BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THANH HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Xuân Thu
HÀ NỘI - 2013
MUC LUC
LỜI NÓI ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 4
5. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận văn .............................. 5
6. Kết cấu của Luận văn ....................................................................................... 5
2.1.1.2. Những quy định yêu cầu an toàn về địa điểm, thiết kế, cơ sở.......... 28
2.2.2. Các quy định nhằm hạn chế những ảnh hưởng của môi trường, điều kiện
lao động phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động ............................ 39
2.2.2.1. Những quy định về phương tiện lao động, bảo hộ lao động ............ 39
2.2.2.2. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người làm
việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ................................................... 46
2.2.2.3. Chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật ..................................................... 48
2.2.3. Chế độ chăm sóc y tế đối với người lao động....................................... 50
2.2.4. Quy định về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử và chế độ áp dụng đối với người lao động bị tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp ........................................................................................... 51
Chương 3:
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG
NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM ................................................................................ 59
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử ................................................................................................. 59
3.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
công tác an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ......................... 61
3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác an toàn lao
động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ......................................................... 63
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật ............................................................................. 63
3.3.1.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về an toàn lò phản ứng hạt nhân
nghiên cứu .................................................................................................. 63
3.3.1.2. Hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về tiêu chuẩn an toàn hạt
nhân ............................................................................................................ 64
3.3.1.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về trang bị phương tiện lao động,
bảo hộ lao động .......................................................................................... 64
an toàn cho những người lao động đặt ra những yêu cầu và thách thức đối với nhà
nước cũng như những người sử dụng lao động.
Nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành năng lượng nguyên
tử, bên cạnh những quy định pháp luật về an toàn lao động nói chung, Nhà nước
cũng cần có những quy định cụ thể, những yêu cầu đặc thù đối với ngành năng
lượng nguyên tử nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các cơ sở bức xạ, cơ sở hạt nhân và
các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bảo hộ cho người lao động. Đây cũng là
căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức
năng quản lý, thanh tra và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên
tử.
Việc tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về đảm bảo an toàn
lao động cho người lao động làm việc trong ngành năng lượng nguyên tử là cần
2
thiết để Việt Nam có thể ngày càng mở rộng và phát triển những ứng dụng bức xạ
trong các ngành kinh tế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên.
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về an toàn lao động
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử - Thực trạng và giải pháp” để làm luận
văn tốt nghiệp, với mong muốn góp phần vào công tác nghiên cứu, xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở
nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc quản lý an toàn bức xạ và hạt nhân là trách nhiệm của các quốc gia.
Tuy nhiên, phóng xạ có nguy cơ vượt qua biên giới địa lý của quốc gia lãnh thổ.
Vì vậy, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về an toàn trên toàn cầu thông qua việc trao đổi
kinh nghiệm và tăng cường năng lực kiểm soát hiểm họa, phòng ngừa tai nạn, ứng
phó tình trạng khẩn cấp và giảm thiểu mọi hậu quả xấu đã hình thành nên Cơ quan
Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Chương trình xây dựng tiêu chuẩn an toàn
* Mục đích:
Vấn đề đảm bảo an toàn bức xạ và hạt nhân đối với môi trường và con
người hình thành một hệ thống văn bản pháp luật liên quan khá đồ sộ, phức tạp và
đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao. Luận văn không tham vọng nghiên cứu và giải
quyết toàn diện, triệt để các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật an toàn bức
xạ và hạt nhân, mà chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhất, phân tích đánh giá
các quy định pháp luật hiện hành về an toàn bức xạ và hạt nhân dưới góc độ pháp
luật lao động, an toàn đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử kết hợp thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế. Trên cơ sở đó, tác giả
đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử để ngày càng thu hút nhiều người làm việc trong ngành
nhằm đảm bảo đủ nhân lực cho sự phát triển của ngành năng lượng nguyên tử.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, những nhiệm vụ nghiên cứu được xác định
gồm:
- Nghiên cứu đặc điểm của công tác an toàn lao động trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử;
4
- Nghiên cứu khái quát hệ thống văn bản pháp luật an toàn lao động trong
lĩnh vực nguyên tử, có tham khảo một số văn bản pháp luật của quốc tế và một số
quốc gia;
- Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về an toàn lao động trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử và thực tế áp dụng;
- Nghiên cứu đề xuất, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về an
toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm các quy định pháp luật về an toàn
của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm,
đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ thạc sỹ luật học nghiên
cứu về pháp luật an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử dưới góc
độ lý luận và thực tiễn áp dụng, luận văn đã đề cập tương đối hệ thống và giải
quyết khá toàn diện các nội dung của công tác an toàn lao động trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử. Những kết quả và đóng góp mới cơ bản của Luận văn là:
i) Xác định được khái niệm và những đặc điểm về an toàn lao động trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
ii) Phân tích, đánh giá được một cách có hệ thống các quy định về an toàn
bức xạ và hạt nhân và thực tế áp dụng ở Việt Nam;
iii) Đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật an toàn lao
động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nhằm bảo vệ tốt nhất cho những người
lao động có nguy cơ gặp rủi ro cao.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật an toàn lao động trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử.
