LUẬN VĂN:
Tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn
nhà nước - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu
tranh của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới về kinh tế ở nước ta đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong
lĩnh vực đầu tư xây dựng. Ngành xây dựng đã thực sự góp phần tạo nên vóc dáng mới
của đất nước với nhiều công trình hiện đại, góp phần tích cực và sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, trong lĩnh
vực này đang tồn tại nhiều vấn đề bức xúc. Một trong những vấn đề đó là nạn tham
nhũng, tiêu cực, lãng phí, tình trạng này diễn ra phổ biến và phức tạp ở hầu hết các công
trình xây dựng, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt, gây bất bình trong dư
luận xã hội. Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, trong năm 2005 đã kết thúc 17.112
cuộc thanh tra, kiểm tra, phát hiện sai phạm 8.786 tỷ đồng, kiến nghị xử lý kỷ luật hành
chính hơn 1.000 người, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý 65 vụ với 112 người
có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Trong quý I/2006, đã tiến hành 800 cuộc thanh
tra, phát hiện sai phạm kinh tế 169,496 tỷ đồng, kiến nghị xử lý kỷ luật 109 trường hợp,
chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra 11 vụ việc. Tổng hội Xây dựng Việt Nam báo cáo về
59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng phí thất thoát cho thấy, có 27% số công trình
chất lượng kém phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sử
dụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp; 25% các công trình do quyết
toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng. Điều đó đặt ra yêu cầu cho các cơ quan bảo
vệ pháp luật cần tập trung mọi nỗ lực để đấu tranh ngăn chặn tình trạng này, đây là vấn
đề rất cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay.
Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý
tình hình tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước những
năm gần đây và hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống loại tội phạm này của lực lượng
CSĐT TPKT. Trên cơ sở đó, tìm ra nguyên nhân, điều kiện tồn tại của tình trạng tham
nhũng trong đầu tư xây dựng, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng của lực lượng CSĐT
TPKT.
- Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra của đề tài là:
+ Khái quát những vấn đề lý luận để làm rõ nhận thức về tội phạm tham nhũng
trong đầu tư xây dựng và hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống loại tội phạm này của
lực lượng CSĐT TPKT;
+ Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tình hình tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước và thực trạng hoạt động phòng ngừa, đấu tranh của lực
lượng CSĐT TPKT, xác định những khó khăn, vướng mắc và hạn chế của lực lượng CSĐT
TPKT trong tổ chức thực hiện các hoạt động đó;
+ Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm loại tội phạm này của lực lượng CSĐT TPKT.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận về tội phạm hoạt động phòng ngừa,
đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng; thực trạng tình
hình tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước và
hoạt động của lực lượng CSĐT TPKT trong phòng ngừa, đấu tranh chống loại tội phạm
này.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng tình hình tội phạm tham
nhũng trong đầu tư xây dựng và hoạt động phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng CSĐT
TPKT. Nghiên cứu khảo sát lấy số liệu từ năm 2001 đến năm 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với hệ thống những quan điểm của Đảng, Nhà
tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước theo chức năng
của lực lượng CSĐT TPKT theo hướng gắn điều tra trinh sát với điều tra tố tụng.
7. Những đóng góp mới của đề tài
Về lý luận, luận văn sẽ làm rõ thêm và bổ sung nhận thức lý luận về tội phạm
tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước; lý luận về hoạt động
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực này.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn
nhà nước của lực lượng CSĐT TPKT trong tình hình hiện nay. Đề tài có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập trong các trường đào
tạo lực lượng Cảnh sát nhân dân (CSND).
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được cấu trúc thành 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
Nhận thức chung về tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước và
hoạt động phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật
tự quản lý kinh tế và chức vụ
1.1. Nhận thức về đầu tư xây dựng và tội phạm tham nhũng trong đầu tư
xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước
1.1.1. Nhận thức về đầu tư xây dựng và những đặc điểm cơ bản của lĩnh vực
đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước liên quan đến công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm tham nhũng của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản
lý kinh tế và chức vụ
Nghiên cứu các văn bản pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng, cho thấy: đầu
50%). Các đối tượng tham nhũng chủ yếu dùng thủ đoạn chiếm đoạt tài sản thuộc sở
hữu của Nhà nước vì công tác quản lý loại tài sản này còn nhiều sơ hở.
