DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban chấp hành
BCH
Báo cáo viên
BCV
Bộ chính trị
BCT
Chính trị Quốc gia
CTQG
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Nhà xuất bản
Nxb
Phó giáo sư
lượng quán triệt nghị quyết cho đảng viên ở Đảng bộ
1.2.
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Thực trạng chất lượng và một số kinh nghiệm nâng
11
cao chất lượng quán triệt nghị quyết cho đảng viên ở
Chương
Đảng bộ huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN
2:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUÁN TRIỆT
34
NGHỊ QUYẾT CHO ĐẢNG VIÊN Ở ĐẢNG
BỘ HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1.
HIỆN NAY
Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng
53
quán triệt nghị quyết cho đảng viên ở Đảng bộ huyện
Đảng được xây dựng trên cơ sở yêu cầu phát triển của cách mạng trong mỗi hoàn
cảnh lịch sử cụ thể và trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định giá trị to lớn các nghị
quyết của Đảng.
Ba Vì là huyện nằm ở phía Tây của thành phố Hà Nội, diện tích tự nhiên là
425 km2, lớn nhất Thủ đô Hà Nội, với dân số gần 27 vạn người. Đảng bộ huyện
Ba Vì là một Đảng bộ lớn trực thuộc Thành ủy Hà Nội, với hơn 13.000 đảng viên,
có vai trò rất quan trọng trong xây dựng Đảng bộ thành phố Hà Nội trong sạch
vững mạnh. Để xây dựng Đảng bộ huyện Ba Vì trong sạch vững mạnh, phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh của huyện lên một tầm cao mới,
một trong những vấn đề hết sức quan trọng là phải làm tốt công tác quán triệt nghị
quyết cho đảng viên trong Đảng bộ.
Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, cấp ủy và chính quyền các cấp ở
huyện Ba Vì đã thường xuyên quan tâm chăm lo đến công tác quán triệt nghị
quyết cho đảng viên.
Công tác tuyên truyền, quán triệt nghị quyết ở Đảng bộ huyện Ba Vì đã đạt
được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết
điểm. Nội dung tuyên truyền, quán triệt chưa theo kịp với tình hình mới; hình thức
3
tuyên truyền, quán triệt còn thiếu sức thuyết phục, chất lượng tuyên truyền, quán
triệt còn thấp. Việc tuyên truyền, phổ biến các nghị quyết chưa được tổ chức tốt
và chưa tìm được cách làm hay. Số lượng lớp học được tổ chức cũng như số lượt
đảng viên tham gia học tập nghị quyết tuy lớn, nhưng sự chuyển biến về nhận
thức, tư tưởng còn chậm. Trong quá trình thực hiện, một số đảng viên và cấp ủy
chưa quan tâm đầy đủ đến nghị quyết của Đảng, không căn cứ vào nghị quyết
để hành động và kiểm tra công việc của mình; còn làm những việc không đúng
với nghị quyết. Công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy các xã, thị trấn, các
đảng bộ trực thuộc chưa có sự đổi mới, vẫn làm theo nếp cũ, còn nhiều bất cập,
hội nghị BCH Trung ương. Trong Báo cáo tổng hợp, các tác giả đã nghiên cứu hệ
thống ba mảng vấn đề lớn: (1) Về quá trình xây dựng nghị quyết của BCH Trung
ương Đảng; (2) Về quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết Trung ương, trong đó có
vấn đề thể chế hoá nghị quyết thành luật và các văn bản pháp quy khác; (3) Về
những giải pháp chủ yếu bảo đảm nâng cao chất lượng xây dựng và hiệu quả tổ
chức thực hiện nghị quyết của Trung ương trong giai đoạn mới của cách mạng
nước ta. Đề tài đã đưa ra nhiều kiến nghị trong đó đáng lưu ý là ba quy trình: Quy
trình soạn thảo và thông qua nghị quyết tại hội nghị BCH Trung ương Đảng, gồm
10 bước; Quy trình thể chế hoá các nghị quyết BCH Trung ương Đảng thành luật,
pháp lệnh, gồm 10 bước; Quy trình tổ chức thực hiện các nghị quyết BCH Trung
ương Đảng, cũng gồm 10 bước.