Chương 2: Thực trạng pháp luật an toàn lao động trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử ở Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác an toàn lao
động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở Việt Nam.
6
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG
7
doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế đóng trên lãnh thổ
Việt Nam.
Cùng với ý nghĩa là đảm bảo sức khỏe, tính mạng người lao động, công tác
an toàn lao động và vệ sinh lao động luôn được tiến hành đồng thời, hỗ trợ nhau
tạo nên môi trường lao động thuận lợi. Tuy nhiên, cần hiểu đó là hai phương diện
khác nhau của một vấn đề, chứ không nên nhầm lẫn đánh đồng chúng là một. Sự
khác nhau chủ yếu đó là mục đích cụ thể của chúng. Việc triển khai các biện pháp
an toàn lao động trong quá trình lao động có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn
ngừa tai nạn lao động và những sự cố khác nhau có thể phát sinh trong quá trình
làm việc gây thiệt hại trực tiếp cho người lao động. Còn công tác vệ sinh lao động
được đặt ra đối với đơn vị sử dụng lao động nhằm kiến tạo một môi trường lao
động xanh, sạch, đẹp trong lành, hạn chế tới mức thấp nhất các tác nhân vật lý,
hóa học độc hại, giảm thiểu tình trạng người lao động mắc các bệnh nghề nghiệp.
Chính vì vậy, nội dung các biện pháp cũng được áp dụng khác nhau. Ví dụ như,
để thực hiện an toàn lao động, người lao động phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
trình an toàn kĩ thuật gồm trình tự thực hiện các công việc, vị trí đứng, thời gian
an toàn… Trong khi thực hiện vệ sinh lao động, chẳng hạn người lao động sẽ phải
làm vệ sinh sạch sẽ công trình trước và sau khi làm việc, lau chùi sạch sẽ các dụng
cụ lao động hoặc người lao động phải trang bị các thiết bị đảm bảo vệ sinh.
Tóm lại, việc đảm bảo an toàn lao động là một nhu cầu tất yếu và cần thiết
mà cả người sử dụng lao động và người lao động đều cần phải quan tâm thực hiện.
Công tác an toàn lao động là hoạt động phối hợp các biện pháp khoa học kỹ thuật,
pháp lý, kinh tế, tâm lý xã hội… nhằm đảm bảo môi trường lao động an toàn,
tránh tổn thất tính mạng sức khỏe người lao động. Việc triển khai thực hiện các
biện pháp đó trong quá trình lao động có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn ngừa
tai nạn lao động và những sực cố khác.
1.1.1.2. Đặc điểm của an toàn lao động
phải thực hiện. Đồng thời các cơ quan có thẩm quyền cũng phải tiến hành thanh
kiểm tra thường xuyên, phát hiện và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm.
