Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Danh mục các chữ viết tắt
Vinaconex 2 : Công ty Cổ phần Xây dựng số 2
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
KTTT : Kinh tế thị trường
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
SX-KD : Sản xuất – Kinh doanh
KTHH : Kinh tế hàng hoá
TTBĐS : Thị trường bất động sản
BĐS : Bất động sản
HHBĐS : Hàng hoá bất động sản
TTHH : Thị trường hàng hoá
NSNN : Ngân sách Nhà nước
KCN, KCX : Khu công nghiệp, khu chế xuất
TSTC : Tài sản thế chấp
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
MGBĐS : Môi giới bất động sản
KDBĐS : Kinh doanh Bất động sản
TSCĐ : Tài sản cố định
XNK : Xuất nhập khảu
KĐTM : Khu đô thị mới
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
2 Chuyên đề tốt nghiệp
Danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ
Bảng 2.1: Tổng mức đầu tư của các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản đã
và đang thực hiện của Vinaconex 2
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của các dự án bất động sản đã và đang
thực hiện của Vinaconex 2
Bảng 2.3. Tiến độ bỏ vốn của các dự án đã và đang thực hiện của Vinaconex 2
với định hướng chiến lược ổn định, đúng hướng, đồng thời dưới sự chỉ đạo của ban
lãnh đạo Công ty với tinh thần đoàn kết quyết liệt trong chỉ đạo sản xuất của toàn thể
cán bộ công nhân viên trong công ty, kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ
Phần Xây Dựng số 2 vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Trong giai đoạn thực tập tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 tôi cũng đã lựa
chọn và viết chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài: “Hoạt động đầu tư kinh
doanh bất động sản của Công ty Cổ Phần Xây Dựng số 2 (VINACONEX No 2)
thực trạng và giải pháp”.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản
+ Chương2: Thực trạng hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản của
Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 (VINACONEX 2)
+ Chương 3:Giải pháp phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản
của VINACONEX 2
Hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản nói
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
5 Chuyên đề tốt nghiệp
riêng là lĩnh vực kinh tế phức tạp, đòi hỏi có kiến thức tổng hợp liên quan đến nhiều
ngành nghề, nhiều lĩnh vực đặc thù. Được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS.
Trần Mai Hoa, và được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ phòng Đầu Tư Công ty
Cổ Phần Xây Dựng số 2, tôi đã hoàn thành được đề tài. Mặc dù có nhiều cố gắng
xong do kiến thức và trình độ bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô.
Để bắt đầu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành sâu sắc đến Cô giáo ThS. Trần Mai Hoa và các cán bộ trong phòng Đầu tư của
Công ty Cổ Phần Xây Dựng số 2!
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
6 Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản
1.1. Những vấn đề lý luận chung về BĐS
nước liệt kê vào danh mục BĐS; có lúc nó được coi là động sản nhưng lúc khác lại là
BĐS.
1.1.2. Đặc điểm của BĐS
BĐS là một loại hàng hoá đặc biệt, vì vậy ngoài đặc điểm chung của những
hàng hoá thông thường, bất động sản còn có những đặc điểm riêng:
+ Thứ nhất,bất động sản là hàng hoá có vị trí cố định, không di dời được.
Đặc điểm này là do hàng hoá bất động sản luôn gắn liền với đất đai, nên cố
định về vị trí, về địa điểm và không có khả năng dịch chuyển, khó có khả năng tăng
thêm về diện tích. Đây chính là dấu hiệu để phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa bất
động sản và các tài sản thông thường khác (động sản). Đặc tính không di dời được
của bất động sản thể hiện ở chỗ, các thành phần tạo thành bất động sản biểu hiện đặc
tính không thể di dời được trong trường hợp nào và trong trường hợp nào thì chúng
không mang đặc tính đó; trong đó, đất đai là tài sản luôn gắn liền với đặc tính không
thể di dời được trong mọi trường hợp, còn các tài sản khác chỉ được gọi là bất động
sản và mang đặc tính không thể di dời được khi gắn với đất đai (trừ một vài trường
hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật).
+ Thứ hai, Bất động sản là hàng hoá có tính lâu bền.
Đặc điểm này là vì đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài
nguyên được xem như không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp. giá
trị sử dụng của đất đai không bị giảm đi khi đưa vào sử dụng mà nếu được khai thác
hợp lý và bồi bổ thường xuyên, giá trị sử dụng của đất ngày càng tăng. Đồng thời,
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
8 Chuyên đề tốt nghiệp
các công trình kiến trúc và xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian
sử dụng được cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Chính
vì tính chất lâu bền của hàng hoá BĐS là do đất đai không bị mất đi, không bị thanh
lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nên
hàng hoá BĐS rất phong phú và đa dạng, không bao giờ cạn.