TS. Hoàng Quốc Bảo (2006), Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng
Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội. Thông qua nội dung cuốn sách, tác giả muốn
đóng góp thêm ý kiến của mình vào việc tìm hiểu nguồn gốc và nêu lên những đặc
trưng cơ bản của phương pháp tuyên truyển Hồ Chí Minh; nghiên cứu thực trạng
phương pháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng
của Đảng. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao, đổi mới
phương pháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ tư tưởng theo phương pháp tuyên
truyền Hồ Chí Minh.
PGS. TS Ngô Văn Thạo (Chủ biên), (2008), Phương pháp giảng dạy lý luận
chính trị (Chương trình bồi dưỡng chuyên đề dành cho giảng viên giảng dạy các
chương trình lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện), Nxb
5
Lao động Xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách các tác giả đã khái quát chung về lý
luận chính trị và giáo dục lý luận chính trị; một số vấn đề tâm lý và giáo dục học
trong giảng dạy học lý luận chính trị, phẩm chất nghề nghiệp, nghệ thuật diễn
giảng, kiểm tra, đánh giá trong dạy học lý luận chính trị.
PGS. TS Phạm Huy Kỳ (2010), Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo
Từ đó luận văn đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác tư tưởng ở Đảng bộ thành phố Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
ThS. Trương Minh Tuấn (2010), “Không ngừng đổi mới phương pháp
công tác, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng ở Tây
Nguyên hiện nay”, Tạp chí Báo cáo viên, số (10). Bài báo nói lên thực trạng
kinh tế - xã hội và tình hình tư tưởng, chỉ ra những đặc thù của công tác tư
tưởng ở địa bàn Tây Nguyên. Do vậy việc đổi mới phương pháp công tác tư
tưởng ở Tây Nguyên phải tập trung vào: Đa dạng hóa, hiện đại hóa hình thức,
phương pháp công tác tư tưởng; tăng cường hình thức đối thoại dân chủ trong
công tác tư tưởng. Đổi mới công tác tư tưởng ở Tây Nguyên phải thường
xuyên tổng kết thực tiễn, rút ra những nhận định, đánh giá về kết quả, qua đó
giúp cho cấp ủy đảng nâng cao nhận thức, phát triển những vấn đề lý luận nói
chung và về công tác tư tưởng nói riêng.
TS. Lương Ngọc Vĩnh (2013) “Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác tư
tưởng ở cơ sở”, Tạp chí Tuyên giáo, số (8). Bài báo khẳng định nâng cao chất
lượng công tác tư tưởng ở cơ sở đảng là một đòi hỏi bức thiết trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đưa ra 5 nhóm tiêu chí đánh giá
chất lượng công tác tư tưởng ở cơ sở: Nhận thức và trách nhiệm của của cấp
ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp về công tác tư tưởng; chủ trương, biện
pháp, chương trình, kế hoạch tiến hành công tác tư tưởng; phẩm chất chính
trị, đạo đức, trình độ, năng lực chỉ đạo, tổ chức các hoạt động tư tưởng của
cấp uỷ và cơ quan tuyên giáo; sự chăm lo xây dựng, kiện toàn bộ máy công
tác tư tưởng ở cơ sở; khả năng của cơ quan tham mưu và cấp uỷ trong giải
7
quyết những vấn đề tư tưởng nảy sinh, dự báo đúng tình hình và đấu tranh có
hiệu quả trên mặt trận tư tưởng.
PGS. TS Phạm Văn Linh (2014), “Công tác tư tưởng lý luận của
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng quán triệt nghị quyết cho đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng quán triệt nghị quyết lãnh
đạo của Đảng (bao gồm nghị quyết Đại hội toàn quốc, nghị quyết của BCH
Trung ương, BCT, của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, của Đảng bộ huyện Ba Vì)
cho đối tượng là đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì hiện nay và chủ yếu nghiên
cứu hình thức học tập, quán triệt nghị quyết.
Tiến hành điều tra, khảo sát tại một số đảng bộ xã, thị trấn và một số chi
bộ, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy huyện Ba Vì.
