LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG ĐẢNG TỈNH ủy sóc TRĂNG LÃNH đạo NHIỆM vụ PHÁT TRIỂN KINH tế BIỂN GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 40

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam nằm trên bờ tây của Biển Đông, một vùng biển lớn thuộc loại
quan trọng nhất của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Vùng biển của nước
ta rộng khoảng 1 triệu Km2, gấp ba lần diện tích đất liền. Vùng biển và ven
biển nước ta có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, quốc phòng, an ninh. Biển của Việt Nam thông với đại dương, có
nhiều thuận lợi để khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên, tái tạo và không tái
tạo, là cơ hội giao thương với thế giới trong quá trình phát triển, hội nhập
quốc tế. Đặc biệt là phát triển hải sản, hàng hải, giao thông vận tải, các ngành
công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại quốc tế. Đảng, Nhà nước ta luôn
đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển. Ngày 2 tháng 9
năm 2007, Hội nghị lần thứ tư BCHTW khoá X đã ban hành Nghị quyết số
09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Đây là văn kiện đặc
biệt quan trọng định hướng phát triển kinh tế biển trong toàn quốc.
Sóc Trăng là tỉnh ven biển. Bờ biển thuộc địa phận tỉnh Sóc Trăng dài
72km, gồm 03 đơn vị hành chính cấp huyện có đường bờ biển: huyện Cù Lao
Dung, huyện Trần Đề, thị xã Vĩnh Châu. Vùng biển và ven biển của Sóc
Trăng chứa đựng nhiều tài nguyên và tiềm năng phát triển kinh tế biển. Phát
triển kinh tế biển đang là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn cần được ưu tiên trong
chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước cũng như Tỉnh uỷ,
chính quyền và nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Nhiệm vụ chính trị trọng tâm của
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Sóc Trăng hiện nay là phát triển kinh
tế-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, củng cố quốc phòng-an
ninh, trong đó phát triển kinh tế biển là lĩnh vực cơ bản, then chốt.
Tỉnh uỷ Sóc Trăng là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng. Lãnh đạo kinh tế biển là nhiệm vụ chính trị trọng
tâm của Tỉnh uỷ Sóc Trăng. Sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ là nhân tố cơ bản, quan
trọng hàng đầu đảm bảo sự định hướng chính trị đúng đắn trong sự nghiệp


Những hạn chế, yếu kém và những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực kinh tế biển


3
cần phải được khẩn trương nghiên cứu, giải quyết, khắc phục, tháo gỡ. Trọng
trách đó, trước hết thuộc về Tỉnh uỷ Sóc Trăng.
Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Tỉnh uỷ Sóc Trăng lãnh đạo nhiệm
vụ phát triển kinh tế biển giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ xây
dựng Đảng và chính quyền Nhà nước. Đây là vấn đề cơ bản, cấp thiết, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ vị thế, vai trò và tiềm lực của kinh tế biển, ngày 06/05/1993 Bộ
Chính trị ra Nghị quyết 03 - NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển
trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng phải đẩy mạnh phát triển kinh
tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia. Ngày
09/2/2007, Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã thông
qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về "Chiến lược phát triển biển Việt Nam đến năm
2020”, phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển,
bảo đảm vững chắc chủ quyền, biển, đảo góp phần quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh. Trong Chiến lược phát triển
kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2020, được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI khẳng định:

Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển
của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo
vệ chủ quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công
nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng
tàu, xi-măng, chế biển thuỷ sản chất lượng cao... Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, tạo
thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa
dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất,

trong giai đoạn hiện nay”. Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, H.2009
- Nguyễn Văn Thắng: “Tỉnh uỷ Bà Rịa Vũng Tàu lãnh đạo kinh tế biển giai
đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, HVCTQG Hồ Chí Minh, H.2012
2.3. Các bài báo khoa học
- Nguyễn Văn Hoàng: “Kinh tế biển phải được phát triển theo hướng
bền vững”, Báo Việt Nam nét. Việt Nam.2008
- “Tổ chức không gian phát triển kinh tế biển”. Thời báo kinh tế Sài
gòn.16 – 4 – 2007