Tính chất pháp lý của công tác an toàn lao động thể hiện ở chỗ tất cả các
quy định về an toàn lao động bao gồm các quy định về kỹ thuật (quy phạm, qui
trình, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn); qui định về tổ chức thực hiện, trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân, các chính sách chế độ… đều là những văn bản pháp luật có
tính chất bắt buộc nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe người lao động. Đặc biệt là
9
các quy phạm và tiêu chuẩn an toàn (như thiết bị che chắn, khoảng cách an toàn,
thiết bị bảo hiểm…) có tính bắt buộc rất cao do có liên quan đến tính mạng của
con người trong quá trình sản xuất.
Các yêu cầu và biện pháp quy định đòi hỏi phải được thực thi nghiêm chỉnh
vì nó liên quan đến sức khỏe người lao động và tài sản người sử dụng lao động.
Mọi vi phạm về tiêu chuẩn an toàn trong quá trình sản xuất đều bị coi là những
hành vi phạm pháp luật về an toàn lao động.
c) Tính chất quần chúng
An toàn lao động mang tính quần chúng rộng rãi vì mọi hoạt động sản xuất
đều cần phải được người sử dụng lao động và người lao động thực hiện nghiêm
túc. Hoạt động an toàn lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tổ chức xã
hội, mọi người sử dụng lao động, cán bộ kỹ thuật và người lao động tích cực tham
gia thực hiện các quy định, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để phòng ngừa các
tai nạn lao động.[11]
1.1.1.3. Ý nghĩa công tác an toàn lao động
Việc quy định an toàn lao động và vệ sinh lao động thành một chế định
trong luật lao động có ý nghĩa quan trong trong thực tiễn.
Trước hết, nó biểu hiện sự quan tâm của nhà nước đối với vấn đề bảo đảm
sức khỏe làm việc lâu dài cho người lao động. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm
dụng quan trọng của năng lượng hạt nhân là phát điện. Sau nhiều năm nghiên cứu,
các nhà khoa học đã ứng dụng thành công công nghệ hạt nhân cho nhiều mục đích
khoa học, y khoa, và công nghiệp khác. Chúng ta bắt đầu hình thành tư duy về
nguyên tử với ý tưởng của các nhà triết học Hi Lạp cổ đại. Sau đó, chúng ta biết
thêm về nguyên tử và năng lượng của nó nhờ những nhà khoa học đầu tiên khám
phá ra hiện tượng phóng xạ. Bây giờ, chúng ta biết đến công dụng hiện đại của
nguyên tử là một nguồn năng lượng vô giá. Chúng ta có thể thấy sự phát triển
chóng mặt của khoa học nguyên tử cũng như hiểu biết của con người về thế giới
vô cùng bé cấu tạo lên thế giới của chúng ta.
Chúng ta đã biết chất phóng xạ là một bộ phận không thể tách rời của trái
đất chúng ta, nó đã tồn tại cùng trái đất. Các chất phóng xạ tồn tại trong tự nhiên,
có trên mặt đất, có trong không khí và thực phẩm. Chất phóng xạ tồn tại ở dạng
khí trong không khí khi chúng ta hít thở. Cả trong cơ thể của chúng ta bao gồm cơ,
xương và các mô đều chứa các nguyên tố phóng xạ có trong tự nhiên. Con người
vẫn thường phải chịu sự chiếu xạ của các bức xạ tự nhiên từ trái đất, cũng như từ
11
bên ngoài trái đất. Bức xạ mà chúng ta nhận được từ bên ngoài trái đất được gọi là
các tia vũ trụ hay bức xạ vũ trụ. Tuy nhiên, con người chỉ có thể chịu được một
giới hạn liều bức xạ nhất định. Nếu vượt quá giới hạn đó, thì bức xạ ion hóa sẽ
làm tổn thương ở mức nhiễm sắc thể ADN, tổn thương ở mức tế bào có thể làm
phá hủy hoàn toàn các tế bào, ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, da, cơ quan sinh dục, sự
phát triển của phôi thai, làm giảm tuổi thọ hoặc dẫn tới bị ung thư phổi…
Người lao động trong ngành năng lượng nguyên tử là những người có nguy
cơ hấp thụ bức xạ nhiều hơn người bình thường trong môi trường tự nhiên. Như
vậy, Nhà nước cần có chính sách, quy định để giới hạn đảm bảo rằng lượng phóng
xạ mà người lao động hấp thụ không vượt quá giới hạn để có thể gây những biến
đổi bất lợi cho sức khỏe người lao động.