Những tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát, đánh giá chủ yếu từ Đại hội
Đảng bộ huyện Ba Vì lần thứ XXI (2010) đến nay. Những yêu cầu và giải pháp
ứng dụng có giá trị đến năm 2025.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng về công tác tư tưởng. Đồng thời kế
thừa, tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đầu
ngành, các công trình khoa học có liên quan.
* Cơ sở thực tiễn
Hoạt động quán triệt nghị quyết, chất lượng quán triệt nghị quyết cho
đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì từ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI
(2010) đến nay; các báo cáo tổng kết, các số liệu điều tra khảo sát thực tế tại
một số đảng bộ xã, thị trấn và một số chi bộ, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy
huyện Ba Vì.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
Một số nét về huyện Ba Vì
Ba Vì là huyện nằm phía Tây của thành phố Hà Nội, phía Đông giáp thị xã
Sơn Tây, phía đông nam giáp huyện Thạch Thất, phía Nam giáp với huyện Lương
Sơn và Kỳ Sơn của tỉnh Hòa Bình, phía Bắc giáp với tỉnh Phú Thọ. Ba Vì là một
huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên 425 km2, lớn nhất Thủ đô Hà Nội. Trên địa
bàn có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện.
Ba Vì có số dân số gần 27 vạn người, gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao
cùng chung sống. Huyện có 31 xã, thị trấn (30 xã, 01 thị trấn), trong đó có 07 xã
miền núi, các xã miền núi đều có đồng bào dân tộc; 01 xã giữa bãi nổi sông Hồng;
xã xa trung tâm huyện nhất là xã miền núi Khánh Thượng (cách 40 km).
Ba Vì có nhiều thế mạnh để phát triển các loại hình du lịch nhờ lợi thế tự
nhiên. Ngoài ra ở đây còn có một bề dày văn hoá mang đậm nét Việt cổ. Quanh
núi Ba Vì, hồ Suối Hai đã hình thành các khu du lịch nổi tiếng được du khách
biết đến như: Vườn Quốc gia Ba Vì, Khoang Xanh - Suối Tiên, Ao Vua, Thác
Đa, Thiên Sơn - Thác Ngà, Đầm Long - Bằng Tạ, đồi cò Ngọc Nhị, Tản Đà
Resort, nước khoáng nóng Thuần Mỹ… Có thể nói, vùng đất thiêng sông núi đã
mang lại cho Ba Vì tiềm năng to lớn. Trong tương lai, du lịch sẽ trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần xây
dựng hình ảnh huyện Ba Vì và thủ đô Hà Nội văn minh hiện đại, đậm đà nét
truyền thống dân tộc.
11
Mặc dù thuộc địa phận của thành phố Hà Nội, nhưng huyện Ba Vì là địa
bàn còn nhiều khó khăn, xa trung tâm thành phố, có nhiều thành phần dân cư, dân
tộc cùng sinh sống. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quán triệt
Nghị quyết của Đảng cho đảng viên; đặc biệt ở những xã miền núi điều kiện kinh
tế còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quán triệt nghị quyết
Đảng còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
2013, nhân kỷ niệm 45 năm thành lập huyện, huyện Ba Vì đã được Nhà nước trao
tặng Huân chương độc lập hạng ba. Phát huy truyền thống anh hùng, ngày nay
Đảng bộ và nhân dân huyện Ba Vì đã ra sức thực hiện công cuộc đổi mới, tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Đảng bộ huyện Ba Vì gồm: BCH Đảng bộ
huyện Ba Vì (gọi tắt là Huyện ủy Ba Vì), Ban thường vụ Huyện ủy và tập thể
Thường trực Huyện ủy. Giúp việc cho Huyện ủy có các cơ quan chức năng: Văn
phòng Huyện ủy, Ban tuyên giáo, Ban tổ chức, Ban dân vận và Ủy ban kiểm tra
Huyện ủy (xem phụ lục 1).
Trực thuộc Huyện ủy Ba Vì có các tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức cơ sở
đảng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống chính
trị huyện, lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn thực hiện tốt nhiệm
vụ chính trị; phát triển kinh tế - xã hội; củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng
Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở. Tính đến tháng 12 năm 2014 toàn huyện có 85
tổ chức cơ cở đảng (trong đó 31 đảng bộ xã, thị trấn; 14 đảng bộ và 40 chi bộ khối
cơ quan, doanh nghiệp); với 523 chi bộ.
