Phân tích các biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động - Pdf 34

Bài tập số 14:
1. Phân tích các biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động.
2. Chị H là nhân viên thu ngân của công ty quảng cáo M theo hợp đồng lao
động 1 năm ( từ tháng 01/2005 đến tháng 01/2006) . Hết thời hạn hợp đồng,
chị H vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, nhưng công ty chưa ký tiếp hợp
đồng lao động với chị.
Trong đợt kiểm tra tài chính của công ty đầu năm 2007, nhân viên Phòng
tài chính – Kế toán của công ty phát hiện chị H đã gian lận số tiền 34 triệu
đồng bằng cách thu tiền của một số đơn vị thuê quảng cáo, có viết hóa đơn
chứng từ nhưng không vào sổ thu tiền và không chuyển tiền cho phòng kế
toán.
Sau khi nhận được báo cáo của Phòng tài chính – Kế toán, công ty M đã
yêu cầu chị H truy nộp số tiền nói trên, nhưng chị H cố tình không trả với lý
do công ty cần thành lập tổ thanh tra nội bộ làm rõ số tiền nói trên có chính
xác không và là tiền của những đơn vị nào thuê quảng cáo.
Vụ việc kéo dài đến tháng 4/2009 nhưng chị H vẫn không chịu trả số tiền
nói trên cho công ty. Trong thời gian từ 02/ 2007 đến tháng 04/2009, công ty
M đã ra quyết định tạm đình chỉ công việc đối với H cho đến khi giải quyết
xong vụ việc, hưởng 50% lương. Đồng thời, chuyển vụ việc sang cho cơ
quan điều tra khởi tố và xác định rõ hành vi vi phạm của chị H.
Đầu tháng 11/2009, sau khi có kết luận của cơ quan Công an vè hành vi
tham ô của chị H với số tiền 34 triệu đồng, công ty quyết định sa thải chị H
và yêu cầu H bồi thường cho công ty số tiền 34 triệu đã chiếm đoạt của công
ty.
Hỏi:
a/ công ty M có thể sa thải chị H được hay không? (1,5 điểm)
b/ Khi sa thải H, công ty cần lưu ý những vấn đề gì? (3điểm)
c/ việc công ty M cho chị H tạm đình chỉ công việc như trên là đúng hay sai?
(1,5 điểm)

1

- Làm các công việc có thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp trên đất do mình sở hữu, quản lý hoặc mình sử dụng.
2


- Hợp đồng kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó sở hữu toàn
bộ, một phân hay được quyền khai thác
Việc làm là hoạt động trong các lĩnh vực, nghành nghề dạng hoạt động có ích
không bị pháp luật ngăn cấm, đưa lại thua nhập để nuôi sống bản thân và gia
đình, người lao động, đồng thời góp một phần cho xã hội.
Gắn với vấn đề việc làm luôn luôn là vấn đề thật nghiệ vì một người có việc làm
tứ là người đó không thất nghiệp và ngược lại. Thất nghiệp là tình trạng người
trong độ tuổi lao động, có sức lao động chưa cs việc làm, đang có nhu cầu cần
tìm việc làm nhưng chưa tìm được việc làm. Thất nghiệp gồm có: thất nghiệp
tạm thời, thất nghiệp có tính cơ cầu và thất nghiệp chu kỳ.
Khái niệm người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, nghành
nghề, đang hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem ại thu nhập đề
nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội. Thị
trường việc làm được mở rộng rất lớn bao gồm nhiều thành phần kinh tế. Người
lao động được tự do hành nghề, tự do liên kết thuê mướn lao động thể pháp
luật…
Thiếu việc làm có thể hiểu là trạng thái trung gian giữa có việc làm đầy đủ và
thất nghiệp.
Đó là tình trạng có việc làm, nhưng do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn
của người lao động họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc
làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm
bổ sung.
Tuyên ngôn về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948: “ Mọi người đều
có quyền làm việc, tự do hành nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi
và chính đáng và được bảo vệ chống lại thất nghiệp…” Tổ chức ILO cũng có

những lao động có những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lí như giới tính, sức
khỏe, tuổi tác… Chính Vì vậy mà cơ hội tìm kiếm viecj làm cũng như có việc
làm của những đối tượng lao động này thường khó khăn hơn những người lao
động khác, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay cạnh tranh lao động ngày càng
gay gắt. Vì vậy cần phải có những ưu tiên đối với họ trong lĩnh vục việc làm
nhằm hỗ trợ cho họ những cơ hội làm việc giúp họ hòa nhập với cộng đồng,
4


