Luận văn thạc sỹ - Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang - Pdf 53

LƯƠNG THỊ THU TRANG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
LAO ĐÔNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

LƯƠNG THỊ THU TRANG

2016 - 2018

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LAO
ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

LƯƠNG THỊ THU TRANG

CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ

-Viện đại học Mở Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như
tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu cho
đến khi thực hiện đề tài luận văn.
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2018
Học viên thực hiện

Lương Thị Thu Trang


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT.......................5
1.1. Khái niệm, đặc điểm bồi thường thiệt hại trong lao động.............................5
1.1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại trong lao động...........................................5
1.1.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong lao động......................................6
1.1.3. Sự khác biệt giữa bồi thường thiệt hại trong luật lao động với bồi thường
trong luật dân sự...................................................................................................7
1.2. Điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động......................10
1.2.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động........10
1.2.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động.....11
Kết luận chương 1.................................................................................................23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC GIANG......................................................................................24
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại trong lao động....24


Bộ luật lao động

LLĐ

Luật lao động

BTTH

Bồi thường thiệt hại

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

NLĐ

Người lao động

NSDLĐ

Người sử dụng lao động


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, quan hệ pháp luật lao động
được coi là một trong số những quan hệ pháp luật phổ biến và quan trọng. Khi tham
gia vào quan hệ lao động, các chủ thể có khả năng gặp rủi ro gây thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, tinh thần… mà nguyên nhân có thể là do chủ quan hoặc khách

hợp BTTH trong lao động, thực tiễn áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại
trong lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của các chế định này trong thực tế.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Pháp luật về BTTH trong lĩnh vực lao động là một vấn đề có ý nghĩa quan
trọng trong việc đảm bảo quan hệ lao động được hài hòa, ổn định, tiến bộ. Đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động. Từ khi BLLĐ năm
2012 ra đời, các công trình nghiên cứu trước đây thường chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu một số khía cạnh của BTTH trong lao động, ví dụ như:
- Nghiên cứu “Chế độ bồi thường trong Luật Lao động Việt Nam” (2006), tác
giả PGS.TS Nguyễn Hữu Chí - chủ biên. Tác giả đề cập đến vấn đề bồi thường
trong LLĐ theo quy định hiện hành. Từ đó, chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc
trong quá trình thực hiện và phương hướng hoàn thiện đối với vấn đề này.
- Luận văn “Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam và thực
tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Bích
Nga - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã tập trung nêu rõ một số vấn đề lý luận
về BTTH và điều chỉnh của pháp luật lao động. Đi sâu nghiên cứu về lịch sử hình
thành và phát triển pháp luật về BTTH trong pháp luật lao động. Thực trạng thi
hành các quy định về BTTH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả BTTH trong pháp luật lao động Việt Nam.
- Luận văn “Trách nhiệm vật chất trong Luật lao động Việt Nam – thực trạng
và phương hướng hoàn thiện” (2010) của tác giả Nguyễn Thị Hường – Đại học
Quốc gia Hà Nội. Trong đó, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ
các quy định của pháp luật lao động Việt Nam liên quan đến trách nhiệm vật chất,
vấn đề trách nhiệm vật chất trong kỷ luật lao động và vai trò quan trọng của trách
nhiệm vật chất đối với doanh nghiệp, so sánh với pháp luật lao động về trách nhiệm
vật chất của một số nước trên thế giới. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng để
đưa ra các đánh giá tổng quan về thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm vật
chất và nêu lên các kiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện về


- Nghiên cứu tình hình thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao
động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;
- Nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại và
nâng cao hiệu quả thi hành trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

