LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG ĐẢNG chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc đảng bộ thành phố hải phòng hiện nay - Pdf 40

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Công tác kiểm tra, giám sát

CTKT, GS

Cán bộ, đảng viên
Đảng ủy viên

CB, ĐV
ĐUV

Kiểm tra, giám sát
Thành phố Hải Phòng
Tổ chức cơ sở đảng
Tổ chức đảng
Trong sạch vững mạnh
Uỷ ban kiểm tra
Uỷ ban mặt trận tố quốc

KT, GS
TPHP
TCCSĐ
TCĐ
TSVM
UBKT
UBMTTQ


12

công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ
thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
Chương 2

28

YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
CỦA ỦY BAN KIỂM TRA HUYỆN ỦY THUỘC ĐẢNG
BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY

2.1.

56

Sự tác động của tình hình nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao
chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm

2.2.

tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra,

56

giám sát của Uỷ ban uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc
Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
KẾT LUẬN

GS. UBKT các cấp là nòng cốt thực hiện tốt nhiệm vụ KT, GS là nhiệm vụ của
toàn Đảng, của mọi TCĐ, trước hết là của cấp uỷ và UBKT các cấp góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ CB, ĐV; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của cấp uỷ, TCĐ.
UBKT huyện uỷ ở Đảng bộ Thành phố Hải Phòng (TPHP) là cơ quan
chuyên trách của Huyện uỷ, làm tham mưu giúp cấp uỷ lãnh đạo, tiến hành
CTKT, GS và thi hành kỷ luật; thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy
định của Điều lệ Đảng, nhiệm vụ do cấp uỷ giao. Trong đó nhiệm vụ cơ bản, quan
trọng, thường xuyên và trực tiếp là kiểm tra đảng viên, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp
khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong
việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; kiểm tra TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi


4

phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị
của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ KT,
GS và thi hành kỷ luật trong Đảng.
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của UBKT huyện uỷ đối với công tác xây
dựng Đảng và hoạt động lãnh đạo của cấp uỷ, TCĐ các cấp. Những năm qua
thành uỷ, UBKT thành uỷ Hải Phòng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo củng cố,
kiện toàn và phát huy vai trò, trách nhiệm của các UBKT huyện uỷ trong quán
triệt, triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định,
quy chế của Đảng về CTKT, GS và kỷ luật đảng góp phần quan trọng nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, TCĐ các cấp, phòng ngừa, ngăn
chặn các hành vi vi phạm kỷ luật và ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của CB, ĐV, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị của các đảng bộ; xây dựng các đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh
(TSVM) và nâng cao chất lượng đội ngũ CB, ĐV….
Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,

huy tham mưu cấp chiến thuật, chiến dịch ở Học viện Lục quân giai đoạn hiện nay”,
Luận văn Thạc sỹ khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự, năm 2005. Tác giả
đã làm rõ quá trình tiến hành công tác kiểm tra của Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ I (1935) đến Đại hội toàn quốc lần thứ IX; phân tích những vấn đề có tính
nguyên tắc của công tác kiểm tra. Đánh giá ưu điểm và hạn chế, tác giả đã rút ra năm
kinh nghiệm và đề xuất năm giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của đảng
uỷ các hệ đào tạo CB chỉ huy tham mưu cập chiến thuật, chiến dịch ở Học viện Lục
quân.
Phạm Quang Thanh:“Công tác kiểm tra, giám sát của đảng uỷ các hệ, tiểu đoàn
quản lý học viên ở trường Sĩ quan Chính trị hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ khoa học
chính trị, Học viện Chính trị, năm 2010. Tác giả đã luận giải một số vấn đề cơ bản về
CTKT, GS của đảng uỷ các hệ, tiểu đoàn quản lý học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị.
Đánh giá thực trạng, rút ra một số kinh nghiệm, xác định phương hướng, yêu cầu và đề
xuất một số giải pháp tăng cường CTKT, GS của đảng uỷ các hệ, tiểu đoàn quản lý học
viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay.
Tô Quang Thu:“Làm tốt nhiệm vụ giám sát, góp phần phát hiện và khắc phục
khuyết điểm khi mới manh nha”, Tạp chí Kiểm tra, số 11 năm 2006. Bài viết đã đề cập
năm biện pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát. Trong đó, tác giả nhấn mạnh
cấp uỷ đảng các cấp phải nhận thức sâu sắc, trực tiếp xây dựng chương trình, kế hoạch,