+ Thứ ba, tính cá biệt và khan hiếm:
Đặc điểm này của BĐS xuất phát từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai.
sinh hoạt, SX-KD và các hoạt động khác.
- Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý:
Hàng hoá BĐS đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng hoá
thông thường khác. Việc đầu tư xây dựng BĐS rất phức tạp, chi phí lớn, thời gian
dài. Do đó, BĐS đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng.
- Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội:
Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá
thông thường khác. Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất
khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó. Yếu tố
tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh v.v.. chi phối nhu
cầu và hình thức BĐS.
1.1.3. Phân loại Bất động sản
Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, bất động sản
có thể phân thành ba loại: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS không đầu tư xây dựng và
BĐS sản đặc biệt.
Bất động sản có đầu tư xây dựng gồm: BĐS nhà ở, BĐS nhà xưởng và công
trình thương mại- dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
10 Chuyên đề tốt nghiệp
sở làm việc v.v.. Trong BĐS có đầu tư xây dựng thì nhóm BĐS nhà đất (đất đai và
các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, tính chất
phức tạp rất cao và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhóm
này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng
như phát triển đô thị bền vững. Nhưng quan trọng hơn là nhóm BĐS này chiếm tuyệt
đại đa số các giao dịch trên TTBĐS ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới.
BĐS không đầu tư xây dựng: BĐS thuộc loại này chủ yếu là đất nông nghiệp
(dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi
trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng v.v..
Bất động sản đặc biệt là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di
sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v.. Đặc điểm của
thông tin, am hiểu thị trường một cách sâu sắc và sự hỗ trợ tốt nhất là nhà đầu tư nên
liên kết với các trung tâm môi giới BĐS nhất là những trung tâm có uy tín có kinh
nghiệm và quy mô hoạt động tương đối lớn, hiện đại.
1.2.2. Đặc điểm của đầu tư kinh doanh BĐS
1.2.2.1. Hàng hóa trên thị trường BĐS
Có nhiều chủng loại hàng hóa trên thị trường BĐS. Nếu căn cứ vào mục đích
sử dụng có thể phân thành các loại hàng hoá sau:
Đất đai và hoa màu nông nghiệp, ở các quốc gia đất đai thuộc chế độ tư hữu thì
đất đai nông nghiệp trở thành hàng hoá phổ biến. Mặc dù khi giao dịch đất đai nông
nghiệp, bên mua có thể bị hạn chế quyền sử dụng theo quy định nhằm khuyến khích
sản xuất nông nghiệp, nhưng việc mua bán là khá dễ dàng. Ở các quốc gia đất đai
thuộc sở hữu công thì có một thị trường đất đai biến tướng, đó là thị trường quyền sử
dụng đất .
Đất xây dựng nhà ở. Đây là hàng hoá BĐS phổ biến ở các đô thị. Đặc điểm của
hàng hoá BĐS này là giá cả của nó không chỉ phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng và
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
12 Chuyên đề tốt nghiệp
quang cảnh xung quanh, mà còn phụ thuộc rất lờn vào chính sách xã hội và quy
hoạch của từng địa phương, từng quốc gia.
Đất và các công trình xây dựng công nghiệp: hàng hóa BĐS này có khả năng
lưu động kém nhất bởi tính ổn định, tính đặc thù của các cơ sở sản xuất. Mặc dù
không thường xuyên giao dịch, nhưng các loại BĐS công nghiệp lại rất cần được
định giá thường xuyên để làm cơ sở tính toán giá trị của các doanh nghiệp. Do đó,
nghiệp vụ và phương thức giao dịch, định giá BĐS công nghiệp cần được các tổ chức
chuyên trách đảm nhiệm.