5
- Anh Tú – Văn Lượng: “Phát triển kinh tế biển bền vững kiên quyết
hạn chế tác động xấu đến môi trường”Báo Việt Nam nét. Việt Nam.2008
- Trần Minh Sanh: “Phát triển kinh tế biển” Báo Việt Nam nét. Việt Nam.2006
- Võ Xuân Huyện: “Xây dựng Lý Sơn thành đặc khu kinh tế biển đảo
giàu mạnh và bền vững” Báo Việt Nam nét. Việt Nam.2008
- Kim Toàn: “Đào tạo nhân lực phục vụ kinh tế biển vô cùng cấp bách”,
Báo Việt Nam nét. Việt Nam.4.2008
- Nhóm tác giả: “Vị đắng thuyền thúng; Thay đổi cách làm; đột phá từ
chính sách; Lép vế trước tàu ngoại; xây dựng đóng tàu lớn; mở tàu ra biển”,
phóng sự nhiều kỳ, Báo Tuổi trẻ tháng 6.2011
- Văn phòng Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam: “Chiến lược và
mô hình quản lý biển của một số nước”, trang tin chuyên đề, số 8.2006
- Tạ Quang Ngọc: “Để Việt Nam sớm trở thành quốc gia mạnh về
biển”, Tập chí Cộng sản, tháng 7, 2007
- UBND tỉnh Sóc Trăng, Quyết định 1352/QĐHC-CTUBND, ngày 08/12/2014
phê duyệt Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Trần Đề đến năm 2020.
- Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 423/QĐ-TTg ngày 11/4/2012, phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng đến năm

giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Sóc Trăng đối với nhiệm vụ
phát triển kinh tế biển giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận phát triển kinh tế biển ở tỉnh Sóc
Trăng, nội dung, phương thức, vai trò, nguyên tắc lãnh đạo phát triển kinh tế
biển của tỉnh uỷ Sóc Trăng
- Đánh giá đúng thực trạng, xác định nguyên nhân, khái quát một số
kinh nghiệm lãnh đạo phát triển kinh tế biển của tỉnh uỷ Sóc Trăng
- Dự báo những yếu tố tác động, xác định mục tiêu, phương hướng, yêu
cầu, đề xuất những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh
tế biển của tỉnh uỷ Sóc Trăng giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế biển của tỉnh uỷ Sóc Trăng giai
đoạn hiện nay.


7
* Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực tiễn, mục tiêu, phương hướng, yêu cầu, giải
pháp tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Sóc Trăng đối với việc phát triển
kinh tế biển phù hợp với đặc điểm, điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu thuỷ văn
vùng biển của tỉnh Sóc Trăng.
Đối tượng điều tra khảo sát là Tỉnh uỷ Sóc Trăng, các cơ quan giúp
việc của Tỉnh uỷ, các huyện uỷ, thị uỷ, đảng uỷ xã, phường ven biển, các cấp
uỷ đảng ở các đơn vị kinh tế, kinh doanh, dịch vụ biển; các lĩnh vực kinh tế
biển của tỉnh Sóc Trăng. Thời gian điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn từ
năm 2005 – 2015. Các giải pháp có giá trị ứng dụng đến 2025.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của đề tài

7. Kết cấu của luận văn
Gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.


9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN TỈNH ỦY SÓC
TRĂNG LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
1.1. Nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và những vấn đề cơ bản Tỉnh
uỷ Sóc Trăng lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế biển
1.1.1.Nhiệm vụ phát triển kinh tế biển ở tỉnh Sóc Trăng và chức
năng, nhiệm vụ, vai trò của Tỉnh uỷ Sóc Trăng
* Khái quát tình hình, đặc điểm tỉnh Sóc Trăng
Lược sử hình thành tỉnh Sóc Trăng
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh Ba Xuyên (Do chế độ
Sài Gòn đặt tên được trở lại tên cũ là tỉnh Sóc Trăng có từ thời Pháp thuộc và
cũng là tên gọi do Chính phủ cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam).
Nhưng đến tháng 02 năm 1976, tỉnh Sóc Trăng đã nhập với tỉnh Cần Thơ và
thành phố Cần Thơ để trở thành tỉnh Hậu Giang.
Ngày 26/12/1991 QH Khoá VIII, tại kỳ họp lần thứ 10, cho phép tái
lập lại tỉnh Sóc Trăng trên cơ sở địa bàn cũ trước khi nhập vào Hậu Giang, từ
4/1992 -10/1995. Hiện nay, Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính gồm 01 thành
phố, 02 thị xã và 08 huyện: thành phố Sóc Trăng, thị xã Vĩnh Châu, thị xã
Ngã Năm và các huyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long
Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Trần Đề. Thành phố Sóc Trăng là thủ phủ trung
tâm chính trị – kinh tế – văn hoá xã hội của tỉnh Sóc Trăng. Các đơn vị nằm
ven biển và tiếp giáp với biển là: huyện Cù Lao Dung, huyện Trần Đề và thị
xã Vĩnh Châu, trong đó huyện Trần Đề có cảng biển: cảng Trần Đề.
Về diện tích dân số: Sóc Trăng là một tỉnh nằm cuối hạ lưu sông Hậu

