Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động từ thực tiễn tỉnh bắc giang - Pdf 61

LƯƠNG THỊ THU TRANG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

LƯƠNG THỊ THU TRANG

2016 - 2018

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

LƯƠNG THỊ THU TRANG

CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ

hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này. Xin
chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô khoa Đào tạo sau Đại học –
Trường đại học Mở Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng
như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
cho đến khi thực hiện đề tài luận văn.

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Học viên thực hiện

Lương Thị Thu Trang


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT...................... 6
1.1. Khái quát chung về bồi thường thiệt hại trong lao động .............................. 6
1.1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại trong lao động .......................................... 6
1.1.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong lao động ..................................... 7
1.2. Điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động ....................... 8
1.2.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động.......... 8
1.2.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động .... 10
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC GIANG ................................................................................... 29
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại trong lao động ... 29


Bộ luật lao động

LLĐ

Luật lao động

BTTH

Bồi thường thiệt hại

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

NLĐ

Người lao động

NSDLĐ

Người sử dụng lao động


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, quan hệ pháp luật lao động
được coi là một trong số những quan hệ pháp luật phổ biến và quan trọng. Khi tham
gia vào quan hệ lao động, các chủ thể có khả năng gặp rủi ro gây thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, tinh thần… mà nguyên nhân có thể là do chủ quan hoặc khách

hợp BTTH trong lao động, thực tiễn áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại
trong lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của các chế định này trong thực tế.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Pháp luật về BTTH trong lĩnh vực lao động là một vấn đề có ý nghĩa quan
trọng trong việc đảm bảo quan hệ lao động được hài hòa, ổn định, tiến bộ. Đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động. Từ khi BLLĐ năm
2012 ra đời, các công trình nghiên cứu trước đây thường chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu một số khía cạnh của BTTH trong lao động, ví dụ như:
- Nghiên cứu “Chế độ bồi thường trong Luật Lao động Việt Nam” (2006), tác
giả PGS.TS Nguyễn Hữu Chí - chủ biên. Tác giả đề cập đến vấn đề bồi thường
trong LLĐ theo quy định hiện hành. Từ đó, chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc
trong quá trình thực hiện và phương hướng hoàn thiện đối với vấn đề này.
- Luận văn “Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam và thực
tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Bích
Nga - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã tập trung nêu rõ một số vấn đề lý luận
về BTTH và điều chỉnh của pháp luật lao động. Đi sâu nghiên cứu về lịch sử hình
thành và phát triển pháp luật về BTTH trong pháp luật lao động. Thực trạng thi
hành các quy định về BTTH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả BTTH trong pháp luật lao động Việt Nam.
- Luận văn “Trách nhiệm vật chất trong Luật lao động Việt Nam – thực trạng
và phương hướng hoàn thiện” (2010) của tác giả Nguyễn Thị Hường – Đại học
Quốc gia Hà Nội. Trong đó, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ
các quy định của pháp luật lao động Việt Nam liên quan đến trách nhiệm vật chất,

2


vấn đề trách nhiệm vật chất trong kỷ luật lao động và vai trò quan trọng của trách
nhiệm vật chất đối với doanh nghiệp, so sánh với pháp luật lao động về trách nhiệm


- Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề bồi thường thiệt hại
trong lao động;
- Nghiên cứu tình hình thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao
động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;
- Nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại và
nâng cao hiệu quả thi hành trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong LLĐ; thực tiễn thi hành pháp
luật về bồi thường thiệt hại trong lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung: Các trường hợp
bồi thường thiệt hại trong lao động; giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại
trong lao động; thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phép biện chứng duy vật của
triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp luận cho việc
nghiên cứu. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp so sánh, chứng minh... để nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài theo nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của Luận văn
Kêt quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích sử
dụng cho việc học tập khi nghiên cứu những vấn đề về bồi thường thiệt hại trong
lao động, đồng thời nó cũng có giá trị nhất định đối với các cơ quan tổ chức trong
việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện những quy định về bồi thường thiệt hại trong
lao động.
7. Cơ cấu của luận văn

