BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THANH VIỆT
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THAM
NHŨNG TRONG LĨNH VỰC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THANH VIỆT
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THAM
NHŨNG TRONG LĨNH VỰC TƯ
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số:
60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS DƯƠNG ANH SƠN
TP. Hồ Chí Minh- Năm 2017
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn ....................................... 5
Chương 1: nhận thức về tham nhũng ở khu vực tư và ảnh hưởng của tham
nhũng đến sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội .............................................. 7
1.1. Nhận thức của xã hội về tham nhũng ở khu vực tư ................................ 7
1.1.1. Khu vực tư và tham nhũng ở khu vực tư ........................................ 7
1.1.1.1. Khu vực tư ............................................................................... 7
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm tham nhũng trong khu vực tư ................ 9
1.1.2. Nguyên nhân xuất hiện và tác động của tham nhũng ở khu vực tư
đối với xã hội ................................................................................................... 19
1.2. Nhận thức về thực trạng tham nhũng ở khu vực tư .............................. 22
Chương 2: Kiểm soát tham nhũng hối lộ ở khu vực tư và quy định của pháp
luật .................................................................................................................... 25
2.1. Các biện pháp phòng chống tham nhũng dưới góc nhìn pháp lý ......... 25
2.1.1. Chế tài dân sự và tham nhũng ở khu vực tư .................................. 25
2.1.2. Biện pháp hành chính và tham nhũng ở khu vực tư ...................... 30
2.1.3. Quy chế kiểm soát nội bộ và tham nhũng ở khu vực tư ................ 33
2.1.4. Chế tài hình sự và tham nhũng ở khu vực tư ................................ 39
2.2. Chế tài hình sự - biện pháp tối ưu trong kiểm soát tham nhũng ở khu
vực tư................................................................................................................ 43
Chương 3: Kiến nghị trong việc phòng chống tham nhũng ở khu vực tư dưới
góc độ pháp luật hình sự .................................................................................. 48
3.1. Pháp nhân trong tội phạm tham nhũng ở khu vực tư ........................... 48
3.2. Thanh toán bôi trơn trong tội phạm hối lộ ............................................ 49
3.3. Tòa án xét xử chuyên biệt góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
.......................................................................................................................... 51
3.4. Lợi ích phi vật chất trong pháp luật hình sự liên quan đến tham nhũng
.......................................................................................................................... 53
Kết luận ............................................................................................................ 55
chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu
Công ty Kiểm toán PricewaterhouseCooper
US FCPA
Luật Chống Hối lộ của Anh
Công ước Liên Hiệp Quốc về Phòng chống tham
nhũng
Luật Chống Tham nhũng Hối lộ ở nước ngoài của
VNCB
Hoa Kỳ
Ngân hàng Xậy dựng
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
UK BA
UNCAC
Tóm tắt luận văn
Tham nhũng hối lộ không còn là vấn nạn của một quốc gia mà hiện là
vấn nạn toàn cầu. Người ta nhận thức được tác hại của tham nhũng hối lộ ảnh
hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, sự ổn định và công bằng xã
hội và cần được bài trừ. Ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, thuật ngữ
“tham nhũng hối lộ ở khu vực tư” khá mới mẻ. Luận văn sẽ làm rõ loại tội
phạm tham nhũng hối lộ hiện đang tồn tại ở khu vực tư và những kiến nghị góp
ổn định, bình đẳng trong sự phát triển chung của kinh tế xã hội, tham nhũng
hối lộ sẽ xuất hiện và trở thành một trong những trở ngại lớn nhất đối với phát
triển kinh tế khu vực tư nhân.
Nhận thức đúng đắn về xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu, Việt
Nam mở rộng cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Một luồng vốn lớn đã, đang và sẽ
ồ ạt đổ vào Việt Nam. Tiếp nhận vốn là tiếp nhận một lực lượng sản xuất tư
bản chủ nghĩa với những tư liệu sản xuất hiện đại, phong cách làm việc chuyên
2
nghiệp với những yêu cầu khắc khe trên nhiều phương diện, mang đến cho Việt
Nam nhiều cơ hội và thách thức.