các dân tộc đã diễn ra suốt hàng mấy thế kỉ đến nay. Vì vậy, Sóc Trăng trong
đặc điểm về dân tộc đã có nét đa dạng và phong phú, nhất là sau khi đất nước
độc lập thống nhất, chính sách dân tộc luôn được Đảng và nhà nước các cấp
quan tâm và đầu tư phát triển tích cực.
Tình hình tôn giáo: Đặc biệt Sóc Trăng có đồng bào dân tộc Khmer và
Hoa sinh sống lâu đời cùng với dòng người Kinh theo chúa Nguyễn vào Nam
nên chỉ riêng phật giáo thì đã có 2 hệ phái lớn là Phật giáo Bắc Tông (hay còn
gọi là Phật Giáo Đại Thừa, Phật giáo Nam Tông trong đồng bào khmer cùng
hoạt động và phát triển. Phật giáo Nam Tông hay còn gọi là phật giáo Tiểu


11
Thừa mà đại bộ phận người dân tộc Khmer đều theo đạo này (hiện có 370.537
tín đồ phật tử 92 ngôi chùa và 37 Salatel, số lượng sư sải đang tu học là 1830,
Ban quản trị chùa có 1285 thành viên). Bên cạnh đó, cũng có những Tôn giáo
khác mới du nhập vào Việt Nam như Tin lành hoặc tôn giáo nội sinh trong
vùng đất Nam bộ như: Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Học
Việt Nam. Nên Sóc Trăng hiện nay được xem là địa phương đa tôn giáo.
Lực lượng lao động: Năm 1992, khi vừa tái lập tỉnh. Dân số trong độ tuổi
lao động, toàn tỉnh chỉ có 540.472 người ( chiếm tỷ lệ 52,3% ). Đến cuối năm
2011 lực lượng lao động trong độ tuổi của tỉnh có bước phát triển đáng kể đã đạt
đến 860.160 người (chiếm tỷ lệ 65,79% và tăng 319.688 người so với 1992).
Lực lượng lao động trong độ tuổi là rất lớn chiếm tỷ lệ 65,79%, trong
dân số của tỉnh và hoạt động trong các ngành kinh tế chiếm 87,16% trong
tổng lao động trong độ tuổi của tỉnh.
Tiềm năng lợi thế về KT – XH của tỉnh Sóc Trăng: Ngoài lợi thế kinh tế
nông nghiệp, Sóc Trăng còn tiềm năng phát triển kinh tế hàng hải, giao
thương trong nước, quốc tế bằng đường biển với 3 cửa sông lớn thông ra biển
gồm: Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, có điều kiện xây dựng được cảng biển tiếp
nhận tàu trọng tải lớn 10.000- 50.000 DWT. Phát triển các ngành công nghiệp

gian qua nhưng còn yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
* Quan niệm chung về kinh tế biển
Biển là một kho tàng vô giá cung cấp cho nhân loại một lượng cá vô
tận và nguyên liệu, khoáng sản khổng lồ. Vì vậy, biển là vấn đề quan tâm
hàng đầu đối với những nước có biển, trong đó có nước ta. Với lợi thế này,
các nước có biển đều xây dựng chiến lược kinh tế riêng về biển, được gọi là
kinh tế biển, Những nước có lợi thế về biển nếu biết tận dụng phát triển kinh
tế biển sẽ khai thác được nguồn tài nguyên vô tận từ biển để trở thành cường
quốc về kinh tế.
Trên cơ sở nghiên cứu các nguồn tiềm năng, thế mạnh của biển mà các
quốc gia có biển xác định các lĩnh vực kinh tế biển và có quan niệm cụ thể về
kinh tế biển. Theo quan niệm chung nhất của nhiều quốc gia có biển trên thế
giới thì "Kinh tế biển là một bộ phận cơ bản quan trọng hợp thành nền kinh
tế quốc dân, đó là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên mặt biển, trong