Trong 85 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Huyện ủy: Năm 2014, có 84/85 cơ
sở được đánh giá xếp loại (01 cơ sở mới thành lập nên không đánh giá xếp loại).
Số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh là 38 đơn vị, chiếm tỷ lệ 45,23%;
tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ là 38 đơn vị, chiếm tỷ lệ 45,23%; tổ
chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ là 8 đơn vị, chiếm tỷ lệ 9,54%. Kết quả
đánh giá phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ huyện từ
năm 2010 được thể hiện qua phụ lục 2.
Đối với 523 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở: Năm 2014, có 518/523
chi bộ được đánh giá xếp loại (05 chi bộ mới thành lập không đánh giá
xếp loại). Số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh là 360 chi bộ, chiếm tỷ lệ
69,5%; chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 137 chi bộ, chiếm tỷ lệ 26,4%;
chi bộ hoàn thành nhiệm vụ là 21 chi bộ, chiếm tỷ lệ 4,1%. Kết quả đánh
13
14
* Nghị quyết của Đảng
“Nghị quyết” là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong các văn bản, văn kiện,
tài liệu của Đảng và rất nhiều nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng thuật ngữ
này.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Việt Nam, Nhà xuất
bản Đà Nẵng, xuất bản năm 2004, Nghị quyết là: “Quyết định đã được chính thức
thông qua ở hội nghị, sau khi vấn đề đã được tập thể thảo luận. Hội nghị thông
qua nghị quyết, chấp hành nghị quyết” [69, tr.678].
Khái niệm nghị quyết của Đảng
Nghị quyết của Đảng là một văn bản đặc biệt, rất quan trọng, nó liên quan
đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lượng xã hội.
Theo Quyết định số 31-QĐ/TW ngày 01/10/1997 của BCT, khóa VIII, Ban
hành Quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành về thể thức văn bản của Đảng,
thì “Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở Đại hội, hội
nghị cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ
trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụ thể” [12, tr.12].
Nghị quyết của Đảng có thể được phân ra làm hai loại: nghị quyết tổng
quan và nghị quyết chuyên đề.
Nghị quyết tổng quan là loại nghị quyết thông qua một cách tổng thể các
vấn đề chung: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH;
nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng như: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(1986), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII (1996), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X (2006), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011).
Nghị quyết chuyên đề là nghị quyết về một vấn đề cụ thể về chiến lược, chủ
trương, chính sách lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đối nội, đối ngoại, an ninh,
công việc cụ thể.
* Quán triệt nghị quyết cho đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì
Quan niệm quán triệt nghị quyết cho đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì
16
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2013: “Quán triệt là thông suốt, hiểu thấu đáo và
tuân thủ đầy đủ trong hoạt động” [73, tr.1289].
Quán triệt Nghị quyết của Đảng cho đảng viên là một nhiệm vụ rất quan
trọng của tất cả các Đảng cầm quyền. Đối với nước ta, quán triệt nghị quyết của
Đảng được Đảng ta thực hiện từ khi Đảng ra đời.
Qua quá trình thực tiễn, quán triệt nghị quyết của Đảng đã đóng vai trò to
lớn trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Song, từ trước đến nay, quán triệt nghị
quyết của Đảng thường được hiểu và quan niệm một cách chung chung như:
“Nghiên cứu, học tập nghị quyết và tổ chức thực hiện”, hay “Nghiên cứu, quán
triệt nghị quyết và đưa nghị quyết vào cuộc sống”, chưa có một khái niệm cụ thể
về quán triệt nghị quyết của Đảng. Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi quan
niệm về quán triệt nghị quyết của Đảng như sau:
Quán triệt nghị quyết của Đảng cho đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội là hoạt động truyền bá của các cấp ủy, cơ quan chức năng về
nghị quyết của Đảng cho đảng viên ở Đảng bộ huyện Ba Vì, nhằm làm cho mọi
đảng viên có nhận thức đúng và thống nhất với những quan điểm của Đảng,
trên cơ sở đó góp phần hình thành, củng cố, phát triển thế giới quan, phương
pháp luận, bản lĩnh chính trị và tính tích cực, sáng tạo của họ, giúp cho đội ngũ
đảng viên thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trên
cương vị, chức trách được giao.