Thực tế, hiện đang tồn tại nhiều loại vốn cho đầu tư xây dựng, nhưng xét cho
cùng, chỉ có hai loại vốn là vốn Nhà nước và vốn không phải của Nhà nước. Vốn nhà
nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
và các vốn khác do Nhà nước quản lý.
Tình trạng tham nhũng thường xảy ra đối với các nguồn vốn thuộc sở hữu nhà
nước. Theo quan niệm chung, đây là vốn "cho không", vì trách nhiệm thanh toán không
phải bằng tiền mà bằng chứng từ. Trong trường hợp thông đồng, việc tạo ra chứng từ
khống không phải là chuyện khó khăn.
Mặt khác, vốn đầu tư nhà nước hiện đang vận động theo cơ chế xin - cho. Thực
tế để nhận được tiền, chủ đầu tư, đơn vị thi công thường phải xin (xin cấp phát, hỗ trợ
vốn hoặc xin vay thông qua tín dụng ưu đãi). Có xin thì có cho. Mà thông thường, để
xin được tiền thì phải chi tiền. Hối lộ nhiều được cấp phát nhiều, hối lộ ít được cấp phát
ít. Chính vì thế, cơ chế xin - cho là mảnh đất màu mỡ để tham nhũng tồn tại và phát
triển.
- Thứ hai, để có một công trình xây dựng được triển khai thực hiện trong thực tế
thường phải trải qua nhiều khâu, với những thủ tục phức tạp như: lập dự án, khảo sát, thiết
kế; đấu thầu, giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị; kết thúc xây dựng,
nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng. Mặt khác, vật tư, thiết bị dùng cho xây dựng rất
phong phú, đa dạng và dễ thay thế. Thị trường vật tư, thiết bị dùng cho xây dựng cơ bản rất
đa dạng, nhiều chủng loại đáp ứng nhu cầu sử dụng trong xã hội và dễ tiêu thụ. Giá vật tư,
thiết bị dùng trong xây dựng cơ bản phần lớn phụ thuộc vào giá thị trường và thường liên
tục biến động. Hơn nữa, trong thực tế nhiều trường hợp rất khó kiểm soát chất lượng vì
công trình nằm sâu trong lòng đất, khối bê tông... Bên cạnh đó, điều kiện bảo vệ an toàn
cho tài sản ở các công trình còn nhiều sơ hở, nhiều nơi kho tàng, bến bãi không đảm bảo
cho công tác bảo vệ an toàn tài sản. Lợi dụng tình hình đó, các đối tượng phạm tội đã dùng
hoạt động sản xuất, kinh doanh... vào lĩnh vực mà việc thu lời, nhận hối lộ, lấy của cải
được dễ dàng nhưng khó bị phát hiện. Nếu xét tham nhũng dưới khía cạnh nhà nước, pháp
luật thì tham nhũng là những tệ nạn gắn liền với quyền lực nhà nước, không thể có tham
nhũng ngoài nhà nước, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị; là một trong những thuộc tính xấu
của nhà nước. Thuộc tính đó biểu hiện đậm, nhạt khác nhau ở mỗi kiểu nhà nước cụ thể,
cũng như ở các thời kỳ khác nhau của một nhà nước. Mức độ phát triển của tham nhũng
tùy thuộc vào sức đề kháng của nhà nước. Nhà nước nào non kém, có nhiều tiêu cực,
quản lý xã hội yếu thì tham nhũng càng có nhiều cơ hội phát triển.
ở nước ta hiện cũng đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Trong các văn bản pháp luật, khái niệm tham nhũng đã được đề cập tại Điều 1 Pháp
lệnh chống tham nhũng (được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26/02/1998),
theo đó: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt
hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các
cơ quan, tổ chức". Hành vi tham nhũng theo Pháp lệnh quy định có thể là hành vi phạm
tội được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) hoặc có thể là hành vi chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự, phải bị xử lý về mặt hành chính.
Pháp lệnh cũng quy định rõ các hành vi tham nhũng bao gồm:
1. Tham ô tài sản;
2. Nhận hối lộ;
3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;
4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;
5. Lạm quyền trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi;
7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
Ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham
nhũng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2006, thay thế cho Pháp lệnh Chống tham
nhũng. Tại khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng có quy định: "Tham nhũng
tham nhũng thành một mục riêng (mục A) trong Chương 21 - Phần Các tội phạm BLHS
1999, bao gồm 7 tội danh được coi là tội phạm về tham nhũng, từ Điều 278 đến 284:
1. Tội tham ô tài sản (Điều 278);
2. Tội nhận hối lộ (Điều 279);
3. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280);
4. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281);
5. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282);
6. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục
lợi (Điều 283);
7. Tội giả mạo trong công tác (Điều 284).
Đây là nhóm tội phạm được sắp xếp và phân loại dựa trên căn cứ chủ yếu là dấu
hiệu chủ thể của tội phạm (đây là điểm khác biệt căn bản so với việc xây dựng các chương
khác của BLHS. Đa số các chương khác được sắp xếp và phân loại căn cứ vào khách thể
của tội phạm, do vậy nhóm tội phạm đó chỉ xảy ra trên một hoặc một số lĩnh vực cụ thể của
đời sống xã hội). Cách sắp xếp và phân loại này phản ánh một thực tế là các tội phạm tham
nhũng có mặt trên hầu khắp các lĩnh vực quản lý nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Trên cơ sở các nội dung đã phân tích và quy định của BLHS 1999 chúng ta có thể
hiểu: "Tội phạm về tham nhũng là những tội phạm quy định trong BLHS do người có chức
vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý, vì mục đích vụ lợi, xâm phạm đến quyền sở hữu tài
sản, lợi ích hợp pháp khác, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và hoạt động đúng đắn của
cơ quan nhà nước, tổ chức".
- Tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước và các
dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó.
Tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước là hành vi
nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự gây ra, xâm hại đến
trật tự quản lý kinh tế, xâm hại đến tài sản và các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập
thể và của công dân trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.
phát từ vụ lợi hoặc động cơ tư lợi khác để thỏa mãn mưu cầu tiền tài, địa vị, danh vọng,
uy tín... ở các mức độ khác nhau một cách trái pháp luật.
Yếu tố chủ quan này là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng bộc lộ:
đây chính là đặc trưng mà tính chất thủ đoạn của hành vi phạm tội quyết liệt, tinh vi, trắng
trợn... Động cơ trục lợi, vụ lợi thôi thúc người có hành vi phạm tội gia tăng, bằng mọi giá,
do vậy thường gây ra hậu quả xã hội rất nghiêm trọng.
Tuy nhiên, dấu hiệu đặc trưng của các tội phạm này được phân biệt bởi dấu
hiệu khách quan của hành vi và chủ thể vi phạm:
Tội tham ô: (Điều 278) về mặt khách quan là hành vi của người có chức vụ,
quyền hạn chiếm đoạt tài sản mình đang quản lý, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được
giao như là một phương tiện để biến tài sản do mình trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý
thành tài sản của mình hoặc người khác. Hành vi phạm tội là có thể thực hiện không
đúng hoặc vượt thẩm quyền được giao như lập dự toán vượt xa nhu cầu thực tế để ấy
tiền chênh lệch, xác nhận, kê khai khống, sửa chữa hóa đơn, chúng từ về giá cả, khối
lượng vật tư, đền bù, đo đạc, xác nhận thiệt hại sai về diện tích, chủng loại...
Về chủ thể của tội tham ô là các cán bộ có thẩm quyền trong cơ quan chủ đầu
tư, các Ban quản lý dự án, Hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng, Hội đồng tư vấn...
chuyên viên lập dự toán.
Tội nhận hối lộ: (Điều 279) là hành vi nhận hối lộ để thực hiện một việc thuộc
trách nhiệm của mình vì lợi ích vật chất hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ như
nhận hối lộ để quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế, xác nhận khống về diện tích, tình
trạng tài sản trên diện tích đất bị thu hồi để nhận tiền đền bù hoặc nhận cao hơn mức qui
định...
Hay hành vi nhận hối lộ để không làm một việc mà theo qui định phải làm vì lợi
ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, như không lập biên bản vi phạm thiết kế
trong quá trình thi công...
Chủ thể của tội nhận hối lộ là các cán bộ công chức nhà nước được giao nhiệm
vụ nghiên cứu quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế, giám sát thi công... như cán bộ Ban
Trên đây là đặc điểm dấu hiệu khách quan và chủ thể của một số tội phạm tham
nhũng phổ biến trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước. Còn các loại tội phạm
tham nhũng khác như lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lạm quyền trong
khi thi hành công vụ và giả mạo trong công tác chưa thấy xuất hiện trong đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn nhà nước.
1.1.2.3. Hậu quả của tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà
nước
1- Hậu quả về kinh tế - kỹ thuật
Hậu quả đầu tiên mà tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà
nước đem lại là gây thiệt hại đến tài sản, tức là làm Nhà nước mất tiền. Như đã phân
tích ở trên, dù tham nhũng có diễn ra dưới hình thức nào, tham ô hay hối lộ, chi cho bất
kỳ ai... thì tất cả các khoản đó cuối cùng đều được hạch toán vào công trình, tức là vào
nguồn vốn nhà nước. ở công trình nhỏ, tham ô, hối lộ... ít thì Nhà nước mất tiền ít; ở
công trình to, tham ô, hối lộ... nhiều thì Nhà nước mất tiền nhiều.
Hậu quả thứ hai mà tham nhũng đem lại là làm giảm chất lượng công trình vì
tất cả các khoản chi hối lộ, tham ô... đều biến thành xi măng, sắt thép... khống. Tham ô,
hối lộ ít thì chất lượng công trình giảm ít; tham ô, hối lộ nhiều thì chất lượng công trình
giảm nhiều. Giảm ở mức độ nào đó thì sau khi nghiệm thu, công trình sử dụng được
một thời gian ngắn đã phải duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa. Giảm ở mức độ lớn hơn thì
chưa sử dụng đã bị nứt, lún... và thậm chí có khi chưa kịp nghiệm thu đã sụp đổ, hư
hỏng nặng, buộc phải đầu tư xây dựng lại.
Hậu quả thứ ba mà tham nhũng đem lại là cung cấp cho đất nước những công
trình với máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ lạc hậu của thế giới. Điều này thường
xảy ra đối với các công trình xây dựng cơ bản có nhập máy móc, thiết bị và kỹ thuật
công nghệ của nước ngoài.
Còn hậu quả thứ tư, đó là tham nhũng thường làm chậm tiến độ đầu tư xây
dựng, tức là làm chậm lại việc đưa công trình vào sử dụng, mà công trình chậm được
đưa vào khai thác, sử dụng ngày nào thì có nghĩa là Nhà nước mất tiền ngày ấy.
Hậu quả thứ ba mà tham nhũng đem lại là đồng thời với việc tạo ra một lớp
người sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của quảng đại quần chúng nhân dân, vi
tham nhũng là có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện "tích
lũy nguyên thủy tư bản", nó tạo ra một lớp người chi phối hoạt động lập pháp, hành
pháp và tư pháp và do đó, làm cho nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng
tăng.
Hậu quả thứ tư không thể không nói đến là vì vậy, nó gây bất bình trong quần
chúng nhân dân và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với chính quyền. Đây là điều dễ
hiểu bởi vì, thứ nhất, thông qua tham nhũng, nhân dân nhìn thấy một bộ phận không
nhỏ cán bộ thoái hóa biến chất và do đó, hiệu lực quản lý của Nhà nước bị suy giảm;
thứ hai, tham nhũng là cái cớ để các thế lực thù địch kích động nhân dân chống lại
chính quyền, thực hiện "diễn biến hòa bình"; thứ ba, vì nguồn vốn nhà nước được huy
động chủ yếu thông qua các khoản đóng thuế của dân nên bất kỳ hành vi tham nhũng
nào xảy ra trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước cũng đều là lấy tiền của
dân. Vì vậy, tham nhũng xảy ra càng nhiều bao nhiêu thì sự bất bình trong các tầng lớp
dân cư càng tăng bấy nhiêu và lòng tin của dân đối với chính quyền càng giảm bấy
nhiêu. Đến một mức độ nào đó, hậu quả mà tham nhũng mang lại có thể gây nên các
điểm nóng về chính trị, dân biểu tình chống chính quyền, đe dọa sự tồn vong của chế
độ.
1.2. Nhận thức cơ bản về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tham
nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng Cảnh sát
điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của lực lượng Cảnh sát điều tra
tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
1.2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng Cảnh sát điều tra tội
phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
Căn cứ Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội
thông qua ngày 20/8/2004, căn cứ vào Nghị định số 136/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của
Xây dựng lực lượng CAND về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của
Phòng và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế về chức vụ, thì lực
lượng CSĐT TPKT được tiến hành điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm được
quy định tại các chương XIV, XVI, XVII, XXI của BLHS thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án nhân dân các cấp trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan an
ninh điều tra trong Công an nhân dân (CAND). Theo quy định hiện hành lực lượng
CSĐT TPKT được tiến hành hoạt động điều tra đối với các tội phạm được qui định tại
60 điều của BLHS:
- Các tội phạm được qui định từ Điều 153 đến 181 thuộc Chương XVI Các tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
- Các tội phạm về tham nhũng qui định tại các điều từ Điều 278 đến 284 thuộc
mục A và các tội phạm sau thuộc mục B Chương XVI các tội phạm chức vụ: Tội thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 258); Tội đưa hối lộ (Điều 289); Tội làm
môi giới hối lộ (Điều 290); Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn
để trục lợi (Điều 291).
- Các tội phạm xâm phạm sở hữu chương XIV: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(Điều 139); Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); Tội chiếm giữ trái phép
tài sản (Điều 141); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); Tội thiếu tinh thần trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước (Điều 144); Tội vô ý gây thiệt
hại tài sản của nhà nước (Điều 145) trong trường hợp đối tượng lợi dụng tư cách pháp
nhân của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để
phạm tội.
- Các tội phạm từ Điều 182 đến 191 thuộc Chương XVII. Các tội phạm về môi
trường.
- Các tội phạm thuộc chương XIX. Các tội phạm: Tội tạo ra và lan truyền, phát
tán các chương trình vi-rút tin học (Điều 224); Tội vi phạm các qui định về vận hành,
khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225); Tội sử dụng trái phép thông tin
trên mạng và trong máy tính (Điều 226); Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà
hướng dẫn và điều tra án tham nhũng và chức vụ.
Sơ đồ hệ thống tổ chức, phân cấp quản lý và chỉ đạo lực lượng
CSĐT TPKT thuộc bộ công an
Bộ Công an
TCII
Cục CSĐT
TPKT
TCI
C12
TCIII
TCIV
C13
C14
Phòng Tham mưu
Phòng PN, ĐT án KT công
Phòng PN, ĐT án KT nông nghiệp,
Phòng PN, ĐT án KT tổng hợp
Phòng PN, ĐT án KT giao thông,
Phòng PN, ĐT án kinh tế tài
Đội HD, điều tra án kinh tế
+ Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có phòng CSĐT TPKT (PC15).
Tùy theo tính chất, đặc điểm và yêu cầu công tác ở từng địa phương mà Phòng
CSĐT TPKT có cơ cấu tổ chức theo mô hình phù hợp. Về mô hình tổ chức của Phòng
CSĐT TPKT Công an các tỉnh, thành phố hiện nay chưa có mô hình tổ chức thống nhất.
Căn cứ vào đặc điểm, tình hình tội phạm kinh tế tại địa phương, Giám đốc Công an tỉnh,
thành phố quyết định về mô hình, tổ chức, biên chế của Phòng CSĐT TPKT. Thông
thường Phòng CSĐT TPKT các tỉnh thành phố bố trí theo mô hình các đội nghiệp vụ
chuyên sâu theo đối tượng đấu tranh hoặc theo ngành, hàng lĩnh vực như:
* Theo đối tượng đấu tranh gồm: Đội tham mưu; Đội hướng dẫn, điều tra án
tham nhũng và chức vụ; Đội Phòng ngừa, đấu tranh án buôn lậu, hàng giả, xâm phạm sở
hữu trí tuệ;
* Theo ngành hàng, lĩnh vực: Đội tham mưu; Đội Phòng ngừa, đấu tranh án công
nghiệp - xây dựng; Đội Phòng ngừa, đấu tranh án nông nghiệp, nông thôn; Đội Phòng
ngừa, đấu tranh án trong lĩnh vực kinh tế tổng hợp và các tội phạm kinh tế khác.
Riêng hai thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
mô hình tổ chức của các phònáiCĐT TPKT được bố trí theo ngành hàng, lĩnh vực gồm
10 đội nghiệp vụ.
+ Cấp quận, huyện, thị xã có đội CSĐT TPKT.
1.2.2. Cơ sở pháp lý và các biện pháp công tác trong phòng ngừa, đấu tranh
chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
1.2.2.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng
trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng Cảnh sát điều tra tội
phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
Trong từng giai đoạn của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng
và Nhà nước ta luôn đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với điều kiện và hoàn