3


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong LLĐ; thực tiễn thi hành pháp
luật về bồi thường thiệt hại trong lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung: Các trường hợp
bồi thường thiệt hại trong lao động; giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại
trong lao động; thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phép biện chứng duy vật của
triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp luận cho việc
nghiên cứu. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp so sánh, chứng minh... để nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài theo nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của Luận văn
Kêt quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích sử
dụng cho việc học tập khi nghiên cứu những vấn đề về bồi thường thiệt hại trong
lao động, đồng thời nó cũng có giá trị nhất định đối với các cơ quan tổ chức trong
việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện những quy định về bồi thường thiệt hại trong
lao động.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

khác nhau như: Luật dân sự, luật Hình sự, luật Lao động, luật Thương mại… thông
qua đó, Nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia các quan
hệ pháp luật khác nhau.
Với quan điểm phân hệ thống pháp luật thành các ngành luật thì vấn đề bồi
thường thiệt hại thường được xem như lĩnh vực đặc trưng của luật dân sự. Tuy
nhiên, đây là loại chế định có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều loại quan hệ pháp
luật khác nhau. Nếu quan hệ bồi thường phát sinh do một trong các bên của quan hệ

5


lao động gây thiệt hại cho bên kia khi thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động thì do
LLĐ điều chỉnh [23, tr.23].
Trong giáo trình LLĐ của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng không đưa ra
khái niệm đầy đủ về bồi thường thiệt hại trong lao động mà chỉ đưa ra khái niệm về
bồi thường thiệt hại vật chất trong quan hệ lao động như sau: “Bồi thường thiệt hại
vật chất trong quan hệ lao động là nghĩa vụ của NLĐ phải bồi thường những thiệt
hại về tài sản cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm hợp đồng
trách nhiệm gây ra” [23, tr.323].
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Chí thì “Bồi thường thiệt hại trong LLĐ là một
loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi
phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp
tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho người bị thiệt hại [16, tr.45].
Từ những nghiên cứu về bồi thường thiệt hại ở những góc độ pháp luật khác
nhau, có thể đưa khái niệm chung về bồi thường thiệt hại trong lao động như sau:
Bồi thường thiệt hại trong lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi
một bên chủ thể trong quan hệ lao động hoặc quan hệ liên quan đến quan hệ lao
động, có hành vi trực tiếp hay gián tiếp gây thiệt hại cho chủ thể bên kia, nhằm bù
đắp những tổn thất về vật chất, sức khỏe, tinh thần cho bên bị thiệt hại.
1.1.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong lao động

niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp
nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành
niên, các trung tâm bảo trợ người khuyết tật gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ
sở dạy nghề…
1.1.3. Sự khác biệt giữa bồi thường thiệt hại trong luật lao động với bồi thường
trong luật dân sự
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh
Nếu như Bộ luật dân sự điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản của
cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý
chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)
thì LLĐ điều chỉnh quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ và
các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động, trong đó quan hệ lao
động được coi là nền tảng, tiền đề của nhiều quan hệ khác có liên quan.
Các quan hệ lao động đó được thiết lập dưới hình thức HĐLĐ. Mặc dù đều
là mối quan hệ thiết lập trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng nhưng điểm

7


khác biệt cơ bản giữa HĐLĐ với hợp đồng dân sự là ở chỗ đối tượng của HĐLĐ
không phải hoàng hóa dịch vụ thông thường mà là việc làm, là sức lao động, nó
được coi là một thứ hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Việc ký kết
HĐLĐ gắn liền với tư cách cá nhân, có tính chất đích danh nên các chủ thể không
thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ lao động của họ cho người khác.
BTTH trong pháp luật lao động chỉ phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động,
dưới hình thức HĐLĐ. Trách nhiệm BTTH trong pháp luật dân sự không chỉ phát
sinh dựa trên quan hệ dân sự (hợp đồng dân sự) mà có thể phát sinh từ hành vi gây
thiệt hại ngoài hợp đồng, có nghĩa là giữa các bên không cần tồn tại một quan hệ
hợp đồng nào cả cũng có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu như
hành vi đó trái pháp luật và gây thiệt hại cho chủ thể khác. Mặt khác, chủ thể trong

