1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ VĂN CHUNG
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI TRONG
LĨNH VỰC BƢU CHÍNH Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát
HÀ NỘI - 2015 3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học
của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
15
1.1.
Bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự
15
1.1.1.
Khái lược về quá trình phát triển của trách nhiệm bồi
thường thiệt hại
15
1.1.2.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
17
1.1.3.
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
18
1.1.4.
Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
20
1.1.5.
Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại
23
1.2.
Bồi thường thiệt hại trong pháp luật bưu chính
24
1.2.1.
Khái niệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính
24
1.2.2 .
Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh
vực bưu chính
28
2.1.5.
Một số đánh giá, nhận xét
41
2.2.
Quy định về bồi thường thiệt hại của Bưu chính một số
quốc gia trên thế giới
43
2.2.1.
Quy định của Bưu chính Nga
43
2.2.2.
Quy định của Bưu chính Singapore
43
2.2.3.
Quy định của Bưu chính New Zealand
44
2.2.4.
Quy định của Bưu chính Thái Lan
44
2.3.
Quy định về bồi thường thiệt hại ở một số lĩnh vực
tương đồng
44
2.3.1.
Lĩnh vực hàng hải (vận tải đường biển)
44
2.3.2.
Lĩnh vực hàng không
46
2.3.3.
Thực trạng môi trường kinh doanh dịch vụ bưu chính
52
6
2.5.2.
Đánh giá, nhận xét các quy định về bồi thường thiệt hại
trong lĩnh vực bưu chính
52
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƢỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC
BƢU CHÍNH Ở VIỆT NAM
59
3.1.
Định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về
bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính
59
3.2.
Một số ý kiến cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu
chính
60
3.2.1.
Quy định về bồi thường thiệt hại đối với dịch vụ bưu
chính quốc tế vận chuyển bằng đường thủy bộ
60
3.2.1.1.
Sự cần thết quy định về bồi thường thiệt hại theo đường
thủy bộ
69
7
pháp luật về bưu chính
KẾT LUẬN
71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
73
c bồi thường thiệt hại công ty DHL
39
2.3
Mư
́
c bồi thường thiệt hại công ty UPS
39
2.4
Mư
́
c bồi thường thiệt hại công ty Fedex
39
2.5
Mư
́
c bồi thường thiệt hại công ty TNT
39
chất lượng dịch vụ cao và mức giá cước cạnh tranh.
10
Trong hoàn cảnh đó, giống như các lĩnh vực kinh tế - dịch vụ khác, điều
khoản về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu
chính giữa các doanh nghiệp bưu chính và khách hàng (người sử dụng dịch vụ
bưu chính) là một trong những điều khoản vô cùng quan trọng, nó quy định
trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên khi có sự vi phạm các điều khoản khác
trong hợp đồng. Hơn thế nữa, lĩnh vực bưu chính là một lĩnh vực kinh doanh
dịch vụ, việc bồi thường thiệt hại có những điểm đặc thù, phức tạp riêng, đòi hỏi
phải có sự xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng. Việc xem xét, nghiên cứu, đề xuất
hoàn thiện quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại luôn là một nội dung
quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về bưu chính, vừa nhằm đảm bảo
quyền lợi, nghĩa vụ của cả doanh nghiệp bưu chính cung cấp các dịch vụ bưu
chính và người sử dụng dịch vụ bưu chính, vừa đảm bảo phù hợp với hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật trong nước và các Công ước quốc tế mà Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tham gia ký kết trong lĩnh vực bưu chính.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về pháp luật bồi
thường thiệt hại đã bộc lộ một số hạn chế như: Quy định về mức bồi thường
thiệt hại cho dịch vụ bưu chính quốc tế vận chuyển bằng phương thức khác quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 25 Nghị định số 47/2011/NĐ-CP quy định chi tiết
thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính, một số quy định khác liên quan
đến bồi thường thiệt hại như bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp
bưu chính vi phạm hợp đồng đã giao kết với người sử dụng dịch vụ do không
đảm bảo thời gian toàn trình, cơ chế giải quyết tranh chấp khi có phát sinh giữa
doanh nghiệp bưu chính và người sửa dụng dịch vụ…
Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài "Pháp luật về bồi thường thiệt hại
trong lĩnh vực bưu chính ở Việt Nam" với mong muốn được nghiên cứu một
cách đầy đủ và có hệ thống các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong
lĩnh vực bưu chính ở Việt Nam, từ các vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại,
hơn vấn đề pháp lý liên quan đến pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh
vực bưu chính ở Việt Nam, qua đó tìm ra những bất cập trong các quy định
của pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy
đinh của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính. Việc
12