6

nội dung, đối tượng giám sát và trực tiếp đôn đốc thực hiện; thường xuyên bám sát
thực tiễn, bám sát cơ sở, nắm chắc các nguồn thông tin để có đủ dữ liệu cần thiết cho
việc xem xét, đánh giá, dự báo hành vi sai phạm và ngăn ngừa ngay từ khi mới manh
nha xuất hiện; kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Phạm Thị Hải Chuyền:“Công tác giám sát của Đảng sau hơn hai năm thực
hiện”, Tạp chí Kiểm tra, số 7 năm 2008. Tác giả bài viết đã đánh giá công tác giám sát
của Đảng sau hơn hai năm thực hiện; những việc đã làm được, chưa làm được, nguyên

lượng, hiệu quả CTKT, GS ở các đảng bộ cơ sở trong Quân đội hiện nay.
Lê Hữu Đức:“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, góp
phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) trong Đảng bộ
Quân đội”, Thượng tướng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 11(64), năm 2012.
Tác giả đã luận giải vị trí, vai trò của CTKT, GS trên cơ sở đã được quán triệt
sâu sắc NQ Trung ương 4 (Khoá XI), và những nguyên nhân ưu, khuyết điểm,
hạn chế của các TCĐ, đảng viên trong quân đội, đưa ra năm giải pháp cơ bản
để nâng cao chất lượng CTKT, GS trong Đảng bộ Quân đội
Ngô Xuân Cầm: “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các
đảng uỷ trung, lữ đoàn thuộc Quân khu 4 hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính
trị, Học viện Chính trị, năm 2011. Tác giả đã luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận
và thực tiễn chất lượng CTKT, GS; đánh giá thực trạng chất lượng và rút ra một số
kinh nghiệm nâng cao chất lượng CTKT, GS của các đảng uỷ trung, lữ đoàn thuộc
Quân khu 4; xác định các yêu cầu và đề xuất năm giải pháp nâng cao chất lượng
CTKT, GS của các đảng uỷ trung, lữ đoàn thuộc Quân khu 4 hiện nay.
Bùi Quang Cường:“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát ở các chi
bộ khoa giáo viên, Học viện Chính trị hiện nay”, Đề tài khoa học, Học viện Chính trị,
năm 2011. Tác giả đã đưa ra quan niệm, những yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá
chất lượng; làm rõ thực trạng, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm nâng
cao chất lượng CTKT, GS ở các chi bộ khoa giáo viên của Học viện Chính trị. Đồng
thời, tác giả làm rõ những yếu tố tác động, yêu cầu và đề xuất năm giải pháp nâng cao
chất lượng CTKT, GS của các chi bộ ở Học viện chính trị hiện nay.
Hoàng Trà (2008), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra khi
có dấu hiệu vi phạm”, Tạp chí Kiểm tra, số 3. Trong bài viết, tác giả đã đánh giá những
ưu điểm, tồn tại, hạn chế, chỉ ra những nguyên nhân và một số giải pháp cần nghiên
cứu, thực hiện đồng bộ để góp phần nâng cao chất lượng CTKT, GS nói chung, kiểm


8


quy định, quy chế của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về
CTKT, GS và kỷ luật Đảng.
* Cơ sở thực tiễn của đề tài
Là thực tiễn hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện CTKT, GS của các huyện
uỷ và UBKT huyện uỷ; các báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng, tổng kết công
tác KT,GS của thành uỷ, UBKT thành uỷ và huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải


11

Phòng; các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát của tác giả, đồng thời kế thừa có chọn lọc
kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học tiêu biểu của tập thể và cá nhân có
liên quan đến công tác KT,GS của Đảng uỷ, UBKT các cấp trong và ngoài quân đội.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành
và liên quan, trong đó chú trọng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử,
thống kê, so sánh, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học và phương
pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn
chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng:
cung cấp cơ sở khoa học để huyện uỷ và UBKT huyện uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo
CTKT, GS và nâng cao chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ
thành phố Hải Phòng hiện nay.
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu tham khảo trong quá trình giảng dạy,
học tập môn công tác xây dựng Đảng, CTKT, GS của đảng uỷ, UBKT các cấp trong
các học viện, nhà trường; nhất là đối với trường chính trị của các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
7. Kết cấu của đề tài