Nhìn nhận về môi trường kinh doanh tại Việt Nam sau hơn 20 năm mở
cửa hội nhập, nhiều nhà đầu tư nước ngoài thẳng thắn đánh giá rằng: môi
trường kinh doanh của Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro1. Rủi ro không nằm ở
việc đồng tiền đầu tư bị mất mà rủi ro nằm ở việc vi phạm luật pháp quốc tế
được áp dụng xuyên biên giới, rủi ro tổn hại thương hiệu nổi tiếng lâu năm vốn
khó gầy dựng của họ. Lý do cơ bản được nhắc đến là những lỏng lẻo hoặc thực
thi kém của hệ thống luật pháp Việt Nam, một trong số đó là vấn đề tham
nhũng, hối lộ trong kinh doanh. Điều này hoàn toàn khớp với khảo sát của tổ
chức Hướng tới Minh bạch2, chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2016 của Việt
Nam đạt mức 33/100 điểm, xếp hạng 113 trên tổng 176 quốc gia, vùng lãnh thổ
trên bảng xếp hạng toàn cầu, đây là lần đầu tiên sau 4 năm, điểm số của Việt
Nam tăng nhẹ 2 điểm3, nhưng thứ hạng vẫn không hề thay đổi trong 5 năm.
Xét riêng ở khu vực tư, thực tế cho thấy, tại nhiều doanh nghiệp ở Việt
Nam, văn hoá nhận quà tặng và chiêu đãi từ đối tác kinh doanh hoặc dành
những lợi thế cho những đối tác là người có quan hệ họ hàng thân thuộc dường
như là bình thường. Người ta thoải mái làm điều đó mà không biết rằng tại
nhiều số quốc gia, hành động đó có thể bị xem là phạm pháp và có thể bị truy
tố với những chế tài rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, nó dường như chưa từng xảy
chưa hoàn chỉnh, cần có sự bình đẳng hơn trong việc xử lý tội phạm trong lĩnh
vực công và lĩnh vực tư. Không có lý do gì những hành vi này trong khu vực
công thì bị xử lý hình sự, mà trong khu vực tư lại không có chế tài hình sự nào
phù hợp để xử lý. Bên cạnh đó, trong thực tiễn xét xử sẽ này sinh trường hợp
một hành vi phạm tội xâm hại đối với cả khu vực công và tư, vậy nếu tách
riêng hai trường hợp xâm phạm khu vực công thì xử khác, khu vực tư thì xử
khác, sẽ dẫn đến việc cơ quan tố tụng phải xác định tỷ lệ % tài sản công để
quyết định có xử lý về tội tham nhũng, hối lộ hay không. Điều này gây rắc rối,
mất thời gian trong xét xử.
Thay đổi để đáp ứng xu thế thế giới là tất yếu. Tại Điều 51, Khoản 2,
Hiến pháp Việt Nam 2013 đã nêu rõ: Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”, đây sẽ là một khởi điểm
vững chắc để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trên phương diện chống
tham nhũng hối lộ ở khu vực tư, và thực tế, quy định này đã được phản ánh cụ
thể trong Bộ Luật Hình sự 2015 của Việt Nam.
Với lý do như vậy, đề tài “pháp luật về kiểm soát tham nhũng trong
lĩnh vực tư” sẽ là một nghiên cứu tổng quan về tham nhũng hối lộ ở khu vực
tư, cùng những kiến nghị có giá trị trong việc ngăn ngừa loại tội phạm này ở
Việt Nam. Luận văn sẽ bao gồm 3 chương như sau
Quang Chung, 2015. Hình sự hóa hành vi tham nhũng trong khu vực tư . Nguồn: [Truy cập ngày 20/3/2016].
4
4
Chương 1: Nhận thức về tham nhũng ở khu vực tư và ảnh hưởng của
tham nhũng hối lộ đến sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội.
Chương 2: Kiểm soát tham nhũng ở khu vực tư và quy định của pháp
luật
Chương 3: Kiến nghị trong việc phòng chống ở khu vực tư dưới góc độ
pháp luật hình sự
5
trên việc làm rõ bản chất và dấu hiệu của tham nhũng hối lộ ở khu vực tư cùng
với tác hại của nó đối với một quốc gia nói chung và một nền kinh tế nói riêng.