LLĐ thì việc xác định lỗi cố ý hay vô ý có ảnh hưởng lớn đến việc xác định trách
nhiệm BTTH. Trừ một số trường hợp cụ thể LLĐ quy định khi không có yếu tố lỗi
nhưng NSDLĐ vẫn phải bồi thường cho NLĐ.
Thứ ba, về nguyên tắc bồi thường
Nguyên tắc BTTH theo quy định của LLĐ có sự khác biệt cơ bản so với các
quy định của Luật dân sự. Trong quan hệ dân sự thì chủ thể gây thiệt hại trái pháp
luật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, bao gồm cả những thiệt hại
trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, trong khi đó BLLĐ quy định người gây thiệt hại có
thể bồi thường một phần thiệt hại hoặc toàn bộ thiệt hại. Đồng thời, người gây thiệt
hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại trực tiếp từ hành vi vi phạm của mình chứ
không phải bồi thường những thiệt hại gián tiếp.
Thứ tư, về thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Về thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trong Luật dân sự
nguyên tắc có tính xuyên suốt chỉ đạo trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại
là đơn giản, nhanh gọn… trong khi thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong LLĐ lại theo một trình tự phức tạp, trong đó có sự tham gia của Công đoàn-tổ
chức đại diện cho tập thể NLĐ. Việc thực hiện trách nhiệm bồi thường cũng có sự
đặc biệt, đối với NSDLĐ, nguyên tắc là bồi thường toàn bộ thiệt hại và bồi thường
1 lần, còn đối với NLĐ thì có thể chỉ bị trừ dần vào lương hàng tháng với tỷ lệ
không quá 30% lương tháng.

9


1.2. Điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
1.2.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động là một bộ phận của pháp luật
lao động. Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh về bồi

Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất theo
các văn bản do Nhà nước ban hành, còn việc xử lý vi phạm được áp dụng cho mọi
tổ chức cá nhân có hành vi vô ý, hoặc cố ý vi phạm trong lĩnh vực lao động.
Có thể thấy pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực lao động hiện
nay có vai trò hết sức quan trọng, nó thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước trong
lĩnh vực lao động ngày càng được nâng cao. Nhìn chung, pháp luật về bồi thường
thiệt hại trong lao động đã tạo hành lang pháp lý để các chủ thể trong quan hệ lao
động thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về lao động.
1.2.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
1.2.2.1. Nguyên tắc thực hiện bồi thường thiệt hại trong lao động
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo LLĐ được hiểu là những tư tưởng chỉ
đạo có tính chất bắt buộc, xuyên suốt các quy phạm pháp luật lao động về bồi
thường thiệt hại trong các quan hệ pháp luật lao động. Những nguyên tắc này cũng
là những tư tưởng có tính chất định hướng đối với hoạt động giải quyết tranh chấp
về bồi thường thiệt hại trong thực tế. Cụ thể là những nguyên tắc sau đây:
- Bồi thường thiệt hại thực tế và kịp thời
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề bồi
thường thiệt hai nói chung, vấn đề bồi thường thiệt hại theo LLĐ nói riêng bởi căn
cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm bồi thường là phải có thiệt hại về tài sản hoặc
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe… về mặt thực tế, để xác định chính xác mức độ bồi
thường nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
Trong quan hệ pháp luật lao động, khi một bên gây thiệt hại cho bên kia về
tài sản, tính mạng, sức khỏe, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu được bồi thường theo
đúng những thiệt hại thực tế mà họ phải gánh chịu. Nghĩa là bên gây thiệt hại làm
tổn hại, mất mát, hư hỏng hoặc giảm sút về giá trị vật chất ở mức nào thì phải bồi
thường theo thời giá thị trường những thiệt hại thực tế mà tại thời điểm xảy ra thiệt
hại đã xác định. Việc xác định nguyên tắc bồi thường này nhằm đảm bảo tính công

11

năng gây ra thiệt hại cho bên kia dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy
ra nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