Quan niệm đó chỉ ra:
Mục đích của hoạt động quán triệt nghị quyết của Đảng cho đảng viên ở
thể, chuyên đề cụ thể;
Ba là, thông tin tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và các yếu tố ảnh
hưởng đến việc triển khai, thực hiện nghị quyết;
Bốn là, các nhiệm vụ, giải pháp, định hướng để hiện thực hóa nghị quyết,
đưa nghị quyết vào cuộc sống....
Hình thức, phương pháp của hoạt động quán triệt nghị quyết của Đảng:
Hình thức, phương pháp phải phong phú, đa dạng để thu hút sự chú ý của đối
tượng nhưng đồng thời phải cụ thể, không phức tạp hóa vấn đề để đối tượng dễ
nắm bắt và thực hiện.
Thông qua hoạt động giảng dạy của hệ thống trường lớp; tổ chức các lớp
bồi dưỡng chính trị...; tổ chức hội nghị học tập, quán triệt nghị quyết; phổ biến,
18
quán triệt thông qua sinh hoạt của các tổ chức đảng và các tổ chức mà đảng viên
tham gia; ban hành sách, ấn phẩm thông tin chuyên đề, trang thông tin nội bộ…
để phổ biến nghị quyết; phổ biến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng:
truyền hình, hệ thống phát thanh cơ sở, báo, tạp chí…; tổ chức các cuộc thi tìm
hiểu về nghị quyết qua đó quán triệt nghị quyết.
Phương tiện của hoạt động quán triệt nghị quyết của Đảng: Phương tiện
phải ngày càng hiện đại hóa để chuyển tải một cách nhanh nhất tinh thần của nghị
quyết đến đối tượng. Đặc biệt, sách, tài liệu liên quan đến nghị quyết phải cung
cấp đầy đủ.
Tuyên truyền miệng của đội ngũ BCV, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư
luận xã hội; hệ thống trường, lớp giáo dục lý luận chính trị; sinh hoạt của các tổ
chức đảng và các tổ chức mà đảng viên tham gia; các phương tiện thông tin đại
chúng; các thiết chế văn hóa, văn nghệ.
Đặc điểm của công tác quán triệt nghị quyết của Đảng cho đảng viên
huyện Ba Vì
Minh, xây dựng Đảng bộ huyện vững mạnh, diện mạo nông thôn, miền núi ngày
càng khởi sắc, đời sống nông dân được nâng cao.
Với bề dày truyền thống cách mạng trong kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ba Vì đã vinh
dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân ngày 20/8/1978; 19/31 xã, thị trấn và lực lượng công an huyện
được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 430
bà mẹ được phong tặng danh hiệu "Mẹ Việt Nam Anh hùng"; 29.400 huân, huy
chương các hạng được trao tặng...
Chính bề dày truyền thống cách mạng trong kháng chiến, xây dựng chủ
nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tích trong công cuộc đổi mới của Đảng bộ
và nhân dân các dân tộc huyện Ba Vì là tiền đề thuận lợi, là một đặc điểm cơ bản
trong công tác quán triệt nghị quyết của Đảng cho đảng viên trong toàn huyện.
Hai là, công tác quán triệt được tiến hành trên địa bàn một huyện miền núi
rất rộng (425 km2), lớn nhất Thủ đô Hà Nội, kinh tế còn nhiều khó khăn, xa trung
tâm thành phố, có nhiều dân tộc sinh sống:
Mặc dù thuộc địa phận của thành phố Hà Nội, nhưng những đặc điểm về tự
nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Vì ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quán
triệt nghị quyết Đảng cho đảng viên. Địa bàn rộng, chia cắt với nhiều địa hình, sự
20
phát triển không đồng đều giữa các xã dẫn đến không ít khó khăn trong triển khai
quán triệt nghị quyết Đảng cho đảng viên, đặc biệt đối với những xã xa trung tâm,
điều kiện đi lại còn khó khăn, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quán triệt nghị
quyết còn thiếu thốn.
