LUẬN văn THẠC sĩ GIẢI QUYẾT VIỆC làm CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Giáo dục – đào tạo
Giải quyết việc làm
Kinh tế - xã hội
Xã hội chủ nghĩa

CNXH
CNH, HĐH
GD-ĐT
GQVL
KT-XH
XHCN

MỤC LỤC
Trang
1


MỞ ĐẦU

3

Chương CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 10
1:


KẾT LUẬN

82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

85

PHỤ LỤC

89
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ là vấn đề mang ý
nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội, tác động sâu sắc đến mọi mặt hoạt
động của đời sống xã hội, là phương hướng cơ bản để xóa đói, giảm nghèo có
2


hiệu quả, cải thiện nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan trọng giữ
vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thực
hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Quan tâm GQVL cho người lao động luôn là một trong những giải
pháp phát triển KT-XH mà Đảng ta đã đề ra; đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH dưới tác động của xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: "Tập
trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện

trị, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2012. Tác giả phân tích làm rõ một số vấn đề
lý luận, thực tiễn về GQVL cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hóa; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số quan điểm cơ bản và những giải
pháp chủ yếu nhằm GQVL cho lao động nông nghiệp tỉnh Nam Định trong
quá trình đô thị hóa hiện nay.
Dương Văn Thi Giải quyết việc làm cho người lao động và tác dụng
của nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay, Luận
văn thạc sỹ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội, 2001. Tác
giả làm rõ cơ sở lý luận và phân tích thực trạng GQVL cho người lao động ở
tỉnh Bắc Giang, nêu lên những tác động của nó đến đến củng cố quốc phòng
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm và một
số giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa GQVL cho người lao động
với củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Hà Văn Tâm Giải quyết việc làm cho nông dân có đất nông nghiệp chuyển
đổi phục vụ phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay, Luận văn
thạc sỹ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2010. Tác giả tập trung
nghiên cứu việc làm, GQVL cho nông dân có đất nông nghiệp chuyển đổi phục
vụ phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Tác giả luận giải
thực trạng GQVL, nêu các quan điểm và đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm giải quyết tốt vấn đề việc làm cho nông dân có đất nông nghiệp chuyển
đổi phục vụ phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
5


Đặng Tú Lan Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh - thực trạng và giải pháp,
Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
Tác giả tập trung phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề GQVL ở
tỉnh Bắc Ninh; đồng thời, phân tích thực trạng GQVL ở Bắc Ninh từ năm
1997 đến năm 2000. Trên cơ sở phân tích thực trạng tác giả đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm GQVL cho người lao động ở tỉnh Bắc Ninh.

Đức; đề xuất một số giải pháp GQVL cho người lao động nông thôn vùng thu
hồi đất huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay.
Ngoài những công trình nghiên cứu, những đề tài nêu trên còn có rất
nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến vấn đề GQVL ở nước
ta như: Bùi Văn Quán (2001),"Thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn và
một số giải pháp cho giai đoạn 2001 - 2005", Tạp chí Lao động và Xã hội, Số
3; Đỗ Thế Tùng (2002), “Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải
quyết việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, Số 6; Vũ Đình
Thắng (2002), “Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn”, Tạp chí Kinh tế và
phát triển, Số 3; Nguyễn Sinh Cúc (2003), “Giải quyết việc làm ở nông thôn
và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí con số và sự kiện, Số 8; Lê Văn Bảnh
(2003), “Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn”, Tạp chí Lao
động và Xã hội, Số 218; Nguyễn Hữu Dũng (2004), "Giải quyết vấn đề lao
động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp và
nông thôn", Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 247, và "Nhiệm vụ phát triển
việc làm giai đoạn 2006 - 2010", Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 250;
Trương Văn Phúc (2004), "Thực trạng lao động, việc làm qua kết quả điều tra
01/7/2004", Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 251; Đặng Đình Hải, Nguyễn
Ngọc Thụy (2005), “Làm thế nào để đẩy mạnh công tác dạy nghề cho lao
động nông thôn”, Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 259; Vũ Văn Phúc (2005),
“Giải quyết việc làm sử dụng hợp lý nguồn nhân lực ở nông thôn hiện nay”,
Tạp chí Châu Á - Thái Bình Dương, Số 42; Đặng Như Lợi (2009), "Giải quyết
việc làm góp phần bảo đảm ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững”,
7


Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 159; Cao Duy Hạ (2011), "Giải quyết việc
làm - vấn đề cấp thiết và cơ bản", Báo Đại đoàn kết, (Số ra ngày
15/6/2011); Đỗ Minh Cương (2003), “Dạy nghề cho lao động nông thôn hiện
nay”, Báo Nông thôn mới, Số 91...