UBKT các cấp được tổ chức từ đảng uỷ cơ sở trở lên theo hệ thống dọc từ
trên xuống gồm: UBKT Thành uỷ (gồm 11 thành viên), UBKT quận (huyện) uỷ,
đảng uỷ khối, đảng uỷ cấp trên cơ sở (gồm 35 UBKT với 175 thành viên) và 585
UBKT đảng uỷ cơ sở với 1.775 thành viên; đồng chí chủ nhiệm UBKT là uỷ


13

viên thường vụ cấp uỷ cùng cấp, đồng chí phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ
viên cùng cấp.
* Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng
- Chức năng của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ: Ủy ban kiểm tra huyện uỷ là cơ
quan KT, GS chuyên trách của Ban chấp hành Đảng bộ huyện; nghiên cứu đề xuất
với huyện uỷ về CTKT, GS và kỷ luật Đảng; giúp huyện uỷ chỉ đạo, hướng dẫn và
KT, GS cấp uỷ, TCĐ, UBKT cấp dưới tiến hành CTKT, GS.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ:
Nhiệm vụ theo Điều 32 Điều lệ Đảng quy định: Kiểm tra đảng viên, kể cả
cấp uỷ viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn
cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Kiểm tra TCĐ cấp dưới
có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng,
nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định, quy chế, quy định của Đảng, các nguyên
tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ KT, GS và thi hành kỷ
luật trong Đảng. Giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng
cấp quản lý và TCĐ cấp dưới về việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
nghị quyết của cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của BCHTW. Xem xét,
kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp uỷ thi
hành kỷ luật. Giải quyết tố cáo đối với TCĐ và đảng viên; giải quyết khiếu nại
về kỷ luật đảng. Kiểm tra tài chính của cấp uỷ cấp dưới và của cơ quan tài chính
cấp uỷ cùng cấp.
Nhiệm vụ do huyện uỷ giao: Phối hợp với các Ban xây dựng Đảng huyện

bỏ quyết định của cấp uỷ, TCĐ cấp dưới trái với các quy định của Đảng và cấp
uỷ cấp trên về CTKT, GS và kỷ luật đảng. Thông qua CTKT, GS, khi phát hiện
đảng viên có vi phạm pháp luật, UBKT yêu cầu cơ quan pháp luật xem xét, giải
quyết theo phân cấp quản lý cán bộ và quy định của pháp luật.
- Tổ chức, cơ cấu của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ
Ủy ban kiểm tra huyện uỷ do ban chấp hành đảng bộ huyện bầu, gồm một
số đồng chí trong ban chấp hành đảng bộ huyện và một số đồng chí ngoài ban
chấp hành đảng bộ huyện. Chủ nhiệm UBKT huyện uỷ do ban chấp hành đảng
bộ huyện bầu trong số các thành viên UBKT; các phó chủ nhiệm UBKT huyện
uỷ do UBKT huyện uỷ bầu trong số các thành viên UBKT; các thành viên
UBKT, chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm UBKT huyện uỷ được ban thường vụ
thành uỷ chuẩn y. Chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm là tập thể thường trực của


15

UBKT huyện uỷ. UBKT huyện uỷ phân công một đồng chí phó Chủ nhiệm
Thường trực. Tổ chức cơ cấu cơ quan UBKT huyện uỷ do ban thường vụ huyện
uỷ quyết định. Theo Quyết định số 46-QĐ/TW “Quyết định ban hành hướng
dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
trong chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI” ngày 01 tháng 11 năm
2011 của Ban Chấp hành Trung ương: UBKT huyện uỷ có từ 07 đến 09 uỷ viên;
trong đó đồng chí chủ nhiệm là uỷ viên ban thường vụ huyện uỷ, từ 01 đến 02
phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ viên) và một số uỷ viên
chuyên trách; 02 uỷ viên kiêm chức gồm trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ
chức là uỷ viên và chánh thanh tra cùng cấp …
Trong tổng số 56 uỷ viên UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải
Phòng, có 40 uỷ viên chuyên trách (8 chủ nhiệm là uỷ viên ban thường vụ huyện
uỷ, 8 phó chủ nhiệm thường trực là uỷ viên ban chấp hành đảng bộ huyện). Có
16 uỷ viên kiêm chức (8 uỷ viên kiêm chức là uỷ viên thường vụ, trưởng ban tổ

UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng là tổng thể các hoạt
động của UBKT trong chỉ đạo, hướng dẫn, cấp uỷ, TCĐ, uỷ ban kiểm tra
cấp dưới và tổ chức thực hiện các nội dung, hình thức, biện pháp, xem xét,
theo dõi đánh giá, kết luận ưu điểm, khuyết điểm và chỉ ra phương hướng,
giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm của TCĐ và
ĐV, nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu của TCĐ, nâng cao chất lượng
đội ngũ ĐV, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, góp
phần xây dựng Đảng bộ thành phố Hải Phòng TSVM.
Quan niệm trên chỉ ra:
Mục đích công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc
Đảng bộ TPHP nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của huyện uỷ (bao gồm các khâu:
ra quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát); phát hiện người tốt, việc tốt; ngăn
ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng; góp phần thực hiện có kết quả cao nhất các
nghị quyết đã đề ra; xây dựng, củng cố cấp uỷ, TCĐ trong sạch, vững mạnh.
Đối tượng kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ
thành phố Hải Phòng
Đối tượng kiểm tra
Kiểm tra đảng viên: UBKT huyện uỷ thuộc đảng bộ TPHP kiểm tra đảng viên
có DHVP, trước hết là cấp uỷ viên cùng cấp, ĐV là CB thuộc diện cấp uỷ cùng cấp


17

quản lý; khi cần thiết kiểm tra ĐV do TCĐ cấp dưới quản lý. Trường hợp đảng viên
có dấu hiệu vi phạm là cấp uỷ viên cấp mình, đồng thời là CB diện cấp trên quản lý
(bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch UBND huyện), thì
UBKT cấp dưới báo cáo để UBKT cấp trên chủ trì và phối hợp kiểm tra; đối tượng
còn lại do UBKT cùng cấp chủ trì kiểm tra và báo cáo kết quả lên UBKT cấp trên.
Kiểm tra TCĐ: UBKT huyện uỷ kiểm tra các TCĐ cấp dưới, trước hết là cấp
dưới trực tiếp (các đảng uỷ, các chi bộ cơ sở), khi cần thiết mới kiểm tra chi bộ trực

hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy
chế, kết luận của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình; pháp luật của Nhà nước; việc
thực hiện chương trình, kế hoạch công tác toàn khoá, hàng năm của cấp uỷ, TCĐ trên
các lĩnh vực.
Đối với cấp uỷ viên và cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý : nội dung
giám sát của UBKT huyện uỷ bao gồm: việc chấp hành Cương lĩnh chính trị,
Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế,
kết luận của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình, pháp luật của Nhà nước;
việc giữ gìn đạo đức lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương; về
tiêu chuẩn ĐV, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong thực hiện nhiệm vụ ĐV; việc
thực hiện chế độ kê khai và công khai tài sản của CB, ĐV theo quy định của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Hình thức kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ
thành phố Hải Phòng: Kiểm tra ĐV, TCĐ cấp dưới có DHVP của UBKT là hình thức
kiểm tra bất thường. Theo quy chế giám sát, UBKT giám sát theo hai hình thức giám
sát: giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề.
Phương pháp KT, GS của UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP:
Phương pháp kiểm tra: kiểm tra ĐV, TCĐ khi có DHVP là một quá trình bao
gồm nhiều khâu: phát hiện, xác định đối tượng nội dung kiểm tra, thẩm tra, xác minh,
phân định đúng sai, kết luận có vi phạm hay không vi phạm, tính chất, mức độ, nguyên
nhân của vi phạm và xử lý (nếu đến mức phải xử lý), đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị
sửa chữa khắc phục. Trong đó việc phát hiện ra DHVP là khâu quan trọng hàng đầu.
Phải vận dụng linh hoạt các phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra đảng trong
kiểm tra ĐV, TCĐ có DHVP. Khi kiểm tra phải bảo đảm khách quan công tâm; không
được định kiến đối với những biểu hiện được coi là DHVP.
Phương pháp giám sát của UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP gồm hai


19




20

thành phố Hải Phòng
Công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ
thành phố Hải Phòng bảo đảm cho nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, cấp mình được
chấp hành triệt để, nghiêm túc.
Hoạt động lãnh đạo của các huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP bao gồm việc ra
nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết và KT, GS việc thực hiện nghị quyết đó. Lãnh
đạo là phải KT, GS, không KT, GS hoặc xem nhẹ, tách KT, GS khỏi sự lãnh đạo của
TCĐ đều là sai lầm và dẫn tới làm suy yếu sự lãnh đạo của TCĐ. Do đó, quá trình lãnh
đạo, các huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP phải luôn chú trọng CTKT, GS, coi đó là
nguyên tắc, một khâu quan trọng trong hoạt động lãnh đạo và xây dựng đảng bộ.
Thông qua KT, GS của UBKT để so sánh, đối chiếu các chủ trương, chỉ tiêu,
biện pháp với hoàn cảnh, điều kiện khách quan, tình hình thực tiễn của cơ quan, địa
phương, đơn vị, tìm ra những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp trong nghị quyết của
huyện uỷ (ban thường vụ), kịp thời bổ sung, sửa đổi làm cho chủ trương, biện pháp
ngày càng hoàn thiện, hợp lý và chính xác hơn, đáp ứng với sự phát triển của tình hình.
Thông qua KT, GS của UBKT huyện uỷ góp phần huy động được vai trò, trách nhiệm
của các lực lượng, các tổ chức vào thực hiện nhiệm vụ. Kết quả hoạt động KT, GS của
UBKT sẽ giúp huyện uỷ (ban thường vụ) đánh giá chính xác hơn kết quả thực hiện
nghị quyết, chỉ thị của mình trong hoạt động thực tiễn, khắc phục được tình trạng
không thực hiện đúng nghị quyết; là cơ sở có tính khách quan và tin cậy trong kiểm
chứng sự đúng đắn, trung thực của các văn bản báo cáo hay số liệu thống kê, đánh giá
của TCĐ cấp dưới. Giúp huyện uỷ (ban thường vụ) nắm được ưu điểm, khuyết điểm,
lệch lạc, sai sót, những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện nghị quyết, để
biểu dương, uốn nắn kịp thời và đề ra những biện pháp sát hợp với thực tiễn, đem lại
hiệu quả cao hơn.
Công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành

Công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành
phố Hải Phòng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, TCĐ,
xây dựng đảng bộ TSVM.
Tiến hành CTKT, GS của UBKT huyện uỷ là một phương thức đánh giá
thực trạng công tác lãnh đạo và xây dựng cấp uỷ, TCĐ các cấp; thực trạng đội
ngũ cấp uỷ viên các cấp trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong tu


22

dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, giữ mối liên hệ với cấp uỷ nơi cư
trú, với quần chúng. Đánh giá đúng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của huyện
uỷ (ban thường vụ),, những mặt ưu điểm, khuyết điểm của cấp uỷ, TCĐ, nhất là
đội ngũ cấp uỷ viên, để kịp thời có biện pháp cụ thể xây dựng TCĐ TSVM, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Đồng thời, KT, GS của UBKT huyện uỷ còn
góp phần giữ vững nền nếp, chế độ sinh hoạt Đảng, bảo đảm cho các TCĐ chấp
hành nghiêm túc, triệt để các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; xây dựng tinh
thần đoàn kết, thống nhất trong các TCĐ; khắc phục kịp thời những hiện tượng
tự do, tuỳ tiện, gây mất đoàn kết nội bộ, vi phạm kỷ luật Đảng.
1.1.2. Những vấn đề cơ bản về chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của uỷ
ban kiểm tra huyện uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng
* Quan niệm chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện
uỷ thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng
Chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP là một
phạm trù cơ bản của công tác xây dựng Đảng. Làm sáng tỏ phạm trù này có ý nghĩa rất
quan trọng cả về lý luận và thực tiễn để nhận thức đầy đủ, đúng đắn về thực trạng của
CTKT, GS, xác lập được tiêu chí đánh giá, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc
lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng của CTKT, GS của
UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP.
Nghiên cứu chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện uỷ thuộc Đảng bộ TPHP