xạ vào cơ thể khi tiếp xúc với các nguồn phóng xạ và thiết bị phóng xạ. Tuy
nhiên, một số cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước cũng phải nghiên cứu,
làm việc với nguồn phóng xạ thì họ mới có thể thanh tra, kiểm tra và thực hiện các
hoạt động dịch vụ liên quan đến năng lượng nguyên tử. Nếu không quy định hoạt
động quản lý về năng lượng nguyên tử trong khái niệm trên thì dẫn tới bỏ sót đối
tượng và không kịp thời có những chế độ đãi ngộ đối với những đối tượng này
như các cơ sở, đơn vị khác.
Cần có sự xác định lại nội hàm khái niệm hoạt động trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử, và có cách quy định khoa học hơn, quy định theo kiểu liệt kê, có
thể dẫn tới bỏ sót một số đối tượng nhất định.
An toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là tổng hợp các biện
pháp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu sự xâm nhập và chiếu xạ của các nguồn phóng
xạ và thiết bị bức xạ vào cơ thể người lao động trong quá trình hoạt động quản lý,
sản xuất và nghiên cứu gây ra những biến đổi bất lợi đối với sức khỏe của người
lao động.
1.1.2.2. Đặc điểm
Thứ nhất, phóng xạ không màu, không mùi, không vị, không màu sắc,
không thể sờ mó, bằng các giác quan thông thường con người không thể nhận biết
được sản phẩm vô hình này. Nguy cơ tiềm ẩn của phóng xạ luôn đe dọa, rình rập
sức khỏe con người mà không ai có thể nhận biết bằng những cách thông thường.
Để có thể chủ động kiểm soát những ảnh hưởng của phóng xạ tới sức khỏe con
13
người, người lao động được trang bị những phương tiện, thiết bị để nhận biết rủi
ro có thể gặp phải.
Thứ hai, vấn đề đảm bảo an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử không đơn thuần chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người lao
động, nếu sự cố, tai nạn về bức xạ và hạt nhân xảy ra thì những sự cố ấy còn ảnh
1.2. Pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.2.1. Vai trò của pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử
Pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hệ
thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, quy định các
điều kiện an toàn lao động có tính chất bắt buộc, các biện pháp phòng ngừa, ngăn
chặn sự xâm nhập và chiếu xạ người lao động trong môi trường làm việc, nhằm
bảo vệ sức khỏe của người lao động và hạn chế các tai nạn lao động và bệnh
phóng xạ có thể xảy ra.
Pháp luật an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử có những
vai trò cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng nguyên
tử là cơ sở pháp lý quan trọng, đưa ra các yêu cầu tiêu chuẩn an toàn, các biện
pháp bắt buộc, những nghĩa vụ mà người sử dụng lao động cũng như nhà nước
phải đảm bảo cho tính mạng, sức khỏe người lao động. Việc chiếu xạ có khả năng
tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Các hoạt động dẫn đến việc chiếu xạ như việc sản xuất
và sử dụng các nguồn bức xạ, vật liệu phóng xạ, vận hành các thiết bị hạt nhân,
khai thác và chế biến quặng phóng xạ và quản lý chất thải phóng xạ phải được
quản lý bởi các biện pháp nhằm bảo vệ các cá nhân bị chiếu xạ. Đó là cũng là cơ
sở để xử phạt những hành vi vi phạm, ngăn ngừa răn đe những cơ sở, đối tượng vi
phạm các yêu cầu về an toàn
Thứ hai, những quy định pháp luật về an toàn lao động trog lĩnh vực năng
lượng nguyên tử hướng dẫn thống nhất việc thực hiện các biện pháp bảo đảm an
toàn, giúp cho người sử dụng lao động nắm được những công việc mình cần tiến
hành thực hiện. Đồng thời cũng giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước đảm bảo
tính công bằng, minh bạch khi quản lý hay cấp phép hoạt động cho các tổ chức, cá
nhân tiến hành công việc bức xạ.