4

phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho chủ thể khác nhằm khôi phục tình
trạng tài sản, bù đắp, khắc phục tổn thất về vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại
[12; tr.10]
Vấn đề bồi thường thiệt hại được quy định khá chi tiết trong các ngành luật
khác nhau như: Luật dân sự, luật Hình sự, luật Lao động, luật Thương mại… thông
qua đó, Nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia các quan
hệ pháp luật khác nhau.
Với quan điểm phân hệ thống pháp luật thành các ngành luật thì vấn đề bồi
thường thiệt hại thường được xem như lĩnh vực đặc trưng của luật dân sự. Tuy
nhiên, đây là loại chế định có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều loại quan hệ pháp

6


luật khác nhau. Nếu quan hệ bồi thường phát sinh do một trong các bên của quan hệ
lao động gây thiệt hại cho bên kia khi thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động thì do
LLĐ điều chỉnh.
Trong giáo trình LLĐ của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng không đưa ra
khái niệm đầy đủ về bồi thường thiệt hại trong lao động mà chỉ đưa ra khái niệm về
bồi thường thiệt hại vật chất trong quan hệ lao động như sau: “Bồi thường thiệt hại
vật chất trong quan hệ lao động là nghĩa vụ của NLĐ phải bồi thường những thiệt
hại về tài sản cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm hợp đồng
trách nhiệm gây ra” [15, tr.323].
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Chí thì “Bồi thường thiệt hại trong LLĐ là một
loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi
phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp
tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho người bị thiệt hại [11, tr.45].
Từ những nghiên cứu về bồi thường thiệt hại ở những góc độ pháp luật khác
nhau, có thể đưa khái niệm chung về bồi thường thiệt hại trong lao động như sau:
Bồi thường thiệt hại trong lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi

với họ.
Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm
Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì BTTH trong lao động còn
được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành
niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp
nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành
niên, các trung tâm bảo trợ người khuyết tật gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ
sở dạy nghề…
1.2. Điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
1.2.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động là một bộ phận của pháp luật
lao động. Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh về bồi

8


thường thiệt hại và giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong lao động.
Về phương diện pháp lý, trong quan hệ lao động, khi NLĐ và NSDLĐ xác
lập một quan hệ lao động thì giữa họ xuất hiện quan hệ nghĩa vụ. Nghĩa vụ này có
thể do pháp luật quy định hoặc do các bên tự thỏa thuận với nhau trong hợp đồng
lao động. Do đó, khi một bên vi phạm nghĩa vụ (không thực hiện, hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ) gây thiệt hại cho bên kia về tính mạng, sức khỏe, tài
sản… thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp luật đã dự liệu trước đó,
đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trong luật dân sự, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự
trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại phải bồi thường
những thiệt hại do mình gây ra.

bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên trong quan hệ lao động, là cơ sở để thỏa
thuận các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế
của các bên trong quan hệ lao động, là một trong các căn cứ để giải quyết tranh
chấp lao động khi xảy ra mâu thuẫn.
Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động là cơ sở pháp lý cho việc
thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động.
Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất theo
các văn bản do Nhà nước ban hành, còn việc xử lý vi phạm được áp dụng cho mọi
tổ chức cá nhân có hành vi vô ý, hoặc cố ý vi phạm trong lĩnh vực lao động.
Có thể thấy pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực lao động hiện
nay có vai trò hết sức quan trọng, nó thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước trong
lĩnh vực lao động ngày càng được nâng cao. Nhìn chung, pháp luật về bồi thường
thiệt hại trong lao động đã tạo hành lang pháp lý để các chủ thể trong quan hệ lao
động thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về lao động.
1.2.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động
1.2.2.1. Nguyên tắc thực hiện bồi thường thiệt hại trong lao động
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo LLĐ được hiểu là những tư tưởng chỉ
đạo có tính chất bắt buộc, xuyên suốt các quy phạm pháp luật lao động về bồi

10


thường thiệt hại trong các quan hệ pháp luật lao động. Những nguyên tắc này cũng
là những tư tưởng có tính chất định hướng đối với hoạt động giải quyết tranh chấp
về bồi thường thiệt hại trong thực tế. Cụ thể là những nguyên tắc sau đây:
- Bồi thường thiệt hại thực tế và kịp thời
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề bồi
thường thiệt hai nói chung, vấn đề bồi thường thiệt hại theo LLĐ nói riêng bởi căn
cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm bồi thường là phải có thiệt hại về tài sản hoặc