Đất và các công trình phục vụ thương mại: là loại BĐS có khả năng tham gia
thị trường với tần xuất lớn nhất. Những BĐS loại này bao gồm cả các trung tâm
thương mại cho thuê, các khách sạn, các nhà hàng, trung tâm triển lãm. Các dịch vụ
thị trường đối với hàng hoá BĐS này cũng đa dạng và phong phú hơn các loại BĐS
khác. Ngoài ra khả năng tham gia thế chấp, cầm cố của loại BĐS này cũng dễ dàng
1.2.3. Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS của doanh nghiệp
Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS được huy động hỗn hợp từ
các nguồn khác nhau:
+ Vốn khấu hao cơ bản: Đây là một nguồn tự tài trợ được hình thành từ quỹ
khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp, có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh
nghiệp, bởi quỹ này phản ánh độ lớn các khoản khấu hao tài sản cố định và gián tiếp
phản ánh tốc độ đổi mới doanh nghiệp. Việc sử dụng nguồn vốn này cho hoạt động
đầu tư sẽ mang lại thế chủ động an toàn cho doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp muốn nâng cao vị thế trên thương trường thì một yếu tố cực
kỳ quan trọng có thể giúp doanh nghiệp thắng được các đối thủ cạnh tranh là yếu tố
công nghệ. Do đó, nếu tốc độ khấu hao chậm, các doanh nghiệp sẽ không thể bắt kịp
tốc độ phát triển của công nghệ bởi tài sản cũ chưa khấu hao hết, nguồn tích luỹ từ
khấu hao thấp không đủ để mua máy móc thiết bị mới.
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
14 Chuyên đề tốt nghiệp
+ Quỹ tích luỹ tái đầu tư phát triển sản xuất:Quỹ này được hình thành từ
nguồn lợi nhuận hàng năm được trích lập theo quy định của Bộ Tài Chính. Nguồn
vốn này có ý nghĩa rất quan trọng, nguồn này lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt
động hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
Nguồn trích từ lợi nhuận để lại là bộ phận lợi nhuận được dùng để tái đầu tư, mở
rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ
hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo. Tăng khả năng
tự chủ về tài chính của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên
ngoài (Ngân hàng...) và doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại
các ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông.
+ Nguồn vốn huy động từ khách hàng mua bất động sản: Đây là một trong
những nguồn vốn rất quan trọng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu
tư kinh doanh bất động sản, đáp ứng được nguồn vốn thực hiện dự án.
1.2.4.1. Đầu tư xây dựng cơ bản (đầu tư vào cơ sở hạ tầng)
Đây là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra tài sản cố định cho doanh nghiệp và luôn
chiếm một khoản vốn lớn để thực hiện việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị
đầu tư, thiết kế thi công xây lắp công trình, lắp đặt máy móc thiết bị và tiến hành các
công tác xây dựng cơ bản khác theo tổng dự toán.
Đối với hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS có các công trình xây dựng bao
gồm nhiều hạng mục với các yêu cầu kỹ thuật khác nhau như: hệ thống kho bãi, các
công trình phụ trợ, các công trình nhà tạm nơi thi công,… đòi hỏi nguồn vốn đầu tư
rất lớn.
1.2.4.2. Đầu tư máy móc thiết bị:
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
16 Chuyên đề tốt nghiệp
Các loại máy móc thiết bị hiện đại, các loại dây truyền sản xuất phục vụ thi
công cũng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp. Các
loại máy móc thiết bị có công xuất lớn được đồng bộ hóa sẽ đáp ứng được đòi hỏi về
năng lực hoạt động của một dơn vị thi công cơ giới mạnh đồng thời cũng là một minh
chứng cho sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp khi tham gia thi công các dự án lớn
cũng như các dự án xây dựng BĐS của doanh nghiệp.
1.2.4.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực:
Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một chiến lược phát triển theo chiều
sâu và dài hạn nó đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp trên
thương trường. Cùng với các yếu tố đầu vào khác như: máy móc thiết bị, công nghệ,
nguyên nhiên vật liệu,… yếu tố nguồn nhân lực đã tạo lên “hình dáng” của một
doanh nghiệp. Nguồn nhân lực hay được hiểu là con người cùng với các yếu tố thể
lực, trí lực, kỹ năng lao động của mình, ở đây chìa khóa quyết định sự thành công
chính là chất lượng của nguồn nhân lực. Có thể thấy việc đầu tư nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là hết sức quan trọng phải được các doanh nghiệp thường xuyên chú
trọng.
Các hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực gắn liền với các hoạt động:
+ Đào tạo và đào tạo lại với các cấp độ đào tạo: đào tạo nguồn nhân lực nói
nghiệp phát triển chiếm lĩnh thị trường.
1.2.4.5. Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, nghiên cứu và
triển khai:
Hoạt động đầu tư vào khoa học công nghệ trong doanh nghiệp gồm đầu tư
nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới và đầu tư mua sắm công nghệ mới từ nước ngoài.