15
16
1.2.3. Pháp luật quốc tế về an toàn lao động trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử
Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) hướng dẫn các nước thành
viên xây dựng Luật năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn bảo đảm an toàn, an ninh
cho các hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử và việc tham gia các điều ước
quốc tế.
Về Luật năng lượng nguyên tử (văn bản pháp luật ở cấp quốc gia), IAEA
có 2 tài liệu hướng dẫn quan trọng. Đó là:
- Sổ tay về Luật hạt nhân, (2003), (Handbook on Nuclear Law, IAEA).
- Mô hình khung pháp lý cho việc quản lý an toàn nguồn phóng xạ và chất
thải phóng xạ (dự thảo), (2006), (Model Legal Framework for the safe
management of radiation sources and for the safe management of radioactive
waste (draft), IAEA.)
Theo Điều III Quy chế của IAEA thì IAEA có quyền thiết lập các tiêu
chuẩn về an toàn trong việc bảo vệ chống bức xạ ion hoá và được phép cung cấp
tài liệu cho việc áp dụng những tiêu chuẩn an toàn này cho các hoạt động hạt nhân
vì hoà bình. Quy chế của IAEA cho phép IAEA xây dựng hoặc thông qua tư vấn,
hợp tác với các tổ chức có năng lực của Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên
môn có liên quan, để ban hành các tiêu chuẩn an toàn nhằm bảo vệ sức khỏe và
giảm thiểu các nguy cơ đối với cuộc sống và tài sản. IAEA cũng ban hành quy
định về việc áp dụng các tiêu chuẩn này.
Với quan điểm bảo vệ con người và môi trường khỏi tác động có hại của
bức xạ ion hóa, các tiêu chuẩn an toàn của IAEA thiết lập nguyên tắc an toàn cơ
bản, các yêu cầu và biện pháp nhằm kiểm soát chiếu xạ đến con người và phát tán
chất phóng xạ vào môi trường, giảm nhẹ hậu quả nếu xảy ra sự cố. Các tiêu chuẩn
an toàn được áp dụng đối với cơ sở và hoạt động có phát sinh rủi ro bức xạ, bao
lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình và đưa ra các cơ sở cho các yêu cầu về an
toàn.
18
Các yêu cầu về an toàn đưa ra những yêu cầu cần phải đáp ứng để đảm bảo
an toàn. Những yêu cầu này được thể hiện ở dạng câu “phải”, được điều chỉnh bởi
những mục tiêu và quy tắc đã đề ra trong “Nguyên tắc an toàn cơ bản”. Việc thực
hiện kết hợp và nhất quán các yêu cầu về an toàn sẽ đáp ứng được mục tiêu bảo vệ
con người và môi trường, trong cả hiện tại và tương lai. Các yêu cầu này có thể
được sử dụng để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tương ứng của quốc gia
thành viên. Các yêu cầu về an toàn sử dụng dạng câu “phải” cùng với dạng câu về
các điều kiện liên quan cần đạt được.
Hướng dẫn về an toàn giới thiệu về các hoạt động, điều kiện hay các quy
trình để đáp ứng các yêu cầu về an toàn. Khuyến cáo được thể hiện ở dạng câu
“nên” với hàm ý rằng, việc tiến hành các biện pháp được khuyến cáo hoặc các
biện pháp thay thế tương đương là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu về an toàn.
Hướng dẫn về an toàn cung cấp các khuyến cáo và hướng dẫn về cách để tuân thủ
các yêu cầu an toàn, thể hiện sự đồng thuận quốc tế rằng cần thiết phải thực hiện
các biện pháp được khuyến cáo (hoặc các biện pháp thay thế tương đương).
Khuyến cáo được đưa ra trong các hướng dẫn an toàn được thể hiện ở dạng câu
“nên”.