Từ việc làm sáng tỏ để thay đổi nhận thức về tham nhũng, hối lộ, luận văn sẽ
xem xét, đánh giá trên phương diện pháp lý để tìm ra những vấn đề cần hoàn
thiện của pháp luật, từ đó đề suất những kiến nghị có giá trị nhằm ngăn chặn
vấn nạn tham nhũng hối lộ ở khu vực tư, phù hợp với chủ trương chính sách
của Việt Nam, cũng như phù hợp với xu hướng luật pháp quốc tế.
Nhận thức thay đổi, thực trạng đánh giá và kiến nghị phù hợp để có tính
thực thi cao, không rơi vào những nghiên cứu suông lý thuyết, không có tính
thực tiễn. Tính có thể áp dụng là mục tiêu nghiên cứu mà luận văn hướng tới.
Luận văn sẽ tập trung vào những hành vi được thực hiện bởi những
người lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc
sẽ nhận ưu đãi từ một hoặc nhiều người khác, và hành vi ngược lại từ người đã
đưa, đang đưa và hứa đưa ưu đãi cho người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp
hoặc qua trung gian để có được những lợi thế không công bằng so với các đối
tượng khác ở khu vực tư.
5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết
Phương pháp luật học so sánh cùng với điều tra, khảo sát xã hội học sẽ
được áp dụng xuyên suốt trong nghiên cứu. Từ nghiên cứu thực trạng tham
nhũng hối lộ ở khu vực tư, những biến tướng của hành vi này, luận văn sẽ tìm
kiếm các mối liên quan của hành vi tham nhũng hối lộ khu vực tư với chế tài
của pháp luật Việt Nam hiện hành, cùng với những khảo sát, thống kê thực tế,
luận văn sẽ đánh giá hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc phòng chống và
ngăn ngừa tham nhũng hối lộ ở khu vực tư. Để nghiên cứu có tính thuyết phục,
hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới cũng sẽ được so sánh với pháp
luật của Việt Nam, từ đó mở rộng, tìm hiểu quan điểm của nhà làm luật và chủ
trương chính sách Nhà nước để có những kiến nghị phù hợp trên cương vị của
nhà làm luật.
nghèo với 26.18% số người được hỏi đồng ý). Đến năm 2016, chỉ số này giảm
xuống còn 5,29% (đói nghèo vẫn được xem là đáng quan ngại nhất với
24.53%)7. Xét riêng về tham nhũng hối lộ ở khu vực tư, khảo sát của Ngân
hàng Thế giới chỉ ra rằng, 38,3% các doanh nghiệp ở Việt Nam khi được hỏi
cho rằng họ đã từng gặp ít nhất 01 lần yêu cầu hối lộ trong năm 2009, và con
số này giảm xuống còn 26,1% vào năm 20158. Ba khảo sát khác nhau cùng cho
một kết quả, tham nhũng hối lộ vẫn luôn là một vấn đề đáng quan tâm ở Việt
Nam. Vậy tham nhũng hối lộ là gì? Tham nhũng hối lộ diễn ra như thế nào ở
khu vực tư?
1.1.1.1. Khu vực tư
Khái niệm “khu vực tư” (private sector), trong một số tài liệu còn được
gọi là khu vực thương mại (commercial sector), và “khu vực công” (public
sector) xuất hiện khá phổ biến trên thế giới, dễ dàng nhìn thấy hai thuật ngữ
này được nhắc nhiều trong các hệ thống pháp luật chống tham nhũng hối lộ.
Thuật ngữ “khu vực tư” và “khu vực công” được dùng để phân biệt các đối
Papi (The Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index): “Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành
chính công cấp tỉnh ở Việt Nam” là sản phẩm của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển-Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), Trung tâm
Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT), và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc
(UNDP) tại Việt Nam. Xem tại: />6
Papi, 2015. Chỉ số Hiệu quả Quản trị Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam. [pdf]. Trang 11-13. Nguồn:
< [Ngày xem: 08/7/2017].
7
Papi, 2016. Chỉ số Hiệu quả Quản trị Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam. [pdf]. Trang 19. Nguồn: < [Ngày xem: 08/7/2017].
8
Worldbank. Bribery incidence (% of firms experiencing at least one bribe payment request). Available at:
< [Accessed: 9 July
2017]
5
at: < [Accessed: 15/7/2017]. Original statement: “Public official means an individual having public official functions or
acting in a public official capacity”
Đinh Văn Minh và Phạm Thị Huệ, 2016. Vấn đề Tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay. Nhà Xuất Tư pháp.
