Luận văn thạc sĩ báo chí học Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay - Pdf 35

MỤC LỤC


CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCH TW: Ban chấp hành Trung ương
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KHKT: Khoa học kỹ thuật
KHCN: Khoa học công nghệ
KT - XH: Kinh tế xã hội
KTNN: Kinh tế nông nghiệp
KTNNNT: Kinh tế nông nghiệp nông thôn
NNNT: Nông nghiệp nông thôn.
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NQ: Nghị quyết
TW: Trung ương
TU: Tỉnh ủy


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển, phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâu
dài. Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nền sản xuất nông nghiệp truyền
thống, hơn 70% dân số sống ở nông thôn với một cơ cấu kinh tế độc canh
thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm còn rất bức bách. Tại
Hội nghị BCH TW lần thứ 7 khóa X đã ra nghị quyết 26 - NQ/TƯ “Về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn”. Nghị quyết khẳng định:
“Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa

kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất cho vùng nông nghiệp, nông thôn được
ghi nhận là xuất bản ngày càng nhiều và đa dạng với các hình thức truyền
thông hết sức phong phú như qua phim, ảnh, truyền hình, phát thanh, sách,
báo, tranh, các buổi nói chuyện chuyên đề hay tập huấn trực tiếp của cán bộ
khuyến nông tại địa phương... Tuy nhiên, hiệu quả của truyền thông khoa học
kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn còn chưa cao.
Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân đáng kể khiến cho giá trị sản
xuất nông nghiệp ở nước ta còn thấp.
Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc định hướng thông tin,
tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của người
dân. Đặc biệt thông tin về khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất ở
vùng kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay càng có giá trị to lớn trong quá
trình phát triển đất nước. Vấn đề ở đây là thông tin như thế nào, thông tin với
nội dung gì và hình thức thông tin ra sao để người nông dân hiểu và ứng dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật đó nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất
nông nghiệp là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế


3

trên, tôi chọn đề tài “Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn trên Báo chí Hưng Yên hiện nay” nhằm mục đích
tìm hiểu, đánh giá thực trạng thông tin khoa học kỹ thuật ở vùng kinh tế nông
nghiệp, nông thôn để từ đó có những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và
hiệu quả thông tin khoa học kỹ thuật ở vùng kinh tế nông nghiệp nông thôn
Hưng Yên, một địa bàn kinh tế nông nghiệp nông thôn được coi là khá điển
hình đối với khu vực đồng bằng Bắc bộ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việt Nam vốn chủ yếu là một nước sản xuất nông nghiệp với hơn 70%
dân số có đời sống gắn với kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Chính vì vậy,

2006, “Báo chí An Giang tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp” (Qua khảo sát Báo An Giang, Đài PTTH An Giang, Phân xã Thông
tấn xã Việt Nam tại An Giang). Tác giả đã nêu tình hình tuyên truyền chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở An Giang và đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền.
- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Hà Huy Hồng, năm 2007, “Nâng
cao chất lượng bài viết chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu, vùng xa trên
báo Nhân dân hàng ngày” (Khảo sát từ năm 1998 đến năm 2006). Đề tài đã
đưa ra thực trạng tuyên truyền chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu vùng
xa của các cơ quan báo chí nói chung và của báo Nhân dân nói riêng. Trên cơ
sở thực trạng đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
các bài báo viết về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu, vùng xa.
- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Nguyễn Hoàng Linh, năm 2010,
“Báo chí Hưng Yên tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn trên địa bàn tỉnh”. Tác giả đã làm rõ được vai trò của báo chí với
việc tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực
trạng công tác tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông


5

thôn và đưa ra quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của báo chí Hưng Yên.
Ngoài các đề tài nghiên cứu trên, vấn đề nông nghiệp, nông thôn cũng
được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý nước ta đặc biệt quan tâm. Có thể nêu
một số công trình nghiên cứu, lý luận tiêu biểu mà chúng tôi nắm được trong
đó có đề cập đến vấn đề truyền thông KHKT phục vụ kinh tế NNNT sau:
- “Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10
của Bộ chính trị”, PGS, TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên), NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2000. Các tác giả đã phân tích và xác định tầm quan trọng