Hoạt động này đòi hỏi một nguồn vốn lớn và độ rủi ro cao, vì vậy với khả năng hiện
nay của các doanh nghiệp Việt Nam thì tỉ trọng đầu tư cho hoạt động này là khá nhỏ.
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
18 Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên ý nghĩa của việc thực hiện hoạt động này là vô cùng to lớn, là điều kiện để
doanh nghiệp đổi mới và động lực cho nền kinh tế phát triển. Trong sản xuất kinh
doanh, các bí quyết và phát minh về công nghệ luôn là yếu tố quyết định khả năng
cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu giúp tăng
năng suất, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng, gia tăng lợi nhuận cho đơn vị. Do
đó các doanh nghiệp cần đầu tư vào những công nghệ phù hợp với những điều kiện
sản xuất của doanh nghiệp, nhanh chóng nắm bắt thông tin về thị trường công nghệ
và tiếp cận với những thông tin về các công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất, cải tiến sản phẩm từ đó nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ là lĩnh vực đầu tư không thể thiếu
được của các doanh nghiệp kinh doanh nói chung. Nghiên cứu khoa học và công
nghệ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong sản xuất kinh
doanh, đảm bảo sức mạnh và vị trí canh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện
tại cũng như tương lai.
Hoạt động nghiên cứu triển khai thường diễn ra trong phạm vi doanh nghiệp
nhưng có tác động mở rộng tới toàn bộ nền kinh tế, làm gia tăng năng lực sản xuất
của quốc gia. Khi nền kinh tế phát triển tới trình độ cao hơn thì doanh nghiệp lại có
nhiều khả năng hơn trong việc nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học vào
trong sản xuất.
Mục đích của các chương trình và dự án R&D không chỉ dừng lại ở dạng
nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu nhằm tăng chất lượng sản phẩm, tạo nên sản phẩm
họ đã có thông tin từ trước. Sản phẩm có khả năng cạnh tranh có nhãn hiệu được
nhiều người lựa chọn, có uy tín và ấn tượng tốt đối với đa số khách hàng.
Vì tầm quan trọng của nhãn hiệu trong việc tiêu thụ sản phẩm nên các doanh
nghiệp cũng cần có chiến lược xây dựng nhãn hiệu của mình. Việc tạo lập và duy trì
một nhãn hiệu thương mại không đơn giản, kể cả khi đã có một nhãn hiệu thành công
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
20 Chuyên đề tốt nghiệp
thì chủ doanh nghiệp cũng cần đầu tư liên tục nhằm duy trì nhãn hiệu của mình. Nội
dung của hoạt động đầu tư này gồm: đầu tư nghiên cứu thị trường (về nhu cầu của
khách hàng, đối thủ cạnh tranh, xu hướng phát triển của sản phẩm…); xây dựng
chiến lược kinh doanh; thử nghiệm nhãn hiệu trên thị trường; hoạt động marketing và
đánh giá kết quả. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải chi phí để giữ vững vị trí thương
hiệu trên thị trường. Tuy nhiên khi sở hữu một nhãn hiệu tốt thì khả năng tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp là cao hơn và lợi nhuận nhiều hơn. Đây cũng là điều kiện cần
để xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp.
Thương hiệu là một kí hiệu liên tưởng, tên hay nhãn hiệu hàng hóa độc nhất
vô nhị, có thể nhận biết được, được dùng để phân biệt với các sản phẩm hay dịch vụ
cạnh tranh. Thương hiệu là uy tín, là sự hiểu biết cũng như lòng trung thành của
khách hàng. Một thương hiệu mạnh là kết quả của đầu tư hợp lý vào công nghệ sản
xuất, kiểu dáng sản phẩm, nhãn hàng, marketing… Quá trình xây dựng thương hiệu
đòi hỏi doanh nghiệp phải tốn một chi phí lớn và thực hiện trong thời gian dài. Cùng
với xu hướng toàn cầu hóa, giá trị của thương hiệu ngày càng được coi trọng, đem lại
lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp. Vì vậy việc đầu tư cũng như quản lý loại tài sản này
ngày càng được chú ý tới. Khi doanh nghiệp tạo cho mình thương hiệu mạnh, giá trị
thị trường của công ty cũng tăng lên.
Do đặc thù của hàng hóa BĐS nên việc đầu tư cho hoạt động marketing trong
doanh nghiệp kinh doanh BĐS cũng sẽ mang những nét riêng khác với các loại hình
kinh doanh khác.
1.2.5. Các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS
1.2.5.1. Nhóm các nhân tố tự nhiên:
giao dịch. Ở giai đoạn phồn vinh, TTBĐS có thể hoạt động quá nóng do các tác nhân
đầu cơ.