13
lòng biển, dưới đáy biển, ven bờ và trên bờ biển, bao gồm các ngành chủ
yếu: kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); hải sản (đánh bắt,
nuôi trồng, chế biến thuỷ sản); khai thác dầu khí ngoài khơi, dịch vụ du lịch
biển; làm muối; điện gió, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và kinh tế đảo"
Nếu quan niệm theo nghĩa rộng thì kinh tế biển là toàn bộ các hoạt
động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra
trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực
tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển, bao gồm: đóng và sửa chữa tàu biển
(hoạt động này được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải) công nghiệp
chế biến dầu, khí; công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; cung cấp dịch vụ biển;
thông tin liên lạc trên biển; nghiên cứu khoa học – công nghệ biển; điều tra
cơ bản về tài nguyên môi trường biển; đào tạo nhân lực phục vụ phát triển
kinh tế biển. Vì vậy, cũng có thể hiểu kinh tế biển bao gồm các hoạt động

m3/s vào mùa khô giảm xuống chỉ còn 2000 - 3000 m 3/s làm nước mặn xâm
mặn nhập sâu vào khu vực bên trong đất liền (Long Phú, Mỹ Tú), tương tự
vào mùa khô nước mặn xâm nhập qua sông Mỹ Thanh kéo thêm kênh rạch
vào tới vùng phía Tây (Thạnh Trị) của tỉnh gây khó khăn về nguồn nước ngọt
cho sản xuất và sinh hoạt.
- Hệ thống thuỷ văn tại các huyện ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp
của thủy triều biển Đông với chế độ nước bán nhật triều, mặn quanh năm,
truyền vào trong nội đồng theo cửa Định An và cửa Trần Đề. Kết hợp với
dòng chảy sông Hậu, đặc biệt vào mùa lũ, khi lũ cao tràn về kết hợp triều
cường mực nước dâng cao có khả năng tràn vào nội đồng (mực nước lớn nhất
đo được tại trạm Đại Ngãi năm 1997 là 2,19 m), nhờ có hệ thống đê bờ bao
chống lũ bảo vệ sản xuất và dân cư sinh sống trong vùng.
- Thuỷ triều nằm ở cửa sông Hậu với hệ thống sông rạch chằng chịt nên
toàn vùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ bán nhật triều không đều của
biển Đông, với những diễn biến thuỷ văn khá phức tạp. Theo số liệu quan trắc
tại Đại Ngãi, đỉnh triều bình quân cao nhất là 160cm (vào các tháng 10, 11),
thấp nhất là 123cm vào tháng 5, 8. Chân triều cao nhất -24cm (tháng 11), thấp
nhất -103cm (tháng 6), biên độ triều trung bình từ 194 - 220cm.
- Tình hình xâm nhập mặn: Các vùng ven biển của tỉnh Sóc Trăng đều
bị nhiễm mặn thông qua hệ thống sông, kênh rạch trong vùng, tình hình xâm
nhập mặn xảy ra trầm trọng nhất là đối với huyện Cù Lao Dung. Diễn biến
xâm nhập mặn hàng năm tuỳ thuộc vào mùa và lưu lượng dòng chảy cửa sông


17
MêKông. Hiện tại do hiện tượng xâm nhập mặn ảnh hưởng đã gây khó khăn
đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân nhất là ở những tháng mùa
khô (tháng 3 - 5). Đây cũng là dịp để người dân có thể khai thác nguồn nước
mặn nuôi trồng thuỷ sản trong mùa khô.
Tài nguyên biển và tiềm năng lợi thế phát triển kinh tế biến.

thạc sĩ 23; còn lại là trình độ đại học. Trình độ lý luận chính trị 11 cử nhân còn lại
là trình độ cao cấp

Có 16 Đảng bộ trực thuộc: Đảng bộ thành phố Sóc Trăng, thị xã Vĩnh Châu,
thị xã Ngã Năm; các đảng bộ huyện gồm: Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao

Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Trần Đề; Đảng bộ Công an, Đảng bộ
Quân sự, Đảng bộ Biên Phòng; Đảng bộ khối dân chính Đảng, Đảng bộ khối doanh
nghiệp. Tổng số hiện có 611 tổ chức cơ sở đảng bao gồm