hoàn thiện các quy định pháp luật về bưu chính sẽ nâng cao chất lượng các
dich vụ bưu chính, thúc đẩy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bưu chính, bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng dịch vụ bưu chính cũng
như của chính các doanh nghiệp bưu chính trong quá trình hội nhập và phát
triển.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu và làm rõ những vấn đề pháp lý về bồi thường
thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính
Tham khảo pháp luật về bồi thường thiệt hại ở một số lĩnh vực có
nhiều điểm tương đồng như lĩnh vực hàng không, lĩnh vực vận tải.
Bên cạnh đó, luận văn cũng có tham khảo pháp luật về bồi thường
thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính của một số quốc gia có nên bưu chính phát
triển như Singapore, Nga, New Zealand…
Luận văn cũng có tiến hành thu thập, thống kê, phân tích các số liệu
về cước, mức bồi thường của các doanh nghiệp bưu chính đang cung ứng
dich vụ bưu chính tại Việt Nam.
Trên cơ sở , luận văn có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định
về bồi thường thiệt hại bưu chính ở Việt Nam qua đó đảm bảo việc bồi
thường thiệt hại về bưu chính phù hợp hơn với tình hình thực tế, góp phần
đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng dịch vụ bưu chính
cũng như quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp bưu chính đang
tham gia cung ứng các dịch vụ bưu chính tại Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
6. Kết cấu của luận văn
14
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về bồi thường thiệt hại hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành
Chương 2: Thực trạng về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu
chính
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về
bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính. 15
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
1.1. BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
1.1.1. Khái lược về quá trình phát triển của trách nhiệm bồi thường
thiệt hại
Trước khi được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý chịu sự điều
chỉnh của Luật tư như hiện nay thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã trải
qua một quá trình phát triển với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác biệt.
Có thể khái quát các giai đoạn phát triển cơ bản của trách nhiệm bồi thường
thiệt hại như sau:
Giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội
còn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân, mỗi khi bị xâm
phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối
phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ. Chế độ này còn được gọi là chế độ
tư nhân phục thù.
Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các
điều khoản trách nhiệm về luật hình ví dụ: Quốc triều hình luật đã quy định:
Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách
làm hiệu và ràng buộc không đúng phép – (theo đúng phép vật nào
hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân,
cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người
chủ phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương
thì phải tội quá thất. Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị
thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người
một bậc. Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là người
cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không
phải tội [Điều 582]. 17
Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách
làm hiệu và ràng buộc không đúng phép – (theo đúng phép vật nào
hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân,
cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người
chủ phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương
thì phải tội quá thất. Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị
thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết
người một bậc. Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay
là người cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người
chủ không phải tội [Điều 582].
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng
quy định sự bồi thường. Đối với trường hợp đánh người bị thương, điều 468
Quốc triều hình luật đã quy định sự nuôi bảo cô. Ví dụ như quy định việc
đánh bị thương bằng chân tay thì phải nuôi 10 ngày, bằng vật khác thì phải
nuôi 20 ngày, bằng thứ có mũi nhọn hay bằng nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40
chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực
chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người
sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì
lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho
người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra.
Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác
được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại là
một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ
pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất
mà mình gây ra.