Trang 15, phần 1.2
11
Trần Bình. Khu vực kinh tế tư nhân – nguồn huyệt mạch chưa khai thông [word]. Nguồn:
< [Ngày xem: 15/7/2017]
10
9
Tiếp cận khu vực tư dưới góc độ luật pháp, theo Lê Tiền Tuyến, khu
vực tư bao gồm các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp 1999 và
Luật Doanh nghiệp sửa đổi 201412. Theo cách tiếp cận này, khu vực tư sẽ
không bao gồm các tổ chức cá nhân kinh doanh không đăng ký kinh doanh, hộ
kinh doanh cá thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…và đương nhiên,
đây không thể là cách tiếp cận phù hợp và đầy đủ về khu vực tư ở Việt Nam.
Khu vực tư nên được hiểu là khu vực bao gồm những đối tượng hoạt
động bằng nguồn vốn độc lập với nguồn ngân sách nhà nước (bao gồm cả ngân
sách nhà nước của một quốc gia khác khi đầu tư vào Việt Nam), lợi nhuận sau
thuế của nó không có nghĩa vụ phải nộp trở lại ngân sách do không dùng nguồn
vốn từ ngân sách cấp. Chiến lược hoạt động, kế hoạch vận hành… có thể bị
ảnh hưởng do hệ thống pháp luật của nhà nước, nhưng không bị kiểm soát,
điều chỉnh hay chi phối bởi nhà nước. Theo đó, cá nhân trong khu vực tư sẽ
không bao gồm những người thuộc khu vực công là cán bộ, công chức, viên
chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang
(quân đội nhân dân và công an nhân dân) có hưởng lương từ ngân sách nhà
nước, hoặc khoản lợi ích tương tự từ ngân sách nhà nước, hay từ các tổ chức
kiểm soát hoặc/và sở hữu bởi nhà nước.
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm tham nhũng trong khu vực tư
nhân viên chức, và người công tác trong quân đội, công an nhân dân và “Người
giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước
hoặc người đại diện theo ủy quyền phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp”13. Nói
chung, là những người của khu vực công.
Trên thế giới, tính đến thời điểm hiện tại, có 3 hệ thống quy định được
xem là có ảnh hưởng lớn nhất đến tham nhũng hối lộ nói chung và tham nhũng
hối lộ ở khu vực tư nói riêng, đó là Luật Chống Tham nhũng của Anh (United
Kingdom Bribery Act 2010 – viết tắt là UK BA 2010), Luật Chống Tham nhũng
Hối lộ ở nước ngoài của Hoa Kỳ (The United States Foreign Corrupt Practices
Act of 1977, as amended, 15 U.S.C. §§ 78dd-1, et seq., – viết tắt US FCPA
1977), Công ước Chống Tham nhũng Hối lộ của Chính phủ nước ngoài trong
Giao thương Quốc tế của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OECD14
Dự thảo Luật Phòng, Chống Tham nhũng, điều 1. Nguồn:
< />x=1>. [Ngày xem: 24/9/2017]
14
The Criminal Division of the U.S. Department of Justice and the Enforcement Division of the U.S. Securities and Exchange
Commission, 2012. A Resource Guide to the U.S. Foreign corruption Practices Acts [e-manual], page 7. Available at:
< [Accessed: 01 August 2017]. “(OECD được thành lập vào năm
13
11
Convention on Combating Briebry of Foreign Public Officials in International
Business Transactions– Viết tắt OECD 2007). Lần lượt tìm hiểu khái niệm
tham nhũng hối lộ theo quy định của các hệ thống pháp luật, công ước này.
Theo UK BA 2010 (ngày 8 tháng 4 năm 2010), chương 23 có quy định:
Một người sẽ bị xem là đưa hối lộ (còn được gọi là “hối lộ chủ động-
16
UK Bribery Act 2010, chapter 23, part 1. Available at:
< Accessed: [13 August 2017]
17
The Crown Prosecution Service. Bribery Act 2010: Joint Prosecution Guidance of The Director of the Serious Fraud Office
and The Director of Public Prosecutions. Part: Key terms used in the Act. Available at:
< [Accessed: 01 August 2017].
12
trường hợp, dù người đó không biết hoặc không tin rằng việc mình đang yêu
cầu có thể dẫn đến việc thực hiện phần công việc hoặc hoạt động liên quan một
cách không phù hợp thì vẫn vi phạm pháp luật này.18
Luật này không có phân biệt người đưa và người nhận là người của khu
vực công hay khu vực tư, ngoại trừ có một phần quy định cụ thể hơn cho hành
vi đưa hối lộ cho quan chức nhà nước ở nước ngoài (ngoài Vương Quốc
Anh)19. Điều này có nghĩa là bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật quy định thì đều
chịu các chế tài liên quan bao gồm cả phạt tiền và phạt tù theo quy định tại
phần 11 của Luật này. Như vậy, hành vi hối lộ và tham nhũng theo UK BA
2010 bao gồm cả hối lộ tham nhũng từ “khu vực tư sang khu vực tư”, từ “khu
vực tư sang khu vực công”, bao gồm cả “hối lộ trực tiếp” và hối lộ qua bên thứ
ba – “hối lộ gián tiếp”, “hối lộ chủ động” (đưa hối lộ) và “hối lộ thụ động”
(nhận hối lộ).
Theo US FCPA 1977, một cách chung nhất, Luật này nghiêm cấm việc
đề nghị thanh toán, thực hiện việc thanh toán, hứa thanh toán, hoặc ủy quyền
thanh toán tiền, hoặc bất kỳ thứ gì có giá trị (“anything of value”) cho một
quan chức nhà nước ở nước ngoài để gây ảnh hưởng bất kỳ hành động hay
Như vậy, US FCPA 1977 điều chỉnh hành vi tham nhũng hối lộ “từ khu
vực tư sang khu vực công”, quy định không rộng bằng quy định của UK BA
2010.
Theo OECD 2007, “mỗi bên tham gia trong các giao thương quốc tế sẽ
thực hiện các biện pháp cần thiết để xác định rằng sẽ là vi phạm pháp luật hình
sự nếu bất kỳ người nào có ý định cung cấp, hứa hẹn hoặc trao tặng bất kỳ một
khoản tiền dù nhỏ hay lớn hoặc bất kỳ ưu đãi, dù là trực tiếp hay thông qua
trung gian, cho một quan chức chính phủ nước ngoài, để chính quan chức đó
hoặc một bên thứ ba, làm một việc không phù hợp nhằm mang lại những thuận
lợi cho công việc kinh doanh trong các giao dịch quốc tế cho họ mà đáng ra
theo trách nhiệm bình thường, quan chức nhà nước đó phải làm.”22
Ở Việt Nam, khái niệm tham nhũng hối lộ cũng được định nghĩa trong
luật. Theo Bộ Luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015,
hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2016 và Bộ Luật Hình sự sửa đổi số
12/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017, chính thức có hiệu lực vào ngày
01/01/2018, quy định “người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc
qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân
người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì
21
The Criminal Division of the U.S. Department of Justice and the Enforcement Division of the U.S. Securities and Exchange
Commission, 2012. A Resource Guide to the U.S. Foreign corruption Practices Acts [e-manual], page 11, chapter 2. Available at:
< [Accessed: 01 August 2017]. Original statement: “A domestic
concern is any individual who is a citizen, national, or resident of the United States, or any corporation, partnership,
association, joint-stock company, business trust, unincorporated organization, or sole proprietorship that is organized under the
laws of the United States or its states, territories, possessions, or commonwealths or that has its principal place of business in
the United States. Officers, directors, employees, agents, or stockholders acting on behalf of a domestic concern, including
foreign nationals or companies, are also covered”.
22
Khoản 1, Điều 354, Luật Hình sự số 12/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017, chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2018.
Campos et al. (2010), pg. 11. (nghiên cứu của Campos và Eugenio Proto và Saul Estrin năm 2010)
15
Sơ đồ bên dưới 25cho thấy nguy cơ tham nhũng trong các lĩnh vực hoạt
động của khu vực tư. Khi một doanh nghiệp càng lớn, có tiếng tăm, thì những
rủi ro về các vấn đề như tham nhũng, cạnh tranh lành mạnh… càng tăng và
thực tế là thiết kế quy trình kiểm soát các rủi ro đó cũng không hề đơn giản.
Tham nhũng trong một công ty có thể đến từ hoạt động hối lộ thương mại. Ví
dụ, tại Hoa Kỳ, có bằng chứng cho thấy Honda đã cấp hợp đồng đại lý ô tô để
che dấu hành vi hối lộ. Khi tình trạng này đã được phát hiện, hơn một ngàn đại
lý nhận được bồi thường đáng kể từ Honda26. Ngoài ra, các doanh nghiệp cạnh
tranh có thể thông đồng bí mật để tạo thành các “nhóm thoả thuận” (“cartel”)
gây tổn hại cạnh tranh và cuối cùng là ảnh hưởng đến người tiêu dùng, kiềm
hãm sự phát triển của xã hội. Ở một góc nhìn khác, tham nhũng hối lộ có mối
quan hệ mật thiết đến sự cạnh tranh lành mạnh. Tình trạng này rất nghiêm
trọng và có thể gây nguy hiểm cho sự ổn định kinh tế của quốc gia. Nó được
biết như một đám mây đen bao phủ lên quốc gia và có thể dẫn đến chậm tăng
trưởng và phát triển bền vững ở cấp vĩ mô.
Tổ chức Hướng tới Minh bạch Quốc tế, 2009. Báo cáo Tham nhũng Toàn cầu (2009).
Gonzalo F. Forgues-Puccio, 2013. Corruption and the Private Sector: a review issue. Oxford policy management, page 1.
Available at < />[Accessed 17 March 2016]
25
26
17
mạng lưới những người quen biết ủng hộ, và tương tự như vậy, trong xã hội
Nhật Bản, việc một số doanh nghiệp tìm kiếm lợi ích từ việc biếu tặng một số
lợi ích nói chung là được chấp nhận. Hai thống kê29 dưới đây ở Ukraine lại cho
thấy rằng, hối lộ sẽ giúp công việc của họ trở nên suôn sẻ hơn và phần đông
đều đồng ý chi trả hối lộ để đạt được điều đó, quan điểm này xuất hiện cả trong
cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và người dân Ukraine nói chung:
Thống kê 1:
Năm 2009 (chọn mẫu
Lý do hối lộ
trong phạm vi quốc
gia)
Bởi vì có những vấn đề sẽ không thể được giải quyết nếu bạn không hối lộ
23.3 %
Bởi vì đó là cách dễ dàng hơn để người ta giải quyết vấn đề của họ
22.4 %
Bởi vì nó vốn là điều bình thường của cuộc sống
20.9 %
Bởi vì người có quyền (quan chức nhà nước) yêu cầu điều đó
19.3 %
Thống kê 2:
Khi bạn được yêu cầu đưa hối lộ để giải quyết công việc của
bạn. Bạn sẽ
Người dân
Ukraine (mọi
thành phần)
Doanh
nghiệp
Đưa hối lộ
36.5 %
29.2%
Báo cáo với cấp trên của người đó
4.6%
7.2%
Báo với cơ quan có thẩm quyền (ví dụ như công an)
4.6%
11.0%
Kiện ra toà
7.0%
Không thể cho ý kiến
31.1%
24.4%
Nói chung, có thể nhận thấy, khác với tham nhũng ở khu vực công,
tham nhũng ở khu vực tư có các đặc điểm sau:
- Người đưa hối lộ là người của khu vực tư, nhưng người nhận hối lộ có
thể là người của khu vực tư, cũng có thể là người của khu vực công;
- Người nhận của hối lộ có những ưu đãi, tác động nhằm duy trì công
việc kinh doanh của người đưa hối lộ, ví dụ như đồng ý giao kết hoặc gia hạn
thêm thời hạn hợp đồng kinh tế mà hai bên ký kết, kết quả kiểm toán,…
- Mục đích đưa hối lộ không phải duy nhất vì mục đích cá nhân người
đưa hối lộ mà trong nhiều trường hợp là vì mục đích và làm theo yêu cầu của tổ
chức mà cá nhân đó đại diện.
- Tham nhũng ở khu vực tư trong một số trường hợp có thể có những
liên quan đến pháp luật cạnh tranh (người nhận hối lộ có những ưu đãi cho
người đưa hối lộ, gây giảm sút hoặc mất đi sự cạnh tranh công bằng trên thị
trường), điều này không xuất hiện trong tham nhũng ở khu vực công.