12


Tuy nhiên pháp luật lao động với điểm đặc thù là bảo vệ NLĐ nên những
quy định về chế độ bồi thường thiệt hại trong sẽ có nhiều điểm khác biệt so với các
ngành luật khác. Trong một số trường hợp NSDLĐ dù không có lỗi nhưng về
nguyên tắc vẫn phải bồi thường cho NLĐ hoặc có trường hợp NLĐ vi phạm kỷ luật
lao động gây thiệt hại nhưng NSDLĐ không thể áp dụng trách nhiệm vật chất đối
với họ.
- Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào khả năng kinh
tế, ý thức, thái độ của người gây thiệt hại
Thông thường, khi xác định trách nhiệm bồi thường theo LLĐ cần dựa trên
các căn cứ luật định để xác định mức bồi thường của bên gây thiệt hại. Tuy nhiên,
không phải bao giờ bên gây thiệt hại cũng phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại
do mình gây ra. Trong thực tế, trách nhiệm bồi thường còn được xác định dựa vào
hoàn cảnh kinh tế của bên gây thiệt hại. Nguyên tắc này được khuyến khích áp dụng
đối với trách nhiệm bồi thường theo LLĐ do xuất phát từ tính chất xã hội của quan
hệ lao động. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp người phải bồi thường
là NLĐ, bởi họ là người không có khả năng về tiền bạc, là người làm thuê, bán sức
lao động để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình...
Mặt khác, nếu người gây thiệt hại đã thấy được lỗi của mình và tỏ ra ăn năn,
hối lỗi thì trách nhiệm bồi thường cũng không nên xác định quá nghiêm khắc nhằm
tạo cho họ cơ hội để tự ý thức được trách nhiệm, điều chỉnh hành vi khi tham gia
quan hệ pháp luật lao động. Điều này còn có tác dụng làm dịu đi những bất đồng
giữa các bên trong quan hệ lao động, giúp cho các bên thân thiện hơn nếu tiếp tục
hợp tác với nhau.
- Bồi thường toàn bộ, kịp thời, ngang giá và hoặc bồi thường một phần thiệt

về an toàn vệ sinh lao động, vi phạm hợp đồng lao động.
Vi phạm pháp luật lao động có thể chia thành hai loại là vi phạm trực tiếp và
vi phạm gián tiếp. Vi phạm trực tiếp pháp luật lao động là những hành vi trái với
quy định của Nhà nước về quan hệ lao động, về an toàn, vệ sinh lao động và những
quy định trong lĩnh vực quản lý lao động.
Vi phạm gián tiếp các quy định của pháp luật lao động là những hành vi vi
phạm các quy định khác có tính chất thỏa thuận trong quan hệ lao động như vi
phạm thỏa ước lao động tập thể, vi phạm hợp đồng lao động, vi phạm nội quy, quy
chế lao động.

14


- Có thiệt hại xảy ra
Là yếu tố cấu thành cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đây là điều
kiện được coi là bắt buộc và quyết định việc có phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại hay không. Thiệt hại xảy ra trong quan hệ pháp luật lao động khác với thiệt
hại trong quan hệ pháp luật hình sự vì trách nhiệm hình sự được đặt ra do tính chất
nguy hiểm của hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra hậu quả mà phải chịu trách
nhiệm hình sự, còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động
phải phát sinh thiệt hại thì người gây thiệt hại mới phải bồi thường. Thông thường,
thiệt hại được hiểu là sự suy giảm lợi ích vật chất hoặc tinh thần của một người khi
có sự kiện gây thiệt hại của người khác được xác định mức độ, giá trị bằng một
khoản tiền cụ thể. Dưới góc độ xã hội, thiệt hại động chạm và làm ảnh hưởng đến
những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Còn dưới góc độ pháp luật lao động
thì thiệt hại tự nó đã nói lên một điều rằng hành vi vi phạm đã xâm phạm đến những
quyền, lợi ích hợp pháp khác của các bên trong quan hệ lao động. NLĐ khi tham gia
vào quan hệ lao động cần được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, cần được bảo đảm
nguồn thu nhập ổn định do bán sức lao động. Còn NSDLĐ chính là sự giảm sút về
số lượng cũng như chất lượng của hàng hóa sức lao động, là thiệt hại về tài sản và