218 đảng bộ cơ sở và

393 chi bộ cơ sở. Hiện có 37.000 đảng viên,

* Chức năng của tỉnh uỷ Sóc Trăng
Chức năng chủ yếu của Tỉnh uỷ Sóc Trăng là lãnh đạo tất cả các hoạt
động trên địa bàn tỉnh, đảm bảo cho các hoạt động xây dựng Đảng, Chính quyền,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp của tỉnh
về tổ chức, hoạt động có hiệu quả; đảm bảo cho các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa
bàn tỉnh phát triển theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với các hoạt động nêu trên là sự lãnh đạo toàn
diện, tức là Tỉnh uỷ đề ra Nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch để cụ thể hoá các
chủ trương, đường lối của Đảng, lãnh đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát các tổ
chức Đảng, đảng viên trong việc thực hiện có hiệu quả; đồng thời lãnh đạo thực hiện
việc sơ kết, tổng kết rút ra những kinh nghiệm.

Mỗi tổ chức, mỗi lĩnh vực đời sống xã hội có đặc điểm riêng, mỗi tổ chức
lại có chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với từng tổ


nghị quyết của Tỉnh uỷ trong nhiệm kỳ. Thảo luận, quyết định chương trình
công tác của Tỉnh uỷ hàng quý, sáu tháng, một năm và cả nhiệm kỳ. Chuẩn bị
và ra các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính
trị, các lĩnh vực trong đời sống xã hội và tổ chức thực hiện các nghị quyết ấy.
- Tỉnh uỷ có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội,
các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chẳng hạn như, lãnh đạo Hội đồng nhân dân
(HĐND), uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh triển khai thực hiện các nghị quyết của
Tỉnh uỷ về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; lãnh đạo các ban tham mưu và
các cơ quan chức năng triển khai thực hiện các nghị quyết của Tỉnh uỷ về công tác
xây dựng Đảng, xây dựng các đoàn thể nhân dân; thảo luận, cho ý kiến và phê
duyệt quy hoạch cán bộ của cấp dưới theo phân cấp quản lý cán bộ; tuyên truyền
giáo dục nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước...
- Tỉnh uỷ có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng,
đảng viên trong Đảng bộ tỉnh, trước hết là các tổ chức đảng trực thuộc, (cấp dưới


20
trực tiếp) và những đảng viên, cán bộ thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý.
- Tỉnh uỷ có nhiệm vụ chuẩn bị báo cáo chính trị, nhân sự và tổ chức Đại hội
Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ tới.

* Vị trí, vai trò của Tỉnh uỷ Sóc Trăng
Tỉnh uỷ Sóc Trăng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển mọi mặt của tỉnh mà trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có
kinh tế biển được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Tỉnh uỷ Sóc Trăng là tổ chức thứ hai của Đảng trong hệ thống tổ chức
đảng từ Trung ương đến cơ sở. Tỉnh uỷ lãnh đạo hệ thống tổ chức từ tỉnh đến
cơ sở, có đông đảo đội ngũ đảng viên, hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời

rất cần thiết và cấp bách. Nếu Tỉnh uỷ yếu kém, năng lực lãnh đạo hạn chế,
thậm chí không có chủ trương và giải pháp đúng để giải quyết những vấn đề
bức xúc nẩy sinh trong thực tiễn sẽ xuất hiện những phức tạp, thậm chí trở
thành điểm nóng, đưa lại hậu quả khó lường. Vai trò lãnh đạo của Tỉnh uỷ
không được phát huy tối đa, kinh tế - xã hội của tỉnh sẽ không phát triển, ảnh
hưởng đến sự phát triển chung của đất nước.
1.1.2. Những vấn đề cơ bản

về tỉnh uỷ Sóc Trăng lãnh đạo nhiệm vụ phát triển

kinh tế biển

* Quan niệm Tỉnh uỷ Sóc Trăng lãnh Nhiệm vụ phát triển đạo kinh
tế biển.
Để đưa ra quan niệm về vấn đề này cần làm rõ khái niệm "lãnh đạo",
"Đảng lãnh đạo kinh tế".
Theo nghĩa phổ quát thì "lãnh đạo" có hai nghĩa chính: với tư cách là
động từ, thì "lãnh đạo" nghĩa là dẫn dắt, tổ chức phong trào theo đường lối cụ
thể, ví dụ: lãnh đạo cuộc đấu tranh; với tư cách là danh từ, thì "lãnh đạo" chỉ
các cơ quan lãnh đạo, bao gồm những người có khả năng tổ chức, dẫn dắt
phong trào, ví dụ: chờ lãnh đạo cho ý kiến, Ban lãnh đạo đi vắng cả...
Với nghĩa phố quát nêu trên thì khái niệm "lãnh đạo" với tư cách là
động từ, mới chủ yếu đề cập đến việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ
trương, chưa đề cập đến việc đề ra đường lối, chủ trương, cũng như chưa đề
cập đến các khâu khác như: kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện đường lối,
chủ trương đó.