NNNT Việt Nam. Trong tất cả các nội dung quan tâm tác giả đã đặc biệt nhấn
mạnh tới vai trò của truyền thông KHKT phục vụ phát triển sản xuất tại vùng
kinh tế NNNT Việt Nam trong quá trình đi lên CNH - HĐH.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều cho thấy được chính sách
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ CNH - HĐH là một
vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển nền kinh tế đất nước. Với ý
nghĩa đó, chúng tôi muốn đóng góp thêm vào nguồn tư liệu chung những
nghiên cứu có tính lý luận và thực tiễn về kinh tế NNNT nói chung và hoạt
động thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế NNNT nói riêng,
qua đó phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu
Thông tin về khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn trên báo chí Hưng Yên.
• Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát, nghiên cứu thực trạng thông tin khoa học kỹ thuật
phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên Báo Hưng Yên, Đài
Phát thanh - Truyền hình Hưng Yên từ năm 2007 đến 2010, đây là khoảng
thời gian phát triển kinh tế - xã hội được xác định trong nhiệm kỳ Đại hội
Đảng bộ Tỉnh Hưng Yên khóa XVI.


7

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả của thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp
nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu

tình hình thông tin khoa học kỹ thuật trên Báo chí Hưng Yên hiện nay để thấy
được những thành quả đã đạt được và những điểm còn hạn chế tồn tại trong
quá trình thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất thông qua
hoạt động của hệ thống báo chí, truyền thông. Trên cơ sở nghiên cứu thực
tiễn, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp phù hợp trong việc thông tin
khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm tạo
ra những sản phẩm báo chí có nội dung hay và thiết thực, hướng đến mục
đích phục vụ kinh tế NNNT phát triển, góp phần đạt được năng suất, chất
lượng và hiệu quả cao trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanh
tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn.
Qua nghiên cứu, khảo sát, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ trở thành tài
liệu tham khảo có ích cho việc học tập, nghiên cứu của các sinh viên ngành
Báo chí và Truyền thông, đồng thời cũng mong muốn góp phần giúp cho các
nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo, quản lý có thể định hướng và chỉ đạo các
hoạt động báo chí, truyền thông KHKT ngày càng có những đóng góp quan
trọng, thiết thực đối với sự phát triển của kinh tế nông nghiệp nông thôn trên
một địa bàn cụ thể cũng như trên cả nước.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục. Đề tài được kết cấu thành 3 chương với 14 tiết và 104 trang.


9

Chương 1
BÁO CHÍ VỚI VIỆC THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Qua nghiên cứu cuốn Từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo

đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn.
1.1.2. Khái niệm thông tin và thông tin khoa học kỹ
thuật trên báo chí
- Thông tin
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Thông tin (information) là
sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt
động của con người trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con người thông
qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những
hoạt động có ích cho cộng đồng.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục 2007:
Thông tin là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết [44, tr755]
- Khoa học kỹ thuật
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Khoa học kỹ thuật là các
ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹ thuật và thiết kế các sản
phẩm
trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa học tự nhiên.
Ngoài ra, khoa học kỹ thuật còn là tên gộp chung những khoa học cụ
thể được hình thành trên cơ sở ứng dụng những tri thức lý thuyết của các khoa
học cơ bản vào trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch
vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công
nghệ thích hợp. [41, tr508]


11

Trên cơ sở khái niệm thông tin, khoa học kỹ thuật chúng tôi đưa ra khái
niệm về Thông tin KHKT sử dụng trong luận văn này như sau:
- Thông tin khoa học kỹ thuật: Là hình thức thông tin mà trong đó nội
dung thông điệp phổ biến, tuyên truyền về những kiến thức, kỹ năng, phương
pháp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm

các khu công nghiệp để tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, điện
tử, chế biến,…Hưng Yên đang phấn đấu trở thành một tỉnh phát triển CNH HĐH với một cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư và giải quyết
tốt các vấn đề xã hội.
Hưng Yên là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, có 23 km quốc lộ 5A và
trên 20 km tuyến đường sắt Hải Nội - Hải Phòng chạy qua, ngoài ra có quốc
lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua thành phố Hưng Yên đến quốc lộ 1A (qua cầu
Yên Lệnh) và đến quốc lộ 10 (qua cầu Triều Dương), là trục giao thông quan
trọng nối các tỉnh Tây - Nam Bắc bộ (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh
Hoá…) với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh. Bên cạnh đó, Hưng Yên gần
các cảng biển Hải Phòng, Cái Lân; Sân bay quốc tế Nội Bài, giáp ranh với các
tỉnh và thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình và Hải
Dương. Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên
chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Hàng năm có hai
mùa nóng và lạnh rõ rệt tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là các cây vụ đông.
Hưng Yên mang đặc trưng của một tỉnh đồng bằng, không có đồi, núi,
địa hình tương đối bằng phẳng. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 98.084 ha, đất
nông nghiệp 61.037 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 55.645 ha (chiếm
91%), còn lại là đất trồng cây lâu năm, không có đất lâm nghiệp, mặt nước
nuôi trồng thuỷ sản, đất chuyên dùng và đất sử dụng cho các mục đích khác.
Đất chưa sử dụng khoảng 7.471 ha, toàn bộ diện tích trên đều có khả năng
khai thác và phát triển sản xuất nông nghiệp. Phần lớn đất đai của Hưng Yên


13

do phù sa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp nên ruộng đất màu
mỡ, bằng phẳng, nguồn nước ngọt rất dồi dào có thể trồng 2 - 4vụ/năm. Hưng
Yên là tỉnh trọng điểm sản xuất lúa của vùng Đồng bằng sông Hồng, có
truyền thống trồng lúa, năng suất bình quân đạt khá cao, có thể quy hoạch

quân đạt 21%/năm. Tỉnh đã phát triển một số ngành có tính động lực như điện
tử, dệt may, cơ khí và luyện thép với kỹ thuật tiên tiến. Sản phẩm đa dạng về
chủng loại, chất lượng tốt hơn, nhiều sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh
tranh lớn trên thị trường trong nước và quốc tế.
Song song với phát triển kinh tế, Tỉnh cũng rất chú trọng đến sự
nghiệp giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài. Hưng Yên nằm trong nhóm 5 tỉnh có tỷ lệ học sinh vào Đại
học cao nhất toàn quốc. Khuyến học được quan tâm, mặt bằng dân trí và chất
lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Mạng lưới giáo dục - đào tạo tiếp tục
được mở rộng, nâng cấp…
Trong thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ (2006 - 2010),
Hưng Yên đã có những chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh
tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Số hộ nghèo từ 13% năm 2006 giảm còn 3% năm 2010,
đạt yêu cầu so với nhiệm vụ mà Đại hội đề ra.
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng
Yên về vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế nông
nghiệp nông thôn
Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt nào tập trung nói về tư tưởng
kinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát biểu, nói chuyện của Người, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện những tư tưởng và quan điểm sâu sắc về kinh tế,
đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở nước ta.


15

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn là
sự cụ thể hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề nông dân, nông
nghiệp, nông thôn. Khi bàn về vai trò của sản xuất của cải vật chất là cơ sở

Điều này đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế hoạch, mục
tiêu phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy nông
nghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu đãi
đối với nông nghiệp và nông thôn.
Để phát triển kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả cao, Người rất chú ý
đến việc áp dụng kỹ thuật trong trồng trọt. Điều này, Hồ Chí Minh đã khái
quát bằng một bài thơ rất sinh động để mọi người dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ
thực hiện:
“ Nước phải đủ, phân phải nhiều
Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn
Trừ sâu diệt chuột chớ quên
Cải tiến nông cụ là nền nhà nông
Ruộng nương quản lý gia công
Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ” [16 ,tr201-202]
Khi nói về tầm quan trọng của thủy lợi hóa trong phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn - Người khẳng định: phát triển hợp tác hóa phải đi
liền với công tác thủy lợi hóa, coi thủy lợi là biện pháp hàng đầu của việc
canh nông bởi khí hậu nước ta không kém phần khắc nghiệt, nắng lắm mưa
nhiều hay gây hạn hán, lũ lụt, làm tốt công tác thủy lợi sẽ điều hòa được nước
tưới tiêu, góp phần khắc phục thiên tai.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn rất
sâu sắc. Nó vừa thể hiện tình cảm và sự quan tâm của Người đối với nông
dân, nông nghiệp, nông thôn vừa là vấn đề nhận thức đúng đắn về tính đặc thù
trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
1.3.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn


17


Đối với Đảng ta phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để đảm
bảo ổn định kinh tế - xã hội làm nền tảng phát triển đất nước. Báo cáo chính
trị Đại hội IX của Đảng đã định hướng phát triển các ngành kinh tế và các
vùng kinh tế. Đối với nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, chủ trương
của Đảng là: “Đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ về thu nhập trên
một đơn vị diện tích, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức
cạnh tranh của sản phẩm. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và
ngoài nước”[15, tr 168-169]
Sau hơn 20 năm đổi mới, đến nay Việt Nam là nước sản xuất gạo
đứng thứ hai trên thế giới. Nông nghiệp phát triển, lương thực không những
được đảm bảo mà còn tạo ra nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp nông sản
xuất khẩu. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với lợi thế,
tiềm năng và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém
bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, chưa phát huy tốt nguồn
lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và
đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, sản xuất nông nghiệp mang tính nhỏ lẻ,
phân tán, năng suất, chất lượng nhiều mặt hàng còn thấp. Tại Hội nghị TW
lần thứ 7 khóa X đã ra Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông
nghiệp nông thôn, trong đó nêu rõ:
“Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng
lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội,
trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều
kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng
sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng


19


lực, nâng cao dân trí nông dân nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn theo hướng gắn với thị trường và phát triển bền vững.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 BCH Trung ương Đảng khoá X về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 24/10/2008, Tỉnh uỷ Hưng Yên đã
xây dựng Chương trình hành động số 18/CTr-TU về việc thực hiện Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa X và ngày 31/12/2008, Uỷ
ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 149/KH-UBND về tổ chức thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của BCH Trung ương Đảng khóa X, Nghị
quyết của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong đó đã phân
công trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành, đơn vị thực hiện gồm 17 chương
trình, dự án và Quyết định số 425/QĐ-UB ngày 27/02/2009 về thành lập Ban
chỉ đạo tỉnh thực hiện kế hoạch 149/KH-UBND, hàng năm Ban chỉ đạo xây
dựng kế hoạch thực hiện. Tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương căn cứ
theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, xây dựng kế hoạch hoạt động
nhằm cụ thể hoá các chủ trương, giải pháp của Trung ương và của Tỉnh, huy
động tối đa các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Mục tiêu và nhiệm vụ của Chương trình hành động số 18/CTr - TU là
phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả
và bền vững; bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang
trại, tổ hợp tác, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Hình thành các khu công
nghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh, thâm canh, sản xuất hàng hóa chất
lượng, an toàn, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu, có
chính sách khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, xây dựng thương
hiệu sản phẩm. Mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất,
chất lượng các loại rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế. Phát triển




đề ra nhiệm vụ cụ thể đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
đó là ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến vào sản xuất, nâng cao sức
cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản. Đẩy mạnh ứng
dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất giống cây trồng, vật nuôi,
hình thành các cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; tạo ra vùng chuyên
canh, thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao; bảo quản sau thu hoạch,
chế biến nông sản theo quy trình sản xuất tiên tiến. Giới thiệu, xây dựng một
số mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà
nông để giảm thiểu rủi ro, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở Nghị
quyết của Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, chính quyền đã đề ra nhiều chương trình
cụ thể về phát triển kinh tế NNNT:
- Quyết định số 2497/QĐ - UBND ngày 4/11/2006 về việc quy định
mức chi phí về hỗ trợ thực hiện chương trình “Nạc hóa” đàn lợn và “Sind
hóa” đàn bò thời kỳ 2007 - 2010 tỉnh Hưng Yên.
- Chỉ thị số 14/CT - TU ngày 11/01/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về việc tập trung lãnh đạo sản xuất vụ đông xuân 2006 - 2007.
- Chỉ thị số 1622/UBND ngày 19/9/2008 của UBND tỉnh Hưng Yên về
việc xây dựng chương trình giống sản xuất nông nghiệp.
Có thể khẳng định rằng Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hưng Yên đã rất
quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, trong đó nhấn
mạnh đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông
nghiệp để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đạt hiệu quả, chất lượng cao.
Các Nghị quyết, chỉ thị chính sách của Tỉnh đều mang tính cụ thể, thiết thực
tác động trực tiếp vào lĩnh vực NNNT, tạo cơ sở đẩy mạnh tiến trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Tỉnh.
1.4. Vai trò của báo chí trong việc thông tin KHKT phục vụ phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status