gây ra thiệt hại chứ chưa xác định hoàn toàn. Thiệt hại trên thực tế thì tùy từng
hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ có hậu quả khác nhau. Xem xét mối quan hệ
này, ngoài ý nghĩa làm căn cứ cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thệt hại
còn có ý nghĩa xác định mức bồi thường thiệt hại. Vì vậy, ta phải đánh giá tất cả
các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan, toàn diện và đầy đủ, từ đó
mới có thể rút ra kết luận đúng đắn. Nói tóm lại, để đánh giá chính xác mối quan hệ
nhân quả cần phải chú ý đến nhiều vấn đề, trong đó cần xác định chính xác những
vấn đề chủ yếu sau:
Hành vi vi phạm phải xảy ra trước hậu quả thiệt hại;
Hành vi vi phạm xảy ra độc lập hoặc trong mối liên hệ với các sự kiện hiện
tượng khác, phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả;
Đối với hậu quả thiệt hại xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế
làm phát sinh thiệt hại của hành vi vi phạm.
- Có lỗi của người vi phạm
Lỗi là trạng thái tâm lý của con người nhận thức được hành vi vi phạm và
hậu quả của hành vi đó. Lỗi được xem là biểu hiện của thái độ, tiêu cực chống đối
xã hội của chủ thể vi phạm.

16


Hành vi là biểu hiện bên ngoài, là yếu tố vật chất thực tế của lỗi. Một hành vi
gây thiệt hại cho xã hội sẽ bị coi là yếu tố lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa
chọn và quyết định của một chủ thể trong khi chủ thể đó có đủ điều kiện khách quan
và chủ quan để lựa chọn một cách xử xự khác phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội.
Nhưng vì chủ thể đã lựa chọn và thực hiện hành vi gây thiệt hại nên chủ thể đó sẽ bị
coi là có lỗi trong hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của mình. Lỗi được xem như
là thước đo của trách nhiệm pháp lý và suy cho cùng, mọi trách nhiệm pháp lý do
lỗi đều gắn liền với một hành vi, tức là sự biểu lộ ra ngoài ý chí của một người
thông qua cách hành xử cụ thể. Lỗi được chia làm hai loại, lỗi vô ý và lỗi cố ý. Lỗi

thuận với bên còn lại nhưng vẫn được pháp luật công nhận. Thông thường, khi đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động người lao động hay người sử dụng lao động
đều phải đáp ứng những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, bao gồm các
điều kiện về lý do chấm dứt và thủ tục chấm dứt. Nếu vi phạm một trong các điều
kiện này thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bị coi là trái pháp luật.
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt
hại cho bên bị chấm dứt như: người lao động bị mất tiền lương, bảo hiểm; người sử
dụng lao động bị tổn hại về vật chất, uy tín… Vì vậy, pháp luật quy định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong
trường hợp này.
- Bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng cho người lao động
NLĐ là người trực tiếp thực hiện hoạt động lao động, sản xuất nên trong quá
trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại, nếu không
được phòng ngừa, ngăn chặn, chúng có thể tác động vào con người gây chấn
thương, bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, mất khả năng lao động hoặc gây tử vong.
Do đó khi tham gia vào quan hệ lao động, người sử dụng lao động là người có
quyền tổ chức, quản lý việc sản xuất và chịu trách nhiệm về công tác bảo hộ lao
động. Trường hợp khi có sự cố gây ra tai nạn lao động hoặc người lao động mắc
bệnh nghề nghiệp thì người sử dụng lao động là chủ thể đầu tiên phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho NLĐ, bao gồm cả trường hợp không phải do lỗi trực
tiếp của NSDLĐ và trường hợp do lỗi nguyên nhân khách quan. Điều này xuất phát
từ bản chất của quan hệ lao động, vì sức lao động được coi là loại hàng hóa đặc biệt
và bản thân NLĐ thường là người không có tư liệu sản xuất, họ bán sức lao động để
kiếm sống và nuôi gia đình. Cho nên khi NSDLĐ mua sức lao động của NLĐ cũng
đồng nghĩa với việc mua luôn cả quá trình sử dụng sức lao động đó. Khi NLĐ bị tai

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status