1.2.5.3. Nhóm các nhân tố chính trị:
Các chế độ chính trị khác nhau đều có ảnh hưởng quyết định đến việc đất đai
nói riêng, BĐS nói chung có trở thành hàng hoá hay không. Chẳng hạn dưới chế độ
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
22 Chuyên đề tốt nghiệp
phong kiến, đất đai thuộc về nhà vua để cấp cho quý tộc, nên về cơ bản ít được đem
mua bán, trao đổi. Nhà vua có thể cắt đất của người này cấp cho người khác mà
không phải đền bù. Dưới chế độ TBCN, quyền sở hữu đất đai được đẩy tới mức hoàn
thiện nhất và do đó, TTBĐS có tiềm năng mở đến những giới hạn rộng nhất. Dưới
chế độ quốc hữu hoá ruộng đất XHCN, đất đai tham gia vào TTBĐS có những giới
hạn nhất định. Thị trường đất đai không được luật pháp cho phép, chỉ có thị trường
quyền sử dụng đất; khu vực đất công đi vào thị trường BĐS; chính sách khống chế
mục đích sử dụng đất làm cho việc chuyển dịch giữa các loại chủng loại hàng hoá
không dễ dàng;…
Ngoài ra các nhân tố chính trị còn ảnh hưởng đến tư tưởng dưới khía cạnh quản
lý của Nhà nước đối với các giao dịch BĐS. Có những nước quy định thủ tục giao
dịch hợp pháp khá phức tạp, chi phí lớn, làm cho khả năng phát triển của TTBĐS
giảm đi. Những nước có chi phí về thủ tục thấp sẽ khuyến khích đưa BĐS vào giao
dịch.
1.2.5.4. Vai trò của nhà nước Việt Nam trong việc hình thành và phát triển thị
trường BĐS:
Nhà nước Việt Nam có vai trò rất đặc biệt trong kiến tạo và hỗ trợ TTBĐS:
Thứ nhất, Nhà nước là đại diện cho sở hữu toàn dân đối với đất đai nên để có
thể hình thành TTBĐS, Nhà nước phải tiến hành khâu đầu tiên, tạo tiền đề cho thị
trường quyền sử dụng đất, đó là giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân và
hộ gia đình sử dụng theo luật. Quá trình giao quyền sử dụng đất này ở Việt Nam hiện
nay còn nhiều điểm chưa hợp lý và chưa chuẩn tắc do cơ chế và chính sách quản lý
đất đai của Nhà nước vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm để tìm hướng đi
Để thấy rõ hơn nữa vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động đầu tư kinh doanh
bất động sản cũng như tính thiết yếu của hoạt động đầu tư này chúng ta đi vào
chương 2 nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản của Công
ty CPXD số 2 – Vinaconex 2
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B
24 Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS
của Công ty Cổ phần Xây Dựng số 2 (Vinaconex No 2)
2.1. Tổng quan về VINACONEX No 2
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2
Tên giao dịch: VIET NAM CONSTRUCTION JOINT STOCK
COMPANY No.2
Tên viết tắt: VINACONEX No.2
Mã CK: VC2
Trụ sở chính: Số 52 Lạc Long Quân - Quận Tây Hồ - TP Hà Nội;
Điện thoại: 04.37532039 -04.37530936; Fax: 04.38361012;
Email:
VP giao dịch : Nhà A-B Lô C3 Thôn Lộc - Xã Xuân Đỉnh - Từ Liêm
- Hà nội
Vốn điều lệ: 58,74 tỷ
Người đại diện: Ông Đỗ Trọng Quỳnh - Giám đốc Công ty
TƯ CÁCH PHÁP NHÂN
- Công ty cổ phần xây dựng số 2 tiền thân là Công ty xây dựng Xuân Hoà được
Bộ xây dựng thành lập tháng 4 năm 1970. Tháng 6/1995 Bộ Xây dựng quyết định sát
nhập vào Tổng Công ty Vinaconex và đổi tên là Công ty xây dựng số 2.
- Quyết định thành lập: Số 1284/QĐ-BXD ngày 29/09/2003 chuyển Doanh
nghiệp Nhà nước Công ty xây dựng số 2 thành Công ty cổ phần xây dựng số 2.
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh : Số 0103003086 ngày 24/10/2003; đăng
ký thay đổi lần thứ 1 ngày 28 tháng 11 năm 2005; đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 14
Nguyễn Văn Hoà Lớp kinh tế đầu tư 47B