Ba là, Đảng bộ huyện Ba Vì có nhiều loại hình tổ chức cơ sở
đảng; đội ngũ đảng viên đông, bao gồm nhiều đối tượng, độ
tuổi, sự rèn luyện, trải nghiệm qua thực tiễn, trình độ chuyên
môn, trình độ lý luận chính trị ... không đều:
phó các ban, ngành và 16 đồng chí là Bí thư Đảng ủy cơ sở.
Tổng số đội ngũ BCV, tuyên truyền viên cơ sở trên địa bàn huyện có 624
đồng chí (BCV là 31 đồng chí, tuyên truyền viên là 593 đồng chí). Về trình độ
chuyên môn: 115/624 đồng chí có trình độ Đại học (18,4%), 107/624 đồng chí có
trình độ Cao đẳng (17,1%), 142/624 (22,8%) đồng chí có trình độ Trung cấp; Về
lý luận chính trị: 16/624 (2,6%) đồng chí có trình độ Cao cấp lý luận, 186/624
(29,8%) đồng chí có trình độ Trung cấp lý luận, 59/624 (9,5%) đồng chí có trình
độ Sơ cấp lý luận [10, tr.16].
Với sự tổ chức hoạt động toàn diện trên địa bàn huyện, lực lượng đội ngũ
BCV, tuyên truyền viên đã thực sự phát huy vai trò của mình trong việc triển khai
các nghị quyết của Trung ương, của Thành phố, của Huyện ủy; góp phần nâng
cao chất lượng quán triệt nghị quyết trên địa bàn. Đặc biệt đội ngũ BCV, tuyên
truyền viên đông đảo sẽ đảm bảo cho công tác triển khai và phát động các phong
trào, các cuộc vận động, các chuyên đề học tập… cổ vũ, thúc đẩy các tầng lớp
nhân dân trong huyện tích cực, hăng hái tham gia giải quyết những nhiệm vụ
chính trị của Trung ương và địa phương. Tuy nhiên trình độ, kiến thức chuyên
môn, kỹ năng của đội ngũ BCV, tuyên truyền viên huyện Ba Vì còn nhiều hạn chế
nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quán triệt nghị quyết của Đảng cho
đảng viên.
Vai trò công tác quán triệt nghị quyết
22
Một là, góp phần đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước vào cuộc sống:
Nghị quyết các cấp của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố hàng
đầu quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng cả nước cũng như từng địa
phương. Tùy theo phạm vi và tính chất, nghị quyết của Đảng xác định rõ mục
tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp của mỗi thời kỳ cách mạng và trên từng
Hai là, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ
chức cơ sở đảng:
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ra và rèn
luyện, là người tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta liên
tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại từ ngày Đảng ra đời đến nay. Năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đã được lịch sử khẳng định là kết quả của quá
trình không ngừng xây dựng, củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh là thiết thực,
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, xây dựng Đảng càng có ý nghĩa quan
trọng và cấp thiết. Đảng ta đã xác định: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm,
xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, xây dựng và phát triển văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội. Chỉ có như vậy mới bảo đảm hoàn thành thắng lợi hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Góp phần khẳng định công tác “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”,
chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của việc quán triệt nghị quyết Đảng
trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bởi vì, quán triệt
nghị quyết trong xây dựng Đảng là một quá trình thống nhất giữa các mặt xây
dựng chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó vừa có vị trí quan trọng không thể
thiếu, vừa gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp của Đảng.
Đường lối chính trị đúng là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng, là gốc rễ mọi
thắng lợi của cách mạng. Nghị quyết Đảng vạch ra đường lối chính trị đúng thì
mới có thể tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng, đoàn kết và tranh thủ được
sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, phát triển được lực lượng cách mạng lớn
mạnh, đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên.
Thông qua việc quán triệt nghị quyết của Đảng, đội ngũ đảng viên ngày
càng thấu hiểu hơn nghị quyết, kiên định hơn với vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với toàn xã hội, lập trường giai cấp ngày càng được củng cố. Trên cơ sở quán triệt
24
nhũng và các tệ nạn trong xã hội, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng và
cơ quan nhà nước.
25