* Phạm vi nghiên cứu:
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu GQVL cho người lao động đang
sống ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: Các số liệu nghiên cứu nội dung GQVL cho
người lao động ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các nghị quyết của
Đảng Cộng sản Việt Nam; các nghị quyết của Huyện ủy, các báo cáo của Ủy
ban nhân dân huyện Phúc Thọ. Đồng thời, luận văn sử dụng số liệu khảo sát
thực tế, tham khảo các tài liệu và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học có liên quan đã công bố.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử; Phương pháp trìu tượng hóa khoa học; phương pháp so sách, phân tích,
thống kê, tổng hợp và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của luận văn góp phần luận giải cơ sở khoa học của quá trình
GQVL cho người lao động ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội hiện nay, và
có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

9





hơn, đúng đắn và khoa học hơn. Đó là các hoạt động của con người nhằm tạo
ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Tại điều 13, chương II Bộ Luật lao
động Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động
lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là
việc làm” [26, tr.132].
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được
coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất
của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình
lao động, tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện cơ bản:
Một là, việc làm là những hoạt động lao động có ích, tạo ra thu nhập cho
người lao động, gia đình và cộng đồng. Hai là, người lao động được tự do
hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý
của việc làm.
Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ
của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Điều đó đã góp phần mở rộng
quan niệm về việc làm; đồng thời, đã tạo ra bước ngoặt mới, là cơ sở pháp lý
cho việc tạo việc làm và GQVL phù hợp. Tạo việc làm chính là quá trình tạo
ra những điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao
động đều có cơ hội được lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội và đem
lại thu nhập cho bản thân, nghĩa là có việc làm. Từ chỗ tạo việc làm, GQVL
cho người lao động thuộc trách nhiệm của Nhà nước, thì hiện nay không chỉ
có riêng Nhà nước mà còn có cả các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể
xã hội và cá nhân người lao động. Trong đó, người lao động phải chủ động
tìm kiếm việc làm, tự tạo ra việc làm cho mình.
Quan niệm việc làm hiện nay đã được mở rộng, phù hợp với nền sản
xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho mọi người dân tham

việc không hết thời gian theo luật định hoặc làm những công việc có thu nhập
thấp không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm để bổ sung. Thiếu việc làm còn
12


do lao động tăng nhanh, diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng
giảm, cơ cấu kinh tế lạc hậu, hiệu quả lao động thấp. Điều đó, ảnh hưởng đến
thu nhập và mức sống của người lao động.
Việc làm thường xuyên và việc làm không thường xuyên. Người lao
động có việc làm thường xuyên, là những người hoạt động kinh tế thường
xuyên trong 12 tháng qua, có số ngày làm việc thực tế lớn hơn hoặc bằng tổng
số ngày có nhu cầu làm thêm.
Người lao động không có việc làm thường xuyên, gồm những người
thuộc bộ phận dân số hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua, có
tổng số ngày làm việc thực tế nhỏ hơn tổng số ngày có nhu cầu làm thêm.
Như vậy, lao động ở những địa bàn thuần nông như huyện Phúc Thọ
chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc làm thường xuyên hay còn gọi là
thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp. Do lao động trồng trọt có tính thời vụ rất
rõ rệt vì thế hiện tượng thiếu việc làm thể hiện rất rõ. Để hạn chế vấn đề này,
cần phải đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, lựa chọn công thức luân canh hợp lý
và đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, điều đó cũng chỉ hạn
chế tính thời vụ chứ không thể khắc phục được hoàn toàn. Cần có sự bổ sung
của ngành chăn nuôi và các ngành tiểu thủ công nghiệp. Ngành chăn nuôi sử
dụng lao động đều đặn hơn trồng trọt nhưng các hộ có quy mô chăn nuôi lớn
mang tính hàng hoá còn rất ít, lao động dành cho chăn nuôi cũng chỉ chiếm
rất ít thời gian lao động trong ngày. Ở huyện Phúc Thọ đây là hiện tượng phổ
biến, do sản xuất hàng hoá ở trình độ thấp, quy mô chăn nuôi nhỏ và chủng
loại vật nuôi nghèo nàn. Phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp sẽ tạo ra
nhu cầu cần thiết cho phát triển cơ giới hoá nông nghiệp. Khi có việc làm tiểu
thủ công nghiệp, người lao động sẽ sắm máy móc để nâng cao năng suất lao