1.1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách
nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, 19
áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả
bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà
nước… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn có những đặc điểm riêng sau
đây:
Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách
nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự và các pháp luật
chuyên nghành. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi
thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Bộ
luật dân sự và luật chuyên nghành điều chỉnh.
Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi
thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi
được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ xác định cơ sở giải quyết bồi
thường theo hợp đồng và ngoài hợp đồng sẽ rất khác nhau. Chính vì vậy, xác
định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật dân
sự và pháp luật chuyên ngành một cách đúng đắn.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm
dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra
thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất
mà mình gây ra.
Như vậy, cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp
đồng bao gồm:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phải
dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi
thường và người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng.
Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại
xảy ra bao giờ cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gây
thiệt hại chỉ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ 21
hợp đồng và vi phạm đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng bởi lẽ hợp đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi là
chưa hề tồn tại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có
hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng hợp đồng gây ra.
Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan
hệ hợp đồng đó. Bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được áp dụng khi hành vi
ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định.
Các điều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi. Tuy nhiên,
bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, do cơ sở phát sinh trách nhiệm là do các
bên bên thoả thuận nên các bên cũng có thể thoả thuận đặt ra các điều kiện
phát sinh có thể không bao gồm đầy đủ những điều kiện trên như bên vi phạm
hợp đồng không có lỗi cũng vẫn phải bồi thường thiệt hại …
Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn
áp dụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người
giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp
nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề…. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia
hợp đồng mà không thể áp dụng đối với người thứ ba. Hay nói các khác, các
chủ thể trong hợp đồng không thể thoả thuận bất kỳ ai không tham gia hợp
đồng sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không được sự đồng ý
của họ.
Về mức bồi thường: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên
tắc là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Thiệt hại
chỉ có thể được giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại
có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu
dài của họ. Còn đối với bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các bên có thoả
thoả thuận ngay trong hợp đồng về mức bồi thường bằng, thấp hơn hoặc cao 23
hơn mức thiệt hại xảy ra và khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì
mức bồi thường sẽ áp dụng mức do các bên thoả thuận.
1.1.4.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về tinh thần
Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phạm vi được quy định
mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho
người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra, mức bồi thường
này nằm trong phần phạm vi đã được quy định.
Trên thực tế trong các hợp đồng, có 3 loại giới hạn trách nhiệm bồi
thường chính:
Giới hạn dưới: Thường được đặt ra trong trường hợp xác định một
mức bồi thường tối thiểu mà nhà cung cấp phải trả trong trường hợp có xảy ra
sự kiện mà nhà cung cấp có nghĩa vụ phải bồi thường. Mức giới hạn này đặt
ra nhằm để bảo vệ người bị vi phạm, giúp cho người bị vi phạm trong bất cứ
trường hợp nào cũng được hưởng một mức bồi thường tối thiếu nhất định.
Đây là mức giới hạn mà lĩnh vực bưu chính đang áp dụng.
Giới hạn trên: Được đặt ra trong trường hợp quy định mức tối đa mà
bên vi phạm phải gánh chịu thay vì phải chịu những mức bồi thường không
xác định giá trị. Chính vì vậy, mức bồi thường này chủ yếu là nhằm để bảo vệ
người vi phạm nghĩa vụ trong trường hợp người bị vi phạm yêu cầu mức bồi
thường quá vận tải đang áp dụng.
Giới hạn khung: Quy định cả mức tối đa và tối thiểu nhằm bảo vệ
quyền lợi của cả 2 bên trong trường hợp có vi phạm xảy ra. Người vi phạm
bồi thường cho người bị vi phạm trong phạm vi khung giới hạn được quy
định.
1.2. BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI TRONG PHÁP LUẬT BƢU CHÍNH
1.2.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính
Theo quy định tại Luật Bưu chính số 49/2010/QH12 được Quốc hội
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/6/2010 thì có
một số khái niệm được định nghĩa như sau: 25
Dịch vụ bưu chính là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát