Trang 1/ 82
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam có truyền thống phục vụ đầu tư
phát triển, thực hiện nhiệm vụ huy động mọi nguồn vốn để đầu tư và phát tirển,
góp phần thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Hiện nay, hoạt
động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt nam và đây là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ quá hạn có xu
hướng ngày càng gia tăng, có nguy cơ dẫn đến mất vốn. Trước sức ép tăng
trưởng của nền kinh tế, nhu cầu đầu tư xã hội vẫn còn rất lớn vừa là cơ hội để
mở rộng tín dụng, đồng thời cũng tạo áp lực vay vốn đến các ngân hàng thương
mại nói chung và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam nói riêng. Việc
chuyển đổi các Doanh nghiệp nhà nước và giải quyết nợ đọng trong xây dựng cơ
bản diễn ra rất chậm, một số doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, mất
khả năng thanh toán, một số doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại nhưng chứa
dựng nhiều rủi ro, điều này ảnh hướng đến hoạt động tín dụng và chất lượng tín
dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam.
Nhằm cơ cấu lại hoạt động và lành mạnh hoá tình hình tài chính để hội
nhập và phát triển, điều quan trọng là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
phải chủ động kiểm soát tăng trưởng tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng và
đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng trong thời gian tới. Để đạt được mụa
tiêu này, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam cần phải đưa ra những giải
pháp thích hợp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Đó là lý do Tôi
chọn đề tài nghiên cứu “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam - thực trạng và giải pháp phòng ngừa” .
2.
Mục tiêu của đề tài:
Trang 2/ 82
Mục tiêu của đề tài làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Làm rõ và góp phần hoàn thiện lý luận về rủi ro tín dụng.
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro và
1997 đònh nghóa : Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật
này còn đònh nghóa : Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập
theo quy đònh của Luật này và các quy đònh khác của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dòch vụ thanh toán .
Luật Tổ chức tín dụng không có đònh nghóa hoạt động ngân hàng vì khái
niệm này đã được đònh nghóa trong luật Ngân hàng Nhà Nước, cũng do Quốc
hội khóa X thông qua cùng ngày, Luật Ngân hàng nhà nước đònh nghóa : Hoạt
động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
ứng dòch vụ thanh toán.
Như vậy, xét về bản chất thì ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp
đặc biệt trên thò trường. Nó là doanh nghiệp vì cũng có vốn riêng, mua vào bán
ra, chi phí, lợi nhuận....Nó là doanh nghiệp đặc biệt vì kinh doanh hàng hóa đặc
biệt là tiền tệ, vàng bạc, chứng khoán ..., làm dòch vụ ngân hàng theo quy đònh
của pháp luật
1.2
CÁC NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (nghiệp vụ nợ):
Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng
Trang 4/ 82
1.2.1.1 Vốn điều lệ và các quỹ:
-
Vốn điều lệ: là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt
động và được ghi vào bản điều lệ hoạt động của ngân hàng. Vốn điều phải đạt
mức tối thiểu theo quy đònh của pháp luật (ở các nước và Việt Nam đều có quy
đònh mức vốn pháp đònh cho mỗi loại hình ngân hàng). Vốn điều lệ được ngân
sách nhà nước cấp phát nếu đó là ngân hàng công, do các cổ đông góp theo cổ
phần nếu là ngân hàng cổ phần. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng
- Vay của các NHTM khác qua thò trường liên ngân hàng …
- Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế…
1.2.1.4 Nguồn vốn khác:
Vốn tiếp nhận từ ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án
theo kế hoạch tập trung của nhà nước, vốn chiếm dụng của khách hàng trong
quá trình thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt.
1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Với nguồn vốn có được, ngân hàng sử dụng các hoạt động như sau:
1.2.2.1 Thiết lập dự trữ:
Các NHTM không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh,
mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu sau:
- Thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy đònh của NHNN.
- Thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán chuyển khoản của khách hàng.
- Chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi.
- Đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng.
- Thực hiện các khoản chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng…
Trang 6/ 82
- Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại
ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.
1.2.2.2 Cấp tín dụng:
Bao gồm cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, chiết khấu thương phiếu và
các chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh.
1.2.2.3 Đầu tư:
Ngân hàng thương mại sử dụng các nguồn vốn ổn đònh để thực hiện các
hình thức đầu tư nhằm kiếm lời và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng. Các
hình thức đầu tư bao gồm :
- Góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp và các
TCTD khác.
- Mua chứng khoán và các giấy tờ có giá trò để hưởng lợi tức và chênh
lệch giá.
không đầy đủ, dẫn đầu tư hoặc cho vay không hợp lý.
- Do hoạt động kinh trái pháp luật hoặc tham ô.
- Do cán bộ Ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ
nghiệp vụ.
1.3.2.2 Những nguyên nhân thuộc về khách hàng:
- Do khách hàng thiếu năng lực pháp lý: ngøi vay phải có đủ năng lực
hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Ví dụ ở hầu
hết các nước đều quy đònh người dưới 18 tuổi không đủ tư cách pháp lý
để ký kết hợp đồng tín dụng và người đại diện cho công ty ký kết hợp
đồng tín dụng phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty.
Trang 8/ 82
- Sử dụng vốn vay sai mục đích kém hiệu quả.
- Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được.
- Quản lý vốn vay không hợp lý dẫn đến thiếu khả năng thanh khoản.
- Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô lừa đảo.
- Do mất đoàn kết trong nội bộ Hội Đồng Quản Trò, Ban Giám Đốc.
1.3.2.3 Những nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường
họat động kinh doanh:
- Do thiên tai hỏa hoạn.
- Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân
thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thường.
- Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vó mô.
1.3.3 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng:
1.3.3.1 Xây dựng một chính sách tín dụng hiệu quả.
Mục đích: cung cấp đường lối cụ thể của ngân hàng cho nhân viên tín dụng
và các nhà quản trò khi đưa ra quyết đònh cho vay đối với khách hàng.
Hỗ trợ cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay có thể kết hợp
nhiều mục tiêu khác nhau (tăng lợi nhuận, kiểm soát rủi ro, thỏa mãn các yêu
cầu về mặt pháp lý…)
Nội dung : phải xác đònh được quy mô tín dụng, đó chính là tỷ trọng của
tiến hành kiểm tra.
•
Nguyên tắc 2: khi kiểm tra đánh giá thẩm đònh cần xem xét một cách
cẩn thận những đặc điểm quan trọng của mỗi khoản vay. Cụ thể :
- Thành tích của người đi vay: việc trả nợ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Trang 10/ 82
- Chất lượng và tình trạng của tài sản đảm bảo.
- Quyền chi phối của ngân hàng đối với tài sản đảm bảo: ngân hàng có đủ
tư cách về mặt pháp lý trong trường hợp phát mãi tài sản khi người đi
vay không trả được nợ.
- Đánh giá tình trạng tài chính và những dự báo về năng lực trả nợ của
người vay xem có thay đổi so với trước đây hay không.
- Đánh giá xem khoản vay này có phù hợp với chính sách tín dụng của
ngân hàng hay không.
•
Nguyên tắc 3: Ngân hàng phải luôn theo dõi tình trạng của các khoản
vay lớn nhất.
•
Nguyên tắc 4: Nhận diện và xử lý kòp thời đối với các khoản vay có vấn
đề từ đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm tình trạng phức tạp và nợ khó
đòi.
•
Nguyên tắc 5: Tăng cường lòch trình giám sát theo dõi khi nền kinh tế
lâm vào tình trạng suy thóai, khủng hoảng hoặc phần lớn các khoản vay
của ngân hàng phát sinh nhiều vấn đề đáng chú ý.
1.3.3.3 Xử lý các khoản nợ vay có vấn đề:
Dấu hiệu:
- Người vay có những trì hoãn không bình thường hoặc không giải thích
được trong việc chậm nộp các báo cáo tài chính, trả nợ hoặc không liên
nguồn lực sẵn có của người đi vay để thu hồi phần nào số nợ vay. Ví dụ:
giá thanh lý tài sản ước tính, tài khoản tiền gửi của khách hàng, tài sản
đảm bảo.
Trang 12/ 82
- Sử dụng những phương án hợp lý để làm sạch những khoản vay có vấn
đề, bao gồm những biện pháp từ nhẹ nhàng đến kiên quyết tuỳ theo tình
trạng của khoản vay.
Đối với những khoản nợ khó đòi có hai phương pháp xử lý:
Thứ nhất : Là quá trình làm việc với người đi vay cho đến khi nào thu hồi
được một phần hoặc toàn bộ khoản tín dụng mà ngân hàng không cần sử
dụng đến một công cụ pháp lý nào ( chỉ áp dụng đối với những khách hàng
trung thực, có trách nhiệm và mong muốn trả nợ vay cho ngân hàng), chẳng
hạn như:
* Xem xét giúp đỡ doanh nghiệp trả nợ:
Cán bộ Ngân hàng có thể đề nghò doanh nghiệp bán sản phẩm, thu nợ, tiếp
tục sản xuất kinh doanh … để có nguồn giải quyết nợ vay.
Đề nghò người vay giảm bớt kế hoạch phát triển dài hạn để tăng cường vốn
sản xuất kinh doanh.
Giúp doanh nghiệp thu hồi các khoản nợ, xử lý hàng tồn kho…
* Nếu các giải pháp trên không thể cải thiện được tình hình trả nợ của
doanh nghiệp, Ngân hàng sẽ phải giải quyết từ phía mình, như:
Cấp thêm vốn tín dụng : Đây là giải pháp tạo điều kiện cho doanh nghiệp
có khả năng tăng năng suất, tăng khả năng cạnh tranh để cải thiện tình hình tài
chính. Song, nếu chọn giải pháp này ngân hàng cần phải xem xét lại, phải nhìn
thấy được khả năng cải thiện thì mới quyết đònh cấp thêm vốn.
Gia hạn khoản vay: Đây là giải pháp đơn giản nhất, vì có thể do biến động
thò trường, biến động chu kỳ sản xuất nên khách hàng không thể trả nợ vay đúng
hạn.
Trang 13/ 82
TCTD có thể khai thác, sử dụng tài sản đảm bảo. Số tiền thu được từ việc sử
dụng, khai thác tài sản này được trừ vào nghóa vụ trả nợ sau khi trừ các chi phí
cần thiết.
Xử lý theo pháp luật: nếu doanh nghiệp phá sản, mất khả năng thanh toán
hay cố ý lừa đảo thì ngân hàng sẽ yêu cầu toà án xử lý theo luật đònh.
Xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro:
Về nguyên tắc, biện pháp này chỉ được áp dụng đối với các khoản nợ xấu:
sau khi ngân hàng đã áp dụng hết các biện pháp khắc phục và xử lý mà vẫn
không thể thu hồi được nợ; hoăc các khoản nợ đã phát mại hết tài sản nhưng vẫn
còn chênh lệch âm (cả gốc và lãi); hoặc các khoản vay bò rủi ro do nguyên nhân
khách quan mà không thể khắc phục được.
Sử dụng quỹ dự phòng để bù đắp những khoản rủi ro tín dụng xảy ra làm
lành mạnh hoá tài chính của ngân hàng chứ không có nghóa là xoá hoàn toàn nợ
vay cho khách hàng. Đối với các khoản nợ được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro
(chuyển theo dõi ngoại bảng). Những khoản vay có rủi ro sau khi được bù đắp
bằng quỹ dự phòng rủi ro sẽ được chuyển ra ngoại bảng để theo dõi tận thu,
Ngân hàng vẫn phải dùng các biện pháp khắc phục và xử lý để thu hồi nợ.
Việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của các TCTD phải tuân thủ theo quyết đònh
493/2005/ QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005, việc phân loại nợ và tỷ lệ
trích lập dự phòng cụ thể như sau :
- Nhóm 1: ( Nợ đủ tiêu chuẩn) 0%.
Trang 15/ 82
- Nhóm 2 : ( Nợ cần chú ý) 5%.
- Nhóm 3 : ( Nợ dưới tiêu chuẩn) 20%.
- Nhóm 4: ( Nợ nghi ngờ) 50%.
- Nhóm 5 : ( Nợ có khả năng mất vốn) 100%.
Số tiền dự phòng cụ thể phải trích tính theo công thức : R= max{0, A- C}x r
trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích, A: giá trò khoản nợ, C: giá trò của
tài sản đảm bảo, r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể.
1.4.2 Mô hình tính điểm tín dụng: mô hình điểm số Z
Mô hình này có tác dụng phân loại những người vay căn cứ vào mức độ rủi ro có
liên quan đến các chỉ tiêu (Xj) phản ánh các đặc điểm tài chính và kinh doanh
của họ. Ví dụ: mô hình Altman dành cho các công ty sản xuất của Mỹ.
Z= 1.2X1 + 1.4X2 + 3,3X3 + 0.6X4 + 1.0X5
Trong đó:
X1 = tỷ lệ giữa vốn lưu động và tổng tài sản có
X2 = tỷ lệ giữa lợi nhuận tích lũy và tổng tài sản có
X3 = tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi suất trên tổng tài sản có
X4 = tỷ lệ giữa giá thò trường của cổ phiếu và giá kế toán của các khoản nợ dài
hạn
X5 = tỷ lệ giữa doanh thu và tổng tài sản có
Theo mô hình này, bất kỳ khách hàng nào có điểm số Z nhỏ hơn 1,81 sẽ
bò xếp vào khu vực có rủi ro cao. Trong trường hợp cụ thể này các tổ chức tín
dụng không nên cấp tín dụng cho đến khi khách hàng cải thiện được chỉ số thu
nhập của họ.
Mô hình này đơn giản nhưng có 1 số nhược điểm sau:
Trang 17/ 82
- Mô hình này cho phép phân loại 2 nhóm người vay có rủi ro và không có
rủi ro. Trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách
hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả được lãi cho đến
mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay. Điều này chỉ ra rằng
việc phân loại các khách hàng có rủi ro nên chi tiết hơn để kỹ thuật này
trở nên chính xác hơn.
- Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh
tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức Altman là bất biến, dù
trong thời gian ngắn.
- Không tính đến một số nhân tố khó đònh lượng như danh tiếng của khách hàng
hoặc mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng .
- Tóm lại : chương một đã nêu ra cơ sở lý luận về nguyên nhân rủi ro tín
hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Đến năm 1991 đổi tên là Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
- Năm 1996, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam bắt đầu hoạt
động theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước và là doanh nghiệp nhà
nước hạng đặc biệt.
Ngay từ khi được thành lập, với vai trò là ngân hàng chuyên ngành phục
vụ trong lónh vực xây dựng cơ bản, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đã sử dụng
các nghiệp vụ Ngân hàng như: cho vay vốn lưu động thi công xây lắp, sản xuất,
cung ứng vật liệu xây dựng, thanh toán trong xây dựng cơ bản để chuyển tải
toàn bộ vốn Ngân sách Nhà nước giành cho xây dựng cơ bản, góp phần hình
thành nên cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho đất nước, góp phần thực hiện các
nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
và Nhà nước, nhất là từ năm 1996 đến nay, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát triển
Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng về quy mô
và phạm vi hoạt động, có tốc độ tăng trưởng cao về kinh doanh tiền tệ với năng
suất, chất lượng, hiệu quả, đúng pháp luật, an toàn, tích cực đóng góp cho ngân
Trang 19/ 82
sách Nhà Nước, phát triển cả bề rộng và bề sâu tổ chức cán bộ, quản lý điều
hành, tăng năng lực tài chiùnh, nâng cao trình độ công nghệ, uy tín và tín nhiệm.
Từ một Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc Bộ Tài Chính, Ngân hàng
Đầu tư và Phát Triển đã trở thành một hệ thống ngân hàng lớn mạnh và là một
trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh hàng đầu ở Việt Nam. Từ 8 chi
nhánh và 200 cán bộ đầu tiên khi mới thành lập, trải qua nhiều giai đoạn phát
triển thăng trầm, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam đã tiến một bước dài trong quá trình phát triển. Đến nay, hệ
thống Ngân hàng Đầu tư và Phát Triển Việt Nam có 77 Chi nhánh cấp 1, 51 Chi
nhánh cấp 2, 92 Phòng giao dòch trên toàn quốc, Văn phòng đại diện tại TP.Hồ
Chí Minh, 2 trung tâm là Đào tạo và công nghệ thông tin và có 3 công ty: Cho
thuê tài chíùnh, chứng khoán và công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, 3 đơn vò
liên doanh với nước ngoài (QBE, VLB, VID Public Bank) và hùn vốn với nhiều
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh có lãi không nhiều, sức cạnh tranh
thấp trong khi tiến trình đổi mới sắp xếp lại các doanh nghiệp này diễn ra chậm,
do đó ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
2.2.2 Kết quả họat động kinh doanh tại Ngân hàng Đầu tư và phát
triển Việt Nam.
Nhận thức được đầy đủ khó khăn thách thức trong giai đoạn mới, BIDV
đã tranh thủ thời cơ, khắc phục khó khăn và đạt được những thành tựu quan
trọng như: tăng trưởng an toàn, hiệu quả, tạo lập tiền đề để hội nhập và phát
triển theo hướng xây dựng tập đoàn tài chính đa năng và hội nhập quốc tế. Qua
Trang 21/ 82
các năm toàn hệ thống đã đạt được một số kết quả khả quan trên nhiều mặt như
sau:
Giữ vững tốc độ tăng trưởng cao, tổng tài sản tăng dần qua các năm,
cuối năm 2004 đạt 103.941 tỷ đồng tăng 14,5% số tuyệt đối 13.116 tỷ đồng so
với năm 2003 và tăng 120% so với năm 2000 số tuyệt đối 56.678 tỷ đồng cụ thể :
Bảng 1 : Tăng trưởng tài sản của BIDV từ năm 2000-2004
ĐVT : Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Tổng tài sản 47.263 59.949 70.802 90.825 103.941
(Nguồn : báo cáo tổng kết BIDV qua các năm)
Về huy động vốn : nguồn vốn huy động tăng trưởng liên tục qua nhiều
năm do BIDV mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn cùng với việc
triển khai nhiều hình thức huy động vốn như: chứng chỉ tiền gửi, tiết kiệm có
quà tặng và những biện pháp khuyến mãi hấp dẫn, lãi suất được điều chỉnh linh
hoạt, cụ thể tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế như sau :
Bảng 2: Huy động vốn của BIDV từ năm 2000-2004
ĐVT : tỷ đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004
Tổng nguồn huy động 30.888 39.049 46.189 60.024 67.938
Trong đó : dân cư 60.7% 61% 56% 52% 54%
2000
n ă m
2001
n ă m
2002
n ă m
2003
n ă m
2004
t ỷ đồng
Tổng dư nợ - D ư nợ ngắn hạn - D ư nợ TD H
(Nguồn : báo cáo tổng kết BIDV qua các năm)
2.2.3 Tình hình dư nợ tín dụng và nợ quá hạn qua các năm của các Ngân
hàng thương mại quốc doanh khác:
Trang 23/ 82
Bảng 4: Dư nợ tín dụng của 3 NHTM quốc doanh
ĐVT : tỷ đồng
Ngân hàng 2001 2002 2003 2004
Đầu tư 41.434 51.634 59.157 67.903
Công thương 39.594 47.120 51.779 66.516
Nông nghiệp 60.030 81.357 120.687 142.294
(Nguồn : báo cáo thường niên của các ngân hàng qua các năm)
Qua số liệu trên ta thấy mức tăng trưởng tín dụng của 3 Ngân hàng thương
mại quốc doanh ngày càng tăng, trong đó Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam có số dư nợ cao nhất trong tất cả các Ngân hàng, kế đến là
Ngân hàng Đầu tư.
- Hiện nay, theo cơ chế thò trường, các NHTM cho vay đa lónh vực ngành
nghề, không còn cho vay chuyên biệt như tên gọi vốn có của nó điển hình như
Ngân hàng nông nghiệp hiện nay cho vay cả khách hàng thương mại, xây dựng,
(Nguồn : báo cáo thường niên của các ngân hàng qua các năm)
- So sánh số liệu ở bảng trên ta thấy : cuối năm 2004 nợ quá hạn tại Ngân
hàng Công Thương Việt Nam giảm so với năm 2003 số tuyệt đối giảm 647 tỷ
đồng, điều này thể hiện Ngân hàng Công Thương đã tích cực thu hồi nợ quá hạn
để lành mạnh hoá tài chính từng bước cũng cố và phát triển trong khi đó Ngân
hàng nông nghiệp và BIDV nợ quá hạn có xu hướng tăng dần qua các năm, số
liệu này phản ánh chất lượng tín dụng của các ngân hàng này đã chứa đựng rủi
ro, do đó cần phải có giải pháp hữu hiệu để hạn chế nợ quá hạn.
2.3
NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
- Ngân hàng là người cung cấp tín dụng cho các tổ chức, doanh nghiệp và
cá nhân trong xã hội. Nền kinh tế càng phát triển quan hệ tín dụng càng trở nên
đa dạng, việc phát sinh nợ quá hạn khó đòi là yếu tố tất nhiên trong hoạt động
kinh doanh, tình trạng nợ dây dưa trong thời gian gần đây đã được cảnh báo,
nhưng cho đến nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục, do đó ngân
hàng phải đối mặt với rủi ro rất cao, đây là vấn đề cần được quan tâm. Hoạt
động tín dụng tại BIDV cũng không thể tránh khỏi những rủi ro này, hiện nay tại
BIDV hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính tạo ra lợi nhuận nhiều nhất và
cũng chứa đựng nhiều rủi ro không chỉ về tiền vốn, tài sản mà cả về con người
Trang 25/ 82
lẫn uy tín của ngân hàng. Chất lượng tín dụng trong những năm qua tại BIDV đã
từng bước bộc lộ rõ nét, nợ quá hạn có xu hướng gia tăng qua các năm: năm
2004 tăng 782 tỷ tốc độ tăng 42,2% so với năm 2003 và tăng 2.014 tỷ, tỷ lệ tăng
479% so với năm 2000, đặc biệt 06 tháng đầu năm 2005 tổng số nợ quá hạn là
4.224 tỷ đồng tăng 1.790 tỷ đồng so với cuối năm 2004, chiếm : 4.224 tỷ/ 74.700
tỷ= 5,7% trên tổng dư nợ, tỷ lệ này đã vượt kế hoạch nợ quá hạn đã đặt ra là :
<= 4%.
Bảng 6: Nợ quá hạn của BIDV từ năm 2001- 06 tháng /2005
t ỷ đồng
N ơ ï q u a ù h a ïn
- Để đạt được mục tiêu năm 2005 đặt ra cũng như thực hiện chỉ đạo của
Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc nâng cao chất lượng tín dụng, tăng
trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và kiểm soát rủi ro, bảo
đảm an toàn hệ thống (Chỉ thò 02/2005/CT-NHNN ngày 20/04/2005) và trên cơ
sở thực trạng hoạt động tín dụng toàn hệ thống 06 tháng đầu năm 2005, để tiếp
tục chủ động kiểm soát tăng trưởng, gắn tăng trưởng với việc nâng cao chất