khắc phục những yếu thế đặc thù của họ. Khoản 2 Điều 111 BLLĐ quy định :”
NSDLĐ phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ tiêu chuẩn
tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang
cần”.
-Nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hõ trợ tạo việ làm
trong cơ chế kinh tế thị trường, lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công
dân. Nhà nước không có trách nhiệm phải đảm bảo việc làm cho từng cá nhân
NLĐ mà chỉ tổ chức chỉ đạo, quản lí các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
nhằm tạo ngày càng nhiều cơ hội việc làm cho người lao động đồng hời nhà
nước tạo điều kiện, hỗ trợ NLĐ tự tạo việc làm cho mình và cộng đồng. Khoản
3 Điều 5 BLLĐ quy định:” Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc àm, dạy
nghề, học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút
nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc
giúp đỡ”. Ngoài ra, nhà nước có các biện pháp bảo đảm việc làm như đào tạo,
đào tạo lại nghề, chính sách đối với lao động dooi dư, chống sa thải NLĐ…
Nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước vừa thể hiện trách
nhiệm của xã hôi, của bản thân NLĐ trong vấn để việc làm
2. Trách nhiệm của Nhà nước, NSDLĐ, NLĐ trong lĩnh vực giải quyết việc làm
Điều 13 BLLĐ quy định: “ Giải quyết viecj làm. Bảo đảm cho người có khả
năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các
doanh nghiệp và toàn xã hội”.

tới có việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả, thông qua đó giải quyết hợp lí mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho NLĐ, góp phần
thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Nội dung chương trình gồm mục tiêu, chỉ
tiêu làm việc mới, các nội dung hoạt động thời gian, các giải pháp, nguồn tài
chính, tổ chức thực hiện và quản lý chương trình. Bộ lao động – thương binh và
xã hội chủ trì phối hợp với bộ kế hoạch và đầu tư, bộ tài chính trình Chính phủ
chương trình quốc gia về việc làm và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ
chế quản lí điều hành hoạt động quỹ quốc gia về việc làm. Bộ kế hoạch và đầu
tư chủ trì phối hợp với Bộ tài chính, Bộ lao động – thương binh xã hội lập kế
hoach các nguồn tài chính hàng năm và của Chính phủ số 39/2003/NĐ-CP). Đối
với chương trình giải quyết việc làm của địa phương sẽ do UBND tỉnh, thành
phố thuộc trung ương thực hiện và báo cáo kết quả về Bộ lao động – thương
binh và xã hội và bọ kế hoạch và đầu tư ( Điều 4 Nghị định số 39/2003/NĐ6


CP). Mục tiêu cụ thể của chương trình là định ra chỉ tiêu lao động ra chỗ làm
việc với hàng năm, chỉ tiêu giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và nâng tỉ lệ thời
gian sử dụng lao động ở nông thôn. Nguồn lực dành cho chương trình là số kinh
phí từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác được dùng cho mục tiêu giải
quyết việc làm, được thực hiện qua cơ chế tài chính quộc gia về việc làm.
Chương trình việc làm được triển khai trên 2 hướng sau: đầu tiên phải tạo việc
làm mới thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế, kết hợp hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế với giải quyết việc làm. Đây là hướng xác định cơ bản và quan
trọng nhất. Thứ hai, duy trì, bảo đảm việc làm cho NLĐ, chống sa thải nhân
công hàng loạt. Từng bước xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
2.Quỹ giải quyết việc làm
Theo quy định của pháp luật, hiện nay ở nước ta có 3 loại quỹ việc làm, đó là
quỹ quốc gia về việc làm, quỹ giải quyết việc làm ở địa phương và quỹ quốc gia
về việc làm cho người tàn tật.

chính trị xã hội thành lập, là đơn vì sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi
phí hoạt động, Các trung tâm này được Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội
giao chỉ tiêu biến chế cán bộ, được hỗ trợ đầu tư nguồn ngân sách nhà nước về
trang thiết bị, cơ sở vật chất tài chính và được miễn giảm thuế theo quy định của
pháp luật. Đối với các doanh nghiệp chuyên hoạt động về giới thiệu việc làm
phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy của pháp luật và có giấy phép hoạt
động giới thiệu việc làm. Điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức
giới thiệu việc làm được quy đinh tại Nghị định của Chính phủ số 19/2005/NĐCP ngày 28/2/2005.
Các tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho
NLĐ, cung ứng và giúp tuyển lao động theo yêu cầu của NSDLĐ, thu nhập và
cung ứng thông tin về thị trường lao động, có quyền dạy nghề gắn với tạo việc
làm.
4.Dạy nghề gắn với việc làm
8


Dạy nghề và việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có nghề nghiệp (tay
nghề) là điều kiện tiên quyết đối với NLĐ để có thể nhanh chóng tìm được việc
làm và có chỗ làm ổn định. Trước đây, do quan niệm đào tạo nghề chỉ là vấn đề
giáo dục và đào tạo, chưa thấy được sự cần thiết phải gắn đào tạo nghề với vấn
đề giải quyết việc làm nên nhiệm vụ quản lí nhà nước về đào tạo nghề thuộc Bộ
giáo dục và đào tạo. hiện nay, nhiệm vụ này được chuyển giao cho Bộ Lao động
thương binh và xã hội nhằm thực hiện sự gắn kết liên thông vấn đề đào tạo nghề
với ngu cầu của sản xuất, của thị trường lao động nhằm giải quyết việc làm.
Chính phủ cũng đã thành lập Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ lao động – thương
binh và xã hội.
Theo Luật dạy nghề (2006), các trình độ đào tạo trong dạy nghề bao gồm: trình
độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Trung cấp dạy nghề, trường trung cấp nghề,
trường cao đẳng nghề phải được thành lập dưới dạng công lập, tư thục có vốn
đầu tư nước ngoaì theo hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Có

Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài có đủ sức
khoẻ, đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kĩ thuật tay nghề
theo yêu cầu của nước tiếp nhận, không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo
quy định của pháp luật Việt Nam thì được đi làm việc ở nước ngoài. NLĐ Việt
Nam đi làm việc ở nuwocs ngoài theo các hình thức: hợp đồng đưa NLĐ đi làm
việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, với tổ chức sự nghiệp
được phép hoạt động trong lĩnh vự này; hợp đồng với doanh nghiệp trúng thầu,
nhận thầu ở nước ngoài hoặc tổ chức cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa lao
động đi làm việc ở ngoài; hợp đồng theo hình thức thực tập, nâng cao tay nghề
và HĐLĐ do cá nhân NLĐ trực tiếp kí với NSDLĐ nước ngoài.
Hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là nghành nghề kinh
doanh có điều kiện. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải có vốn
pháp định theo quy định của Chính phủ và được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài. Các doanh nghiệp trúng thấy, nhận thầy đưa NLĐ đi làm việc tại các
công trình, dự án mà doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầy ở nước ngoài. Tổ chức
cá nhân được đưa NLĐ đi làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh do họ
10


thành lập. Tổ chức sự nghiệp của Nhà nước đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài trong trường hợp thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên, thực hiện thỏa thuận quốc tế do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
chính phủ kí với bên nước ngoài và các trường hợp khác do Bộ trưởng bộ lao
động thương binh và xã hội quyết định. Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước
ngoài của tổ chức sự nghiệp là hoạt động phi lợi nhuận. Để được đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức cá
nhân đầu tư ra nước ngoài, NLĐ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự
nguyện đi làm việc ở nước ngoài, có đủ sức khỏe và đáp ứng yêu cầu về trình
độ ngoại ngữ, chuyên môn, lĩ thuật tay nghề và điều kiện khác theo yêu cầu của

1.Thực trạng
Việt Nam là một nước có kết cấu dân số trẻ từ 0-16 tuổi là 40%, từ 16 – 35:65%
dân số. Có thể nói đây là ưu thế mạnh về nguồn lao động của nước ta. Mỗi năng
nguồn lao động tăng thêm 1,5 triệu người trong đó có 50,8% là lao động nữ.
Hiện nay tỉ lệ thất nghiệp là 2,1% và tỉ lệ thiếu việc làm là 8,7 % (2005). Có sự
chuyển dịch lao động từ nong thôn ra thành thị.
Chất lượng lao động: 10% dân số không biết chữ, trong đó độ tuổi lao động
chiếm khoảng 3 triệu người. Số người lao động có chuyên môn kĩ thuật 3,7
triệu người (1989); 1996 là 4 triệu người.
Toàn xã hội, số người có trình độ đại học trở lên chiếm 1,5%, công nhân có
tay nghề bậc 1,2 chiếm 57%.
Nước ta là nước có nguồn lao động dồi giào, tốc độ phát triển nguồn lao
động vẫn ở mức cao, lại phân bố không đồng đều, phần lớn tập trung ở vùng
xao, nông thôn. Chất lượng nguồn lao động thấp, đặc biệt chưa qua đào tạo,
nước ta lại trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường…
Giải quyết việc làm là vấn đề bức xúc đối với nước ta trong giai đoạn hiện
nay và cả trong thời gian tới. Tình trạng thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc
làm ở nông thôn rất trầm trọng. Chương trình quốc gia giải quyết việc làm
được triển khai thực hiện có kết quả với sự quan tâm của các nghành, các
cấp cùng với sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể
12


và bản thân người lao động. Quỹ quốc gia giải quyết việc làm được hình
thành từ năm 1992, tới nay đã có khoảng 2.000 tỷ đồng, trong đó 1.350 tỷ
đồng từ Ngân sách nhà nước, doanh số cho vay là 4.000 tỷ đồng, thu hút 3
triệu lao động, trong đó 1.4 triệu người có việc làm mới và 1,6 triệu người có
thêm việc làm. Cả nước đã có 143 trung tâm giới thiệu việc làm, hàng năm tư
vấn việc làm và tư vấn nghề nghiệp cho 20 vạn người, giới thiệu và cung ứng
8 vạn lao động. Triển khai Nghị quyết TW 2 ( khóa VIII) công tác dạy nghề

đặc biệt của Nhà nước ta. Bằng các quy định của pháp luật lao động đặc biệt là
từ khi Bộ luật lao động ra đời cho đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực về
việc giải quyết việc làm cho người lao động như: thay đổi quan niệm về việc
làm, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển, thành lập các trung
tâm giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động…. những bước chuyển biến này đã
chứng tỏ sự phù hợp giữa đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn
đề việc làm và giải quyết việc làm trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế, quốc tế.

2.Giải quyết tình huống
Chị H là nhân viên thu ngân của công ty quảng cáo M theo hợp đồng lao động 1
năm ( từ tháng 01/2005 đến tháng 01/2006) . Hết thời hạn hợp đồng, chị H vẫn
tiếp tục làm việc cho công ty, nhưng công ty chưa ký tiếp hợp đồng lao động
với chị. Theo quy định của Bộ luật lao động thì khi hợp đồng lao động xác định
thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có
thời hạn dưới 12 tháng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký
hợp đồng lao động mới; nếu không ký hợp đồng lao động mới, thì hợp đồng lao
động đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Như
14


vậy, hợp đồng xác định thời hạn trước đó của chị H với công ty B đã trở thành
hợp đồng không xác định thời hạn.

a/ công ty M có thể sa thải chị H được hay không?
Công ty M có quyền sa thải chị H theo khoản 1 Điều 85 BLLĐ.
Theo điều 85 BLLĐ thì: hình thức kỉ luật sa thải chỉ được áp dụng trong các
trường hợp:
Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô tiết lộ bí mật công nghệ, kinh


b/ Khi sa thải H, công ty cần lưu ý những vấn đề gì?
(3điểm)
Khi sa thải H, công ty M cần lưu ý về 2 vấn đề đó là lí do và thủ tục để tiến
hành sa thải H.
Về lí do
Đúng về thủ tục:
- Căn cứ: Sa thải là hình thức kỉ luật được NSDLĐ áp dụng đối với người lao
động bằng cách đơn phương chấm dứt hợp đồng, buộc người lao động phải nghỉ
việc không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng lao động khi NLĐ vi phạm
một trong những trường hợp được quy định khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động
và đã được quy định trong nọi quy của đơn vị.Cụ thể:
+NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghê, kinh doanh hoặc
có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;
+NLĐ bị xử lí kỉ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác
mà tái phạm ttrong thời gian chưa xóa kỉ luật hoặc bị xử lí kỉ luật cách chức mà
tái phạm;
+NLĐ tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc chưa 20 ngày cộng
dồn trong năm mà không có lí do chính đáng.
Như vậy có 2 căn cứ để áp dụng kỉ luật bao gồm:
+có hành vi vi phạm kỉ luật
+ có yếu tố lỗi
16


