viện Kiểm sát nhân dân
World Bank

Chữ viết tắt
APEC
BCĐ
CPIB
CTN
KTTT
KTXH
LHQ
MTTQ
PCTN
TTCP
TTND
TAND

nhiệm vụ trọng tâm, trước mắt, một nội dung quan trọng trong công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Công tác PCTN chưa đạt được
yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu
hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”.
Trong phần tổng kết những bài học kinh nghệm lớn, Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm
2011) nêu rõ: “Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn
thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa
3


và của Đảng”. Như vậy, việc Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm là rất quan
trọng, nhưng điều có ý nghĩa lớn hơn là phải biết phòng ngừa, biết khắc phục,
sửa chữa kịp thời những tồn tại, khuyết điểm trong chặng đường nhiệm vụ
sắp tới.
Thời gian qua, các cấp ủy đảng ở Sóc Trăng từ tỉnh đến cơ sở đã quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kịp thời, nghiêm túc các nghị quyết, chủ trương của Đảng,
pháp luật của Nhà nước về PCTN và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Bên cạnh
đó, việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa tham
nhũng ở nhiều đơn vị, địa phương vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao,
chưa đáp ứng yêu cầu của Tỉnh ủy Sóc Trăng.

Từ khi có Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, mặc dù Tỉnh ủy Sóc Trăng
rất chú trọng lãnh đạo nhiệm vụ PCTN, bằng việc ban hành và thực hiện các chương
trình hành động thực hiện các Nghị quyết của Đảng. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh
đạo, nhiệm vụ PCTN thì Tỉnh ủy Sóc Trăng chưa chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm
vụ PCTN. Từ những lý do trên, việc nghiên cứu một cách căn bản và toàn diện những
vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo nhiệm vụ

6


tác PCTN với việc hoàn thiện hệ thống pháp lý, cải cách hành chính và đưa công nghệ
thông tin hiện đại ứng dụng sâu rộng. Như vậy thông qua Luật CTN và Luật sung công
tài sản của Singapore cho thấy, Singapore đã quan tâm và áp dụng nhiều biện pháp
hữu hiệu để PCTN, trong đó, đã thành lập và tăng cường quyền lực tối đa cho CPIB
(có quyền bắt giữ, điều tra, khám xét, yêu cầu cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng
của bất kỳ ai bị những người bị tình nghi tham nhũng; Các hành vi hối lộ, tham nhũng
đều bị trừng phạt ở bất cứ khu vực nào, cấp độ nào, dù tư nhân hay cơ quan chính
phủ, dân thường hay quan chức cao cấp.
Kinh nghiệm PCTN ở Thái Lan: Thái Lan là đất nước trong khu vực Đông Nam
Á, điều kiện tự nhiên, xã hội có những điểm tương đồng với Việt Nam. Trong phát
triển KTXH những năm trước đây, tệ tham nhũng diễn ra ở mọi cấp, mọi nơi, nhất là
các lĩnh vực thương mại, đầu tư, bầu cử và bổ nhiệm cán bộ. Tham nhũng ở Thái Lan
tràn lan và đi sâu vào xã hội đến nỗi công chúng thường cho rằng, muốn được việc phải
hối lộ. Chính phủ Thái Lan đã xác định tệ tham nhũng là nguy cơ lớn thứ ba, sau nguy
cơ suy thoái về kinh tế và đói nghèo. Để PCTN, Thái Lan đã tập trung xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng, đề ra các quy
định pháp lý chặt chẽ cho cuộc đấu tranh CTN. Năm 1997, Thái Lan đã đưa các điều
khoản CTN vào Hiến pháp sửa đổi. Năm 1999, Thái Lan sửa đổi toàn diện pháp luật về
PCTN và ban hành “Luật Cơ bản chống tham nhũng, B.E.2542” với 11 chương và 133
điều. Như vậy, thông qua Luật Cơ bản CTN của Thái Lan cho thấy, Thái Lan đã quan
tâm và áp dụng nhiều biện pháp hữu hiệu để PCTN, trong đó, đã thành lập hệ thống các
cơ quan CTN và trao cho nó các quyền lực lớn; công chức phải kê khai tài sản theo
định kỳ hàng năm và khi có sự thay đổi công tác, kể cả trước khi thôi chức vụ; tăng
cường nâng cao nhân phẩm, giá trị đạo đức, tính liêm khiết của công chức, thường
xuyên thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra công vụ của công chức, kể cả Thủ tướng;
mọi hành vi tham nhũng phải được trừng trị nghiêm; tài sản tham nhũng phải được thu
hồi sung công quỹ. Đồng thời, phát huy vai trò của tổ chức, cá nhân trong xã hội tham

* Đối tượng nghiên cứu
Tỉnh ủy Sóc Trăng lãnh đạo nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng hiện
nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực tienx, thực trạng, kinh nghiệm, yêu cầu, giải
pháp tăng cường của lãnh đạo và chỉ đạo của Tỉnh ủy Sóc Trăng đối với nhiệm
vụ PCTN giai đoạn hiện nay.

- Thời gian khảo sát, nghiên cứu thực tế từ 2006 đến nay.

8


- Phương hướng và các giải pháp đề xuất trong luận văn có giá trị đến
năm 2020.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Hệ thống những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo nhiệm vụ
PCTN.

* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn hoạt động lãnh đạo nhiệm vụ PCTN của tỉnh ủy Sóc Trăng.
Các báo cáo, sơ, tổng kết của các cấp ủy tổ chức trong Đảng bộ tỉnh Sóc
Trăng, các sở, ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện
nhiệm vụ PCTN.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin ,đề tài sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành: phân tích, so sánh,
thống kê, tổng hợp logic - lịch sử; tổng kết thực tiễn.

lưu sông Hậu; diện tích tự nhiên 3.312km 2 với 72 km bờ biển và ba cửa Định
An, Trần Đề, Mỹ Thanh; dân số có hơn 1,3 triệu người, trong đó dân tộc Kinh
chiếm 64,24%, dân tộc Khmer chiếm 30,71%, người Hoa chiếm 5,02%, dân
tộc khác chiếm 0,03%; dân cư nông thôn chiếm khoảng 73% dân số, với
ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, đến nay
Sóc Trăng nổi tiếng cả nước với lễ hội Óoc - Om - bóc, chùa Dơi, bánh pía...;
Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính, gồm 08 huyện, 02 thị xã, 01 thành phố,
với 109 xã, phường, thị trấn. Đảng bộ tỉnh có 16 đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ,
615 tổ chức cơ sở đảng với 36.557 đảng viên; 427 cán bộ thuộc diện Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý.
Cũng như nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng
là mảnh đất trẻ, mới khai phá trong thế kỷ XVII – XVIII. Từ rất sớm Sóc
Trăng đã là một không gian mở ra biển Đông với việc hình thành các thương
cảng như: Đại Ngãi, Bãi Xàu trước đây và Trần Đề hiện tại. Sóc Trăng có bề
dày truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, là tiền đồn trấn giữ vùng
biển Đông của Tổ quốc từ xa xưa cho đến nay.
Với vị trí thuận lợi cho giao thương, đất Sóc Trăng là nơi hội tụ, giao

10


thoa và phát triển của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa. Do tính đặc thù của
các thành phần dân tộc nên đời sống văn hóa tinh thần của người dân Sóc
Trăng rất đa dạng. Nơi đây có nhiều ngôi chùa cổ kính và nổi tiếng, các lễ hội
gắn với văn minh nông nghiệp lúa nước, các điệu múa, làn ca, dàn nhạc... đặc
sắc.
Với đất đai phì nhiêu, tài nguyên biển, sông nước phong phú, từ lâu nay
Sóc Trăng đã phát triển một nền nông nghiệp đa dạng từ trồng lúa, cây ăn trái,
chăn nuôi đến làm muối, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Ngày nay, trong
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Sóc Trăng nhanh chóng xây dựng

đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững ổn
định chính trị, phát triển nhanh và toàn diện”. Đại hội đã bầu đồng chí Võ
Minh Chiến - Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ khoá XI giữ chức Bí
thư Tỉnh uỷ khoá XII (nhiệm kỳ 2010 – 2015); bầu Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh gồm 55 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 15 đồng chí.
Trong 3 ngày, từ ngày 27 đến 29-10-2015, tại Trung tâm Văn hoá và Hội
nghị tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015-2020 với
sự tham dự của 347 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 37.000 đảng viên
trong toàn Đảng bộ. Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân – Uỷ viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thay mặt Bộ Chính
trị, Ban Bí thư đã đến dự và chỉ đạo đại hội. Với tinh thần, trách nhiệm cao,
đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2015-2020
gồm 53 đồng chí. Bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII của Đảng gồm 16 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh khoá mới đã tiến hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm
15 đồng chí. Các đồng chí: Nguyễn Trung Hiếu, Huỳnh Văn Sum và Lâm
Văn Mẫn được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh uỷ; bầu Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh
uỷ gồm 11 đồng chí; đồng chí Trần Văn Chuyện được bầu giữ chức Chủ
nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, nhiệm kỳ 2015-2020.

12


Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, tính đến tháng 10/2015 toàn tỉnh hiện có 616 tổ
chức cơ sở đảng; trong đó có 220 đảng bộ cơ sở, 396 chi bộ cơ sở, 2.604 chi
bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở và đảng uỷ bộ phận; nâng tổng số đảng viên của
toàn Đảng bộ lên 37.208 đồng chí.
* Chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh ủy Sóc Trăng.
Chức năng của Tỉnh uỷ Sóc Trăng:
Chức năng chủ yếu của Tỉnh uỷ Sóc Trăng là lãnh đạo tất cả các hoạt

phương theo yêu cầu tình hình nhiệm vụ.
- Cho ý kiến về quy hoạch tổng thể và kế hoạch dài hạn về phát triển
kinh tế, xã hội; và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
hàng quý, 6 tháng, năm; về việc chia, tách, sáp nhập, thành lập huyện mới.
- Quyết định giới thiệu nhân sự ứng cử chức danh Bí thư, Phó Bí thư
Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và nhân
sự bổ sung Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh (gọi tắt là Tỉnh uỷ viên); tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trước khi Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ xem xét, quyết định giới thiệu để Hội đồng nhân dân tỉnh bầu.
- Biểu quyết quyết định kỷ luật hoặc biểu quyết đề nghị kỷ luật; xem xét
giải quyết việc xin rút tên khỏi Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ viên Uỷ
ban Kiểm tra Tỉnh uỷ và việc khiếu nại kỷ luật Đảng theo quy định của Điều
lệ Đảng.
- Chuẩn bị và triệu tập Đại hội theo nhiệm kỳ; thảo luận và thông qua
các văn kiện trình Đại hội; giới thiệu với Đại hội về nhân sự ứng cử, đề cử để
bầu vào Tỉnh uỷ của các kỳ Đại hội.
- Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ

14


kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên trong Đảng bộ về việc chấp
hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của
Đảng.
- Xem xét báo cáo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc lãnh đạo thực
hiện Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban
Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, của Tỉnh uỷ. Xem xét các báo cáo
định kỳ hoặc bất thường của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ.
- Giữa nhiệm kỳ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội của

tỷ lệ 11,32% (dân tộc Khmer 5 đồng chí, người Hoa 1 đồng chí).
Về chất lượng Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2015-2020: trình
độ chuyên môn: Đại học 45 đồng chí, chiếm tỷ lệ 84,91%; Thạc sỹ 7 đồng
chí, chiếm tỷ lệ 13,21% và Tiến sĩ 1 đồng chí, chiếm tỷ lệ 1,89%. Trình độ lý
luận chính trị: Cao cấp 31 đồng chí, chiếm tỷ lệ 58,49%; Cử nhân 22 đồng
chí, chiếm tỷ lệ 41,51%. Cấp uỷ viên công tác tại cơ quan đảng 14 đồng chí;
chính quyền 14 đồng chí; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể 4 đồng chí; lực
lượng vũ trang 6 đồng chí; khối tư pháp (Sở Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh) 3 đồng chí; các huyện, thị xã, thành phố 12 đồng
chí. Cấp uỷ tái cử 30/53 đồng chí, chiếm tỷ lệ 56,60%; tuổi bình quân của
Ban Chấp hành khoá mới là 51,02 tuổi (cao nhất là 57 tuổi, thấp nhất 36 tuổi).
Đặc điểm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng dưới sự lãnh
đạo của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đảng, kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì, phát
triển ổn định. Sản xuất nông nghiệp phát triển khá; giá trị công nghiệp, hoạt
động thương mại, dịch vụ, xuất khẩu hàng hóa năm sau cao hơn năm trước.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội được giữ vững. Công tác xây dựng hệ thống chính trị tiếp tục có

16


chuyển biến tích cực. Công tác cải cách hành chính, phòng, chống tham
nhũng, lãng phí đạt được kết quả khá. Cán bộ, công chức, viên chức, giữ được
phẩm chất, đạo đức lối sống, chấp hành nghiêm kỷ cương, kỷ luật, pháp luật.
Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà
nước.
Đặc điểm lãnh đạo phòng chống tham nhũng.
Thời gian qua, Tỉnh uỷ luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các
mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng

20/12/2011 của UBND tỉnh Sóc Trăng về triển khai đề án tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước Liên hợp quốc về
chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân giai đoạn
từ 2012 đến 2016, kế hoạch số 01/KH-UBND ngày 10/12/2014 của UBND
tỉnh thực hiện chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng giai đoạn từ nay
– đến năm 2016; kế hoạch số 50/KH-UBND ngày 23/11/2012 của UBND tỉnh
Sóc Trăng về việc thực hiện chương trình hành động số 16-CTr/TU của Tỉnh
ủy về tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và
một số văn bản có liên quan đến công tác phòng chống tham nhũng. Các cấp,
các ngành tuyên truyền, phổ biến kịp thời, đầy đủ những nội dung pháp luật
liên quan đến cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, gắn với việc tiếp tục “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để nâng cao hiểu biết pháp
luật, ý thức tôn trọng pháp luật, góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp
luật về PCTN, giữ gìn An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
tỉnh.
2. Chỉ đạo thanh tra triển khai các cuộc thanh tra theo kế hoạch năm
2015 đã được phê duyệt; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên
ngành. Gắn thanh tra theo kế hoạch với thanh tra đột xuất khi phát hiện có
18


dấu hiệu vi phạm pháp luật; kết thúc cuộc thanh tra đã triển khai phải đảm bảo
đúng thời hạn quy định của pháp luật, chính xác, khách quan; chú trọng phát
hiện hành vi tham nhũng của thanh tra.
3. Chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các địa phương thường xuyên
cử cán bộ trực điện thoại đường dây nóng và tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố
cáo thuộc thẩm quyền để tiến hành thẩm tra, xác minh giải quyết kịp thời,
đúng quy định, giám sát chặt chẽ tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo phát
sinh trên địa bàn tỉnh, tiếp nhận và giải quyết đơn tố cáo của công dân về

cả xã hội nhằm đạt một mục tiêu chung nào đó”; “Lãnh đạo là khả năng huy
động và hướng các nỗ lực của một tập thể vào việc thực hiện một mục tiêu
chung nào đó”....Mặc dù khái niệm “lãnh đạo” được hiểu theo nhiều cách
khác nhau, tuy nhiên giữa các cách hiểu đó vẫn có điểm thống nhất khi cho rằng
lãnh đạo là hoạt động có mục đích của chủ thể tác động đến đối tượng nhằm thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ nhất định.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh đã định nghĩa “lãnh
đạo” và giải thích thế nào là lãnh đạo đúng. Người chỉ rõ: “Lãnh đạo đúng nghĩa
là: Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng...phải tổ chức sự thi hành cho
đúng...; phải tổ chức sự kiểm soát...”.

Từ những phân tích trên đồng thời quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh có thể
đưa ra khái niệm: “Đảng lãnh đạo” là toàn bộ hoạt động chính trị, tư tưởng, tổ chức
của Đảng để xác định đường lối, nghị quyết; tuyên truyền, vận động, tổ chức các lực
lượng trong xã hội thực hiện; kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, nghị quyết của
Đảng.

Kế thừa, vận dụng khái niệm “Đảng lãnh đạo”, căn cứ vào chức năng,
nhiệm vụ của Tỉnh ủy Sóc Trăng và nhiệm vụ PCTN của tỉnh Sóc Trăng có thể
đưa ra khái niệm:

“Tỉnh ủy Sóc Trăng lãnh đạo nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng là
hoạt động có mục đích, có tổ chức của Tỉnh ủy bằng cách quán triệt, cụ thể hóa
đường lối, chính sách PCTN của Đảng và Nhà nước; Xác định nghị quyết, chủ
trương lãnh đạo PCTN trong tỉnh; tuyên truyền, vận động hệ thống chính trị, các

20




Hai là, tổ chức quán triệt, phổ biến chương trình hành động PCTN
của Tỉnh ủy.

21


Sau khi ban hành chương trình hành động về PCT N, các cấp ủy và tổ
chức đảng triển khai quán triệt trước hết trong nội bộ, sau đó lãnh đạo, chỉ đạo
việc quán triệt trong các tổ chức của hệ thống chính trị, các đoàn thể nhân dân.
Đồng thời, lãnh đạo các cơ quan truyền thông tuyên truyền, phổ biến trên các
phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo nhận thức đúng đắn và sâu sắc cho
đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về nội dung
chương trình hành động PCTN của Tỉnh ủy. Từ đó tạo sự thống nhất trong tổ
chức và triển khai thực hiện.

Ba là, lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa chương trình hành động
của

Tỉnh ủy về PCTN thành mục tiêu, chương trình, kế hoạch PCTN của chính quyền và quán triệt, tổ chức thực hiện.

Lãnh đạo Hội đồng nhân dân xây dựng các chương trình hành động,
kế hoạch về PCTN; phê duyệt, thông qua các kế hoạch của UBND; giám
sát các thành viên của UBND; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên
của UBND, Hội đồng nhân dân liên quan đến tham nhũng; giám sát các
hoạt động của UBND; lãnh đạo việc tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu Hội
đồng nhân dân để lắng nghe ý kiến phản ánh của quần chúng nhân dân,
nhất là những phát hiện của quần chúng về các vụ việc tham nhũng.
Lãnh đạo UBND triển khai và thực hiện các nghị quyết của Trung
ương, chương trình hành động của Tỉnh ủy về PCTN, những quy định của


luật Nhà nước về PCTN.

Tỉnh ủy lãnh đạo các cơ quan tuyên truyền tích cực phổ biến quán triệt các
chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước về PCTN để định hướng
dư luận, tạo sự thống nhất cao trong toàn xã hội. Phát động phong trào toàn xã
hội tham gia PCTN, trước hết là sự tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ,
đảng viên.

Sáu là, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
trong sạch, vững mạnh, có trình độ và năng lực để bố trí vào các cơ
quan đảng, chính quyền, đoàn thể; hoàn thiện cơ cấu, tổ chức bộ máy cơ
quan chuyên trách PCTN.
Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy thường xuyên tiến hành rà soát,
sắp xếp, luân chuyển, chuyển đổi, bố trí cán bộ để củng cố, kiện toàn các tổ
chức trong hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan quản lý nhà nước để đảm bảo
yêu cầu, nhiệm vụ PCTN. Thực hiện tinh giản biên chế, chủ động thay thế
những cán bộ không đủ phẩm chất, số cán bộ có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng,

23


lãng phí. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các ngành, các cấp trong
PCTN.
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý; xây
dựng cơ cấu và tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ, công chức làm cơ sở để tuyển
dụng và sắp xếp, bố trí cán bộ. Đổi mới việc tuyển dụng cán bộ, công chức, viên
chức bằng hình thức thi tuyển. Lựa chọn cán bộ có đủ tiêu chuẩn và phẩm chất
đạo đức tốt để bố trí vào các cơ quan chuyên trách PCTN.
Xử lý nghiêm theo pháp luật và kỷ luật đảng đối với những đảng viên là cán


24


các đoàn thể nhân dân sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình hành động
PCTN của Tỉnh ủy.

* Phương thức lãnh đạo nhiệm vụ PCTN của Tỉnh ủy Sóc Trăng
Cùng với xác định nội dung lãnh đạo, vấn đề rất quan trọng được đặt ra là
bằng phương thức nào để thực hiện nội dung đó. Theo Đại từ điển Tiếng Việt,
phương thức là “Phương pháp và hình thức tiến hành”; Phương pháp là
“Cách thức tiến hành để có hiệu quả cao”. Vậy phương thức được hiểu
là hình thức, phương pháp hay cách thức tiến hành công việc để có hiệu
quả cao.
Trong cuốn sách “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” do
Trần Đình Nghiêm chủ biên, phương thức lãnh đạo của Đảng được định
nghĩa như sau:
“Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức, phương pháp,
biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng sử dụng trong
việc hoạch định đường lối để tác động vào các tổ chức, con người trong hệ thống
chính trị và cả xã hội nhằm làm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
được thực hiện có hiệu quả cao nhất trong cuộc sống”.

Tuy nhiên, sau khi đưa ra định nghĩa về phương thức lãnh đạo của
Đảng, tác giả chưa nhấn mạnh việc Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến
lược, lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng, đảng viên và bằng hành động gương
mẫu của đảng viên. Điều này đã được Đảng chỉ rõ trong Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta và trong Văn kiện Hội nghị
đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng.
Tại Đại hội X, phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được bổ sung và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status