Lỗi được xem là thước đo của trách nhiệm pháp lý, nó là kết quả của sự tự
lựa chọn và quyết định của một chủ thể trong khi chủ thể đó có đủ điều kiện khách
quan và chủ quan để lựa chọn một xử sự khác phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội.
Nhưng vì chủ thể đã lựa chọn và thực hiện hành vi gây thiệt hại nên chủ thể đó sẽ bị
coi là có lỗi trong hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của mình. Lỗi trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của LLĐ cũng như trong Luật dân sự được chia làm hai
loại là lỗi vô ý và lỗi cố ý. Lỗi cố ý là lỗi của một bên nhận thức rõ hành vi của
mình vi phạm pháp luật lao động và sẽ gây thiệt hại cho phía bên kia mà vẫn thực
hiện dù mong muốn hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho thiệt hại
xảy ra. Lỗi vô ý là lỗi của một bên không thấy trước được hành vi của mình có khả
năng gây ra thiệt hại cho bên kia dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy
ra nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Tuy nhiên pháp luật lao động với điểm đặc thù là bảo vệ NLĐ nên những
quy định về chế độ bồi thường thiệt hại trong sẽ có nhiều điểm khác biệt so với các
ngành luật khác. Trong một số trường hợp NSDLĐ dù không có lỗi nhưng về
nguyên tắc vẫn phải bồi thường cho NLĐ hoặc có trường hợp NLĐ vi phạm kỷ luật
lao động gây thiệt hại nhưng NSDLĐ không thể áp dụng trách nhiệm vật chất đối
với họ.
- Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào khả năng kinh
tế, ý thức, thái độ của người gây thiệt hại
Thông thường, khi xác định trách nhiệm bồi thường theo LLĐ cần dựa trên
các căn cứ luật định để xác định mức bồi thường của bên gây thiệt hại. Tuy nhiên,
không phải bao giờ bên gây thiệt hại cũng phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại
do mình gây ra. Trong thực tế, trách nhiệm bồi thường còn được xác định dựa vào

12


hoàn cảnh kinh tế của bên gây thiệt hại. Nguyên tắc này được khuyến khích áp dụng
đối với trách nhiệm bồi thường theo LLĐ do xuất phát từ tính chất xã hội của quan


căn cứ, mức độ, phạm vi, cách thức, biện pháp thực hiện bồi thường thiệt hại mà
căn cứ vào đó các bên có liên quan thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra những
điều kiện thỏa mãn quy định của pháp luật hoặc sự thỏa thuận của các bên trong
hợp đồng lao động.
Như vậy, có thể nói phạm vi áp dụng của chế độ bồi thường thiệt hại trong lao
động là toàn bộ những thiệt hại phát sinh trong quan hệ lao động và quan hệ có liên
quan đến quan hệ lao động. Chủ thể của quan hệ bồi thường thiệt hại trong lao động
chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt, chế độ
bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động còn áp dụng đối với những chủ thể liên
quan đến QHLĐ như: cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có hành vi gây thiệt hại
cho các chủ thể của quan hệ lao động, cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của NLĐ
nếu NLĐ chưa thành niên, cơ quan bảo hiểm, cơ quan tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng…
Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lao động
là buộc chủ thể có hành vi vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài
sản, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm trong quan hệ lao
động. Trong các quy định của luật lao động có khá nhiều các quy định về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên trong quan hệ lao động, tuy nhiên, trách
nhiệm bồi thường chủ yếu tập trung vào bốn nội dung là: trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về tài sản; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng; trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe; trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về tiền lương.
Đối với trường hợp bồi thường thiệt hại về tài sản, hay thường được gọi là
trách nhiệm vật chất, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại chỉ thuộc về NLĐ, và căn cứ
bồi thường thiệt hại là do hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc thiếu tinh thần
trách nhiệm trong sản xuất, công tác gây ra. Việc quy định trách nhiệm vật chất
trong Luật lao động nhằm đảm bảo quyền sử dụng hợp pháp đối với vốn và tài sản
trong doanh nghiệp, bảo đảm sự đền bù toàn bộ hoặc một phần thiệt hại về vật chất
cho NSDLĐ. Từ đó góp phần đảm bảo và tăng cường kỷ luật lao động trong doanh

1.2.2.2. Căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lao động
Thông thường, các căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lao
động cũng giống như căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường dân sự, bao gồm:
- Có hành vi vi phạm của bên gây thiệt hại

15


Hành vi vi phạm pháp luật thường được biểu hiện ở hành động vi phạm
những quy định của pháp luật hoặc cũng có thể được biểu hiện dưới dạng không
hành động (không thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định phải thực hiện, hoặc
thực hiện không đúng với yêu cầu của pháp luật) nên gây thiệt hại cho xã hội.
Hành vi vi phạm pháp luật lao động là hành vi trái pháp luật lao động do chủ
thể có năng lực hành vi lao động thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới
quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động được pháp luật bảo
vệ và phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của mình. Đối với
NLĐ thì hành vi vi phạm được thể hiện bằng hành vi vi phạm kỷ luật lao động
không hoàn thành nghĩa vụ lao động được giao hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đó, vi phạm hợp đồng lao động. Đối với NSDLĐ là hành vi vi phạm các quy định
về an toàn vệ sinh lao động, vi phạm hợp đồng lao động.
Vi phạm pháp luật lao động có thể chia thành hai loại là vi phạm trực tiếp và
vi phạm gián tiếp. Vi phạm trực tiếp pháp luật lao động là những hành vi trái với
quy định của Nhà nước về quan hệ lao động, về an toàn, vệ sinh lao động và những
quy định trong lĩnh vực quản lý lao động.
Vi phạm gián tiếp các quy định của pháp luật lao động là những hành vi vi
phạm các quy định khác có tính chất thỏa thuận trong quan hệ lao động như vi
phạm thỏa ước lao động tập thể, vi phạm hợp đồng lao động, vi phạm nội quy, quy
chế lao động.
- Có thiệt hại xảy ra
Là yếu tố cấu thành cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đây là điều

trực tiếp tất yếu của hành vi vi phạm. Đó là mối liên hệ của sự vận động nội tại mà
về nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả và hành vi trái pháp luật phải
là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân quan trọng có ý nghĩa quyết định với
việc xảy ra thiệt hại. Đây là mối quan hệ biểu hiện luôn nội dung của cặp phạm trù
nguyên nhân - kết quả trong phép duy vật biện chứng.
Một thiệt hại có thể xảy ra do một hoặc nhiều hành vi vi phạm và ngược lại,
một hành vi vi phạm có thể gây ra nhiều thiệt hại khác nhau. Điều quan trọng là
phải xác định hành vi vi phạm gây thiệt hại là hành vi độc lập hay ở trong mối
quan hệ tổng hợp và có sự tác động qua lại của nhiều hiện trường chứa đựng khả
năng thực tế làm phát sinh thiệt hại, phải xem xét trường hợp thiệt hại có thể do
một hành vi trái pháp luật khác xen vào gây ra chứ không phải do hành vi có chứa

17


đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại gây ra. Hành vi trái pháp luật (với
vai trò là nguyên nhân) có ý nghĩa quyết định làm phát sinh thiệt hại, nhưng diễn
biến của thiệt hại xảy ra theo chiều hướng nào thì lại phụ thuộc vào các yếu tố
khách quan khác tác động vào. Hành vi trái pháp luật tự nó mới chỉ có khả năng
gây ra thiệt hại chứ chưa xác định hoàn toàn. Thiệt hại trên thực tế thì tùy từng
hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ có hậu quả khác nhau. Xem xét mối quan hệ
này, ngoài ý nghĩa làm căn cứ cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thệt hại
còn có ý nghĩa xác định mức bồi thường thiệt hại. Vì vậy, ta phải đánh giá tất cả
các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan, toàn diện và đầy đủ, từ đó
mới có thể rút ra kết luận đúng đắn. Nói tóm lại, để đánh giá chính xác mối quan hệ
nhân quả cần phải chú ý đến nhiều vấn đề, trong đó cần xác định chính xác những
vấn đề chủ yếu sau:
Hành vi vi phạm phải xảy ra trước hậu quả thiệt hại;
Hành vi vi phạm xảy ra độc lập hoặc trong mối liên hệ với các sự kiện hiện
tượng khác, phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status