lại, khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm đầy đủ cho người lao
động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu
đến sự phát triển nhân cách con người. Con người có nhu cầu lao động ngoài
việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự
14


hoàn thiện. Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh
hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân
của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra, khi không có việc làm, trong xã hội sẽ tạo ra
hố ngăn cách giàu nghèo, là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và ảnh
hưởng đến tình hình chính trị xã hội.
Vai trò của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan
trọng; để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi Nhà nước
phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
1.1.2. Quan niệm về giải quyết việc làm
Lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế, đã có một số lý thuyết của
một số trường phái đề cập đến vấn đề GQVL trong nền kinh tế thị trường
như: Lý thuyết kinh tế chính trị học tiểu tư sản; Lý thuyết tạo việc làm của
trường phái Keynes; Lý thuyết tạo việc làm bằng cách gia tăng đầu tư của các
nhà kinh tế thuộc trường phái Chính hiện đại...
Sismondi là đại diện tiêu biểu của kinh tế chính trị học tiểu tư sản. Ông
đã phân tích khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản và cho rằng trong chủ
nghĩa tư bản tất yếu có khủng hoảng kinh tế, nguyên nhân của khủng hoảng
kinh tế là do sản xuất vượt quá so với tiêu dùng.
Để khắc phục khủng hoảng, theo ông trước mắt cần tăng tiêu dùng và
có thể thông qua ngoại thương để xuất khẩu lượng hàng hoá dư thừa. Tuy
nhiên, về lâu dài cần phải phát triển mạnh sản xuất nhỏ. Ông phủ nhận sản
xuất lớn tư bản chủ nghĩa và cho rằng nếu chỉ có sản xuất nhỏ thì tất cả mọi
người đều có tư liệu sản xuất và đều có việc làm, mọi người đều công bằng và

chính, tiền tệ để kích thích đầu tư, mở rộng sản xuất. Đó là cách tốt nhất để
giải quyết tình trạng dư thừa nhân công trong những giai đoạn khủng hoảng.
Lý thuyết của trường phái Chính hiện đại cho rằng: Muốn tăng trưởng
kinh tế phải có tích lũy để có vốn tái sản xuất mở rộng; từ đó, tạo nhiều việc
làm. Đối với các nước đang phát triển do thu nhập thấp, tốc độ tăng trưởng
chậm, tỷ lệ tích lũy thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư. Để tạo vốn đầu tư cho tăng
16


trưởng, các nước này cần phải dựa vào lợi thế so sánh của mình là tài nguyên
và nguồn nhân lực dồi dào. Cần thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài (bao gồm
ngoại tệ, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, tri thức quản lý kinh tế hiện đại...)
để tạo nhiều việc làm. Tốc độ và quy mô của vốn đầu tư tăng sẽ trực tiếp thúc
đẩy tăng tốc độ và quy mô việc làm. Do đó, để GQVL phải xuất phát từ các
yếu tố đầu vào của sản xuất. Đối với một nền kinh tế đang trong quá trình
phát triển như nước ta, thì việc tận dụng các yếu tố bên ngoài như vốn, công
nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý sẽ là điều kiện thuận lợi để khai thác,
phát huy nguồn nhân lực của nền kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều cơ
hội việc làm cho xã hội.
Qua nghiên cứu lý thuyết của một số trường phái về vấn đề GQVL trong
nền kinh tế thị trường, có thể thấy GQVL là một trong những chính sách quan
trọng, nó không chỉ tác động đối với sự phát triển kinh tế, mà còn đối với đời
sống xã hội của mỗi quốc gia. Với nước ta, GQVL còn là giải pháp quan trọng
để phát huy nhân tố con người, sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp
phần chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH.
Đồng thời, tạo ra các cơ hội để người lao động có được việc làm và tăng thu
nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Giải quyết tốt việc làm chính là để khai thác triệt tiềm năng của một
con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Vì vậy,
GQVL phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ,