Theo quan điểm của IAEA (Draft Safety Guide DS424: Establishing a
Safety Infrastructure for a National Nuclear Power Programme, 6/2009), hạ tầng
quốc gia về điện hạt nhân phải được xây dựng trên nền tảng của hạ tầng an toàn,
với mục tiêu là nhằm tuân thủ mọi tiêu chuẩn về an toàn của IAEA. Quan điểm
này được thể hiện qua Hình 1.2 dưới đây:
Cơ sở, hoạt động có liên quan bức xạ
Đánh giá địa điểm
Cơ sở xử lý, chôn cất chất thải
An toàn bức xạ
Vận chuyển vật liệu phóng xạ
Quản lý chất thải phóng xạ
Chấm dứt hoạt động
Khôi phục khu vực bị nhiễm xạ
Các tiêu chuẩn an toàn của IAEA không mang tính ràng buộc pháp lý đối
với quốc gia thành viên, mà chỉ khuyến cáo để các quốc gia áp dụng. Tuy nhiên,
đối với các hoạt động do IAEA tài trợ ở các nước thành viên, thì các tiêu chuẩn
này có tính ràng buộc.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc xây dựng các hướng dẫn, tiêu chuẩn
không có tính chất bắt buộc áp dụng là xu hướng chung, phổ biến. Liên quan đến
hệ thống các tiêu chuẩn của IAEA. Các “Requirements” có ý nghĩa cần bắt buộc
áp dụng trong khi các “Guides” có ý nghĩa khuyến khích áp dụng và số lượng
“Guides” thì lớn hơn nhiều so với số lượng “requirements”. Nhiều quốc gia cũng
có cách tiếp cận này trong hoạt động xây dựng hệ thống pháp lý bảo đảm an toàn
20
hạt nhân. Tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Phần Lan, các quy định
460 - 370 trước Công nguyên), trải qua hơn hai nghìn năm, đến cuối thế kỷ 19
nhân loại bước vào thời đại nguyên tử hiện đại, khởi đầu bằng phát minh hiện
tượng phóng xạ tự nhiên của urani và rađi vào các năm 1896 - 1898. Các chất
đồng vị phóng xạ nhân tạo được chế tạo ra lần đầu tiên vào năm 1934, lò phản ứng
hạt nhân đầu tiên ra đời năm 1942 và năm 1954 ra đời nhà máy điện hạt nhân đầu
tiên trên thế giới.
Khoa học nguyên tử đến với nhân dân ta khi những bệnh nhân ung thư đầu
tiên được điều trị bằng những chiếc kim rađi được gửi từ Paris sang cho Viện
Radium Hà Nội (nay là Bệnh viện K) thành lập năm 1923, mỗi chiếc kim đều đi
kèm theo một giấy chứng nhận hiện còn được lưu giữ trong hồ sơ của bệnh viện K
ghi hoạt độ phóng xạ và đặc điểm kỹ thuật với chữ ký bằng mực xanh của Giám
đốc Viện Radium Paris, nhà nữ bác học người Pháp gốc Balan Marie Curie, hai
lần được tặng giải thưởng Nobel.
Sau năm 1954, ở miền Bắc nước ta ngành y tế bắt đầu nhập máy chiếu xạ
Côban - 60 để điều trị bênh ung thư và từ năm 1970 bắt đầu nhập chất đồng vị
phóng xạ ngắn ngày (như iốt.131, phôtpho.32,...) để chẩn đoán và điều trị bệnh tại
hai cơ sở y học hạt nhân ở Bệnh viện Bạch Mai và Viện quân y 103. Ngành địa
chất với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô (cũ) đã nhập nguồn phóng xạ vào để
sử dụng trong công tác thăm dò và đánh giá trữ lượng khoáng sản.
Từ sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến nay, với việc
thành lập Viện nghiên cứu hạt nhân (sau là Viện năng lượng nguyên tử quốc gia
và nay là Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam) vào năm 1976 với việc chính
thức gia nhập Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (International Atomic
Energy Agency, viết tắt là IAEA) vào năm 1978, với việc khôi phục và nâng công
suất lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vào năm 1984, ngành hạt nhân nước ta đã từng