*Thẩm quyền, thời hiệu và thủ tục tiến hành xử lí kỉ luật lao động
-Thẩm quyền xử lí kỉ luật lao động: thầm quyền xử lí kỉ luật lao động là tổng
hợp các quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ trong việc xử lí kỉ luật đối với NLĐ vi
phạm kỉ luật lao động, do pháp luật quy định.
Theo điều 10 Nghị định số 41/CP và đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều

+Tiến hành phiên họp kỉ luật
Thành pần phiên họp bao gồm: NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ ủy quyend là
người chủ trì phiên họp. Đương sự bắt buộc phải có mặt; nếu đương sự có lí do
chính đáng để vắng mặt thì phiên họp phải hoàn (trừ trường hợp đang thi hành
án tù giam); còn nếu đương sự cố tình trốn tránh, NSDLĐ đã 3 lần thông báo
bằng văn bản mà vắn mặt thì NSDLĐ có quyền xử lí kỉ luật. Trường hợp đương
sự là người dưới 15 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đỡ đầu
hợp pháp.
Ngoài các thành phần trên, trong phiên họp kỉ luật phải có sự tham gia của ban
chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời, những
người liên quan đến vụ việc như: người làm chứng, luật sư bào chưa viên nhân
dân, người giám định, người phiên dịch…
Sau khi đầy đủ các thành phần, NSDLĐ tiến hành phiên họp. Trong phiên họp,
NSDLĐ phải chứng minh được lỗi của NLĐ bằng các chứng cứ hoặc người làm
chứng (nếu có), chứng minh được hành vi vi phạm kỉ luật của NLĐ và mực độ
lỗi tương ứng với hình thức kỉ luật quy định trong nội quy loa động của đơn vị.
Đương sự có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư, bào chưa viên nhân dân hoặc
người khác bào chữa cho mình.
Quá trình xử lí kỉ luật lao động phải được ghi thành biên bản với những nội
đúng theo quy định của pháp luật.
+Quyết định kỉ luật
Sau khi tiến hành phiên họp xử lí kỉ luật, người có thẩm quyền xử lí ra quyết
định kỉ luật bằng văn bản. Trường hợp xử lí kỉ luật lao động bằng hình thức sa
thải NSDLĐ phải trao đổi, nhất trí với BCH công đoàn cơ sở hoặc BCH công
đoàn lâm thời. Trong trường hợp không nhất trí thì BCH công đoàn cơ sở báo
cáo với BCH công đoàn cấp trên trực tiếp, NSDLĐ báo cáo với sở lao động –
18


thương binh cà xã hội, sau 20 ngày kể từ ngày báo cáo, NSDLĐ mới có quyền

(1,5 im)
iu 92 BLL quy nh:
1.Ngi s dng lao ng cú quyn tm ỡnh ch cụng vic ca ngi lao ng
khi v vic vi phm cú nhng tỡnh tit phc tp, nu xột thy ngi lao ng
tip tc lm vic s gõy khú khn cho vic xỏc minh, sau khi tham kho ý kin
BCH cụng on c s.
2. Thi gian tm ỡnh ch cụng vic khụng c quỏ 15 ngy, trng hp c
bit cng khụng c quỏ ba thỏng. Trong thi gian ú, ngi lao ng c
tm ng 50% tin lng trc khi b ỡnh ch cụng vic
+ Nghị định của Chính phủ số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 quy định chi tiết
và hớng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về việc làm.
+ Nghị định của Chính phủ số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 về tuyển dụng
và quản lí ngời nớc ngoài làm việc tại Việt Nam.
+ Chơng VI, VII Giáo trình luật lao động, Trờng Đại học Luật Hà Nội, Nxb.
CAND, Hà
Nội, 2009.
+ Chơng III và IV Giáo trình luật lao động Việt Nam, Khoa luật - Đại học Mở
Hà Nội, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009.
+ Chơng II, III Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2002.
+ Luật dạy nghề năm 2006.
20


+ Nghị định của Chính phủ số 19/2005/NĐ-CP ngày 20/8/2005 về việc thành lập
tổ chức giới thiệu việc làm.
+ Nghị định của Chính phủ số 71/2008/NĐ-CP ngày 05/06/2008 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP.
+ Nghị định của Chính phủ số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 hớng dẫn Luật
giáo dục và Bộ luật lao động về dạy nghề.
+ Nghị định của Chính phủ số 116/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 quy định về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status