Từ khái niệm trên ta có thể gắn chủ thể lãnh đạo và đối tượng lãnh đạo,



của địa phương.:
Nghị quyết phải phù hợp với quy luật của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Những vấn đề về kinh tế biển luôn vận động và phát triển theo quy luật khách
quan như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tr anh, quy luật giá trị, v.v... Vì vậy,
yêu cầu đầu tiên đối với nghị quyết của Tỉnh uỷ về kinh tế biển là phải phù hợp với
quy luật phát triển kinh tế - xã hội, nó đảm bảo cho nghị quyết đúng đắn cả hiện tại,


23
tương lai và không trái quy luật.

Nghị quyết về kinh tế biển của Tỉnh uỷ không trái với đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế biển. Đây là một
trong những vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo của tỉnh uỷ. Bởi vì,
đường lối, chủ trương phát triển kinh tế của Đảng được tổ chức thực hiện ở địa
phương và cơ sở, nếu xảy ra sự trái ngược đó sẽ làm vô hiệu hoá đường lối, chủ
trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết của Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế biển phải phù hợp với khả
năng thực tế của địa phương, đảm bảo cho nghị quyết có khả năng thực thi.

Nghị quyết của Tỉnh uỷ về kinh tế biến phải phù hợp với nguyện vọng, lợi
ích chính đáng cả trước mắt và lâu dài của đông đảo nhân dân. Điều này đảm bảo
cho nghị quyết của Tỉnh uỷ được nhân dân đồng tình, tiếp nhận và thực hiện.

Hai là, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy trình lãnh đạo nhiệm vụ phát
triển kinh tế biển của Tỉnh ủy Sóc Trăng.
Để thực hiện tốt điều này cần quán triệt sâu sắc đường lối, nghị quyết
của Đảng, đặc biệt là chiến lược và các nghị quyết về phát triển kinh tế biển
của Đảng, đồng thời phải thu thập và xử lý tốt thông tin. Thông tin phải đầy

biến nghị quyết của Tỉnh uỷ trong nhân dân thông qua các tổ chức đoàn thể và trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
Chỉ đạo chính quyền và cấp uỷ cấp dưới xây dựng chương trình hành động.
Trong đó cần nêu rõ những yêu cầu phải đạt được, những điểm cần chú ý trong
từng công việc và có các văn bản hướng dẫn cụ thể cho cấp dưới và cán bộ thi
hành. Đối với những văn bản liên quan đến công tác quản lý nhà nước cần thể chế
hoá thành những quy định của cơ quan nhà nước; đồng thời phân công cán bộ phụ
trách từng công việc.

Cần chọn những cán bộ có năng lực, sở trường, có kinh nghiệm về từng
công việc giao cho họ phụ trách, định rõ thời gian hoàn thành từng công việc và thực hiện
toàn bộ công việc; giáo dục đội ngũ cán bộ làm kinh tế nêu cao tinh thần trách nhiệm, gắn
phát triển kinh tế biển với bảo vệ an ninh quốc phòng trên biển.

Ba là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị
quyết về kinh tế biên của Tỉnh uỷ

Đây là vấn đề rất quan trọng đảm bảo cho nghị quyết của Tỉnh uỷ được
thực hiện có hiệu quả. Đảng ta đã khẳng định: "Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi
như không có lãnh đạo" [23, tr.123]. Công tác kiểm tra được tiến hành trong suốt
quá trình từ khâu chuẩn bị, ra nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết. Tỉnh uỷ cần
kiểm tra cấp uỷ cấp dưới về lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện nghị
quyết, nhất là kiểm tra cấp uỷ huyện, thành phố, thị xà về việc chỉ đạo, hướng dẫn


25
cơ sở thực hiện nghị quyết.

Một vấn đề không thể thiếu trong quá trình lãnh đạo của Tỉnh uỷ là
khâu sơ kết, tổng kết quá trình thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ. Khi kết thúc


- Tỉnh uỷ lãnh đạo kinh tế biển vừa thực hiện nhiệm vụ của Trung ương trên địa
bàn tỉnh, vừa phát triển kinh tế địa phương, đồng thời thông qua Huyện uỷ, Đảng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status