tham mưu cho huyện uỷ lãnh đạo quán triệt, triển khai và kiểm tra tổ chức thực hiện
các nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp trên và cấp mình về CTKT, GS.
KT, GS là hình thức sinh hoạt nội bộ của Đảng, tuy nhiên đây là cuộc đấu tranh
hết sức quyết liệt, phức tạp giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu, giữa cái tích cực với cái tiêu
cực, trong các mối quan hệ tác động đan xen. Điều đó đòi hỏi các thành viên của
UBKT huyện uỷ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành mục tiêu,
lý tưởng với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, không mơ hồ, bi quan, dao động, mất
cảnh giác; dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, dũng cảm, kiên quyết
đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, có chính kiến và thái độ rõ ràng với
những biểu hiện sai trái của ĐV và TCĐ; không nể nang, né tránh, có ý thức kỷ luật,
tính nguyên tắc cao, tinh thần xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong đảng; có phẩm
chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh, tính chiến đấu cao, có kỹ năng nghiệp vụ
thuần thục, phương pháp công tác khoa học, công tâm, khách quan, sâu sát, thận
trọng và ứng xử có văn hoá; kiến thức hiểu biết sâu rộng cả về chính trị, kinh tế, văn


24

hoá, xã hội, nắm chắc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền địa phương, đơn vị, có năng lực
tổ chức thực tiễn công tác xây dựng Đảng; có trình độ lý luận, kiến thức kỹ năng,
nghiệp vụ công tác KT,GS vững vàng, phong cách tác phong công tác khoa học, luôn
chủ động, sáng tạo, linh hoạt, trung thực, khách quan, công tâm.
Đội ngũ uỷ viên UBKT, đặc biệt là chủ nhiệm UBKT huyện uỷ có phẩm chất
chính trị, đạo đức, kiến thức, năng lực và phương pháp tác phong công tác tốt, trách
nhiệm cao là điều kiện căn bản tạo lên chất lượng CTKT, GS của UBKT, theo đó là
chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện uỷ. Vì vậy, nâng cao phẩm chất, đạo đức,
xây dựng và hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác, năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ CTKT, GS, nhất là nghiệp vụ kiểm tra ĐV, TCĐ có DHVP của chủ nhiệm
và các uỷ viên UBKT huyện uỷ là nhân tố cơ bản tạo nên chất lượng CTKT, GS của

nhiều nội dung, hình thức, phương pháp, theo chế độ, thành nền nếp và một quy trình
chặt chẽ, khoa học. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả
CTKT, GS. Chất lượng CTKT, GS phụ thuộc rất lớn vào nội dung, hình thức,
phương pháp, quy trình KT, GS của UBKT huyện uỷ. Nội dung, hình thức, phương
pháp KT, GS của UBKT phải bám sát thực tiễn, phù hợp với đối tượng KT, GS đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. CTKT, GS chỉ đạt chất
lượng, hiệu quả khi nội dung KT, GS phải thực sự chính xác, khoa học, sát, đúng với
từng đối tượng, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và sự vận dụng linh hoạt,
nhuần nhuyễn, sáng tạo các hình thức, thực hiện theo chế độ, thành nền nếp và đúng
quy trình KT, GS. Vì vậy, việc xác định chính xác đối tượng, nội dung, hình thức, thực
hiện chế độ, thành nền nếp và đúng quy trình là một yếu tố quan trọng tạo nên chất
lượng CTKT, GS.
Bốn là, sự lãnh đạo của huyện uỷ, sự chỉ đạo, hướng dẫn uỷ ban kiểm tra thành
uỷ đối với công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ
Đây là nhân tố quan trọng, là điều kiện tiên quyết tạo nên chất lượng của
CTKT, GS của UBKT huyện uỷ. Sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của các cấp uỷ,
TCĐ đối với CTKT, GS là nguyên tắc cơ bản, là nhân tố có ý nghĩa quyết định chất
lượng của hoạt động này.
Trên cơ sở chủ trương lãnh đạo CTKT, GS trong nhiệm kỳ và từng năm,
cấp uỷ, UBKT các cấp trực tiếp lãnh đạo CTKT, GS bằng các nghị quyết, chỉ thị,
quy định; xác định rõ nhiệm vụ, nội dung, đối tượng và các chỉ tiêu trong từng
giai đoạn. Thông qua các TCĐ mà hạt nhân là các cấp uỷ để quán triệt, triển khai
và kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp trên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status