triển của nền kinh tế.
Giải quyết việc làm cho người lao động, giúp họ tham gia vào quá trình
sản xuất là yêu cầu của sự phát triển KT-XH. Với bất kỳ một đất nước nào,
giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động luôn đi đôi với tăng trưởng
kinh tế, ngay cả với những quốc gia có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, ít
tài nguyên thiên nhiên, thậm chí thường xuyên bị thiên tai đe dọa. Vì vậy,
trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, vấn đề GQVL cho

18


người lao động nhằm sử dụng hợp lý nguồn lực con người, đang được đánh
giá là quan trọng và quyết định nhất đối với một nền kinh tế. Trong chiến
lược phát triển KT-XH 2011-2020, Đảng ta nhấn mạnh: “Thực hiện tốt các
chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và
phát huy cao nhất năng lực của người lao động. Đảm bảo quan hệ lao động
hài hòa, cải thiện môi trường và điều kiện lao động. Đẩy mạnh dạy nghề và
tạo việc làm, hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách,
người nghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hóa.” [11, tr.125].
Hiện nay, ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng khoa
học công nghệ tới tất cả các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong
đó có nước ta, thì việc GQVL, nâng cao chất lượng đội ngũ người lao động
càng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH và củng cố quốc phòng
an ninh. Xét về góc độ kinh tế, thất nghiệp gắn chặt với đói nghèo, tỷ lệ thất
nghiệp cao gây lãng phí nguồn nhân lực, thiệt hại lớn cho nền kinh tế, cuộc
sống của người lao động gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn sự mất ổn định xã
hội. Rõ ràng, tạo việc làm và giải quyết tốt việc làm cho người lao động là
mục tiêu của sự phát triển KT-XH, đồng thời là động lực của sự phát triển đó.
Với quan niệm mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, thì nhận thức về GQVL đã có

của Nhà nước với trách nhiệm công dân, phải phân biệt rõ ràng giữa nghĩa vụ
và quyền lợi của công dân trong việc tạo việc làm và thực thi trách nhiệm lao
động với các việc làm mà mình đảm nhận. Không thể có việc GQVL đơn
phương mà cần phải có sự nỗ lực và trách nhiệm của cả hai phía Nhà nước và
nhân dân trong việc kiến tạo việc làm, để không còn sự bất cập giữa cơ cấu
lao động và cơ cấu việc làm trên thực tế.
1.1.3. Quan niệm về giải quyết việc làm cho người lao động ở huyện
Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
Trên cơ sở nghiên cứu việc làm và GQVL nói chung tác giả cho rằng:
GQVL cho người lao động ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội chính là
20


tổng thể các biện pháp, chính sách KT-XH của Nhà nước, địa phương và các
cơ sở sản xuất kinh doanh hướng vào người lao động ở huyện Phúc Thọ
nhằm tạo ra các cơ hội, các điều kiện cần thiết của quá trình lao động, để
người lao động có hoặc có thêm việc làm, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu,
lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Từ quan niệm trên đây, có thể hiểu GQVL cho người lao động ở huyện
Phúc Thọ, thành phố Hà Nội trên một số nội dung sau đây:
Một là, chủ thể GQVL cho người lao động ở huyện Phúc Thọ là Đảng
bộ, Chính quyền, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, các cơ sở sản xuất kinh
doanh và chính bản thân người lao động trên địa bàn. Trong đó, Đảng bộ,
chính quyền các cấp của Huyện là chủ thể quan trọng nhất, là người lãnh đạo,
chỉ đạo và ban hành các cơ chế, chính sách nhằm thực hiện đầy đủ mọi đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề việc làm và GQVL
cho người lao động. Các phòng, ban, ngành liên quan thực hiện tốt chức năng
của mình là cơ quan trực tiếp tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền về các
định hướng và kế hoạch liên quan tới GQVL cho người lao động. Đồng thời,
tiến hành kiểm tra, giám sát, đôn đốc quá trình thực hiện, phối hợp chặt chẽ

rộng sản xuất trên địa bàn Huyện để tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết
nhu cầu lao động tại chỗ và nâng cao thu nhập cho người lao động. Tạo mọi
điều kiện để lao động dôi dư có cơ hội chuyển đổi nghề nhưng vẫn gắn bó với
chính quê hương.
Bốn là, nội dung GQVL cho người lao động ở huyện Phúc Thọ thể hiện
đó là: Cần xây dựng, triển khai có hiệu quả quy hoạch và kế hoạch phát triển
KT-XH ở địa phương, trong đó có nguồn lực lao động. Đây là khâu có vị trí
quan trọng trong triển khai các hoạt động xúc tiến GQVL cho người lao động ở
huyện Phúc Thọ. Làm tốt khâu này sẽ giúp cho các cơ quan chức năng, các
doanh nghiệp, các tổ chức KT-XH nắm vững số lượng, chất lượng nguồn lực
lao động trên địa bàn để xây dựng, thực hiện các giải pháp GQVL phù hợp, hiệu
quả, giải quyết được những ách tắc thực tế của địa phương và có những giải
22


pháp dài hạn GQVL cho người lao động ở huyện Phúc Thọ trong những năm
tiếp theo. Đồng thời, phải có những cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ
tạo việc làm, GQVL cho người lao động; trong đó, đặc biệt quan tâm tới số
lao động bị dôi dư, lao động thiếu việc làm. Các chính sách có tính chất như
đòn bẩy trong GQVL cho người lao động cần được thực hiện tốt như: chính
sách hỗ trợ vốn, chính sách đào tạo chuyển đổi nghề, nhân cấy nghề, chính
sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư, các chính sách đào tạo nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực… Bên cạnh đó, cần mở rộng các ngành nghề sản xuất,
gắn với phân công lại lao động, tạo những ngành nghề phù hợp với lợi thế của
từng xã, từng vùng để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng
quy mô, thu hút lao động đang thiếu việc làm. Duy trì môi trường sản xuất
kinh doanh ổn định; trong đó, có các giải pháp đồng bộ về quản lý thị trường,
nhằm nâng cao hiệu quả GQVL. GQVL cần phải được quan tâm, xem xét cả
phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của cơ quan quản lý
nhà nước. Mặt khác, cũng cần đẩy mạnh, mở rộng về quy mô, đa dạng về

kiện tốt nhất để mỗi người lao động tích cực, chủ động tìm kiếm việc làm, tự
tạo việc làm cho mình và cho xã hội, thể hiện trách nhiệm của mình với
chính bản thân mình và gia đình, không trông chờ ỷ nại vào người khác, góp
phần giải phóng sức sản xuất, sức lao động xã hội, khai thác được tiềm năng
của mỗi người lao động cho phát triển KT-XH nói chung.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết giải quyết việc làm cho
người lao động ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
1.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng
* Về điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý: Phúc Thọ là Huyện đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên bờ hữu
ngạn của cả hai con sông: sông Hồng và sông Đáy. Ranh giới phía Tây giáp
thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp huyện Thạch Thất, phía Đông Nam giáp các
huyện Quốc Oai và Hoài Đức, phía Đông giáp huyện Đan Phượng, phía Bắc
sông Hồng là ranh giới của Huyện với tỉnh Vĩnh Phúc.
24


Phúc Thọ là huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ
đô khoảng 35 km về phía Tây. Có Quốc lộ 32 với chiều dài trên 16 km, cùng
với tuyến tỉnh lộ phân bố đều khắp Huyện (Tỉnh lộ 417, 418, 421) theo hình
xương cá. Phúc Thọ có 3 con sông đi qua; trong đó, sông Hồng với chiều dài
chảy qua Huyện khoảng 10 km. Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông như
vậy, Phúc Thọ có điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hoá, mở rộng
thị trường để phát triển KT-XH, là điều kiện tốt để tạo thêm nhiều công ăn
việc làm cho người lao động hiện nay.
Thời tiết và khí hậu: Cũng như các huyện khác trong vùng đồng bằng
sông Hồng, Phúc Thọ mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,
mưa nhiều, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa
dạng, phong phú.
Địa hình: Phúc Thọ mang đặc trưng của một huyện đồng bằng, địa hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status