LUẬN VĂN: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe và tính mạng doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bồi thường thiệt hại do xâm
phạm sức khỏe và tính mạng MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường - vấn đề này đã được các nhà làm
luật coi đó là một nguyên tắc và cụ thể hóa trong văn bản pháp luật. Xét về nguồn gốc lịch
sử thì chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ra đời từ rất sớm. Qua các
giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia đều có những qui định chung về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, bên cạnh đó còn có những qui định cụ thể về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây thiệt
hại, đối tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh bị thiệt hại
Bộ luật dân sự năm 1995 được áp dụng để giải quyết cho các tranh chấp dân sự

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-
2004; Đinh Văn Quế: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004); Tưởng Duy Lượng -
Nguyễn Văn Cường: "Cách tính bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm", Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004); Lê Mai Anh: "Những vấn đề cơ bản về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự", Luận văn thạc sĩ luật học;
Lê Thị Bích Lan: "Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín", Luận văn thạc sĩ luật học (xem Phụ lục).
Nhìn chung, các đề tài đó đã nêu và phân tích những vấn đề chung về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong luật dân sự; đưa ra các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại, các quy định của pháp luật dân sự trong việc bồi thường thiệt
hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín, cơ sở để xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các hình thức và mức bồi thường, những trường hợp
miễn hoặc giảm trách nhiệm bồi thường

Tuy nhiên, các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng hoặc có đề cập chi tiết cụ thể hơn nhưng vào thời điểm
của Bộ luật dân sự 1995 đang tồn tại hiệu lực pháp lý.
Tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm sức khỏe, tính mạng theo Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản hướng dẫn mới thì
chưa có một công trình khoa học nào cho đến thời điểm hiện tại.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc tìm hiểu các qui định của Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản
hướng dẫn thi hành, giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn hoàn chỉnh dưới lăng kính
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, qua đó phục vụ tốt hơn cho
công việc thực tế của bản thân. Ngoài ra, qua việc nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do xâm phạm sức khỏe, tính mạng cũng như việc áp dụng vào thực
tiễn sẽ có những kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi, sửa
đổi và tuyên truyền pháp luật. Để đạt được mục đính này, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn là tìm hiểu các qui định của các văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi

Chương 2: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe và tính mạng bị
xâm phạm
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do
xâm phạm sức khỏe và tính mạng Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thời kỳ sơ khai, trách nhiệm bồi thường chưa được đặt ra, theo đó người ta
thường áp dụng nguyên tắc "nợ gì trả nấy" khi có hành vi gây thiệt hại. Luật XII bảng
được ban hành vào năm 449 trước Công nguyên có qui định: Kẻ nào làm gãy tay người
khác thì kẻ đó phải chịu lại tương tự như vậy. Khi áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng,
lợi ích của người bị thiệt hại không được bảo đảm, hơn nữa lại có một thiệt hại khác phát
sinh. Đây chính là lý do để sau đó người ta xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại.
Xét về nguồn gốc lịch sử, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một
trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là chế định gây nhiều tranh cãi, có nhiều quan điểm
của các nhà nghiên cứu luật pháp cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn.
Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng luôn được hoàn thiện bởi các chuyên gia pháp lý. Ở nước ta, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng đã được qui định trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật
lệ. Pháp luật mỗi nước có thể có những qui định khác nhau liên quan đến xác định mức bồi
thường, tuy nhiên một nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại - đó là: "Người gây thiệt hại phải bồi
thường thiệt hại cho người bị thiệt hại". Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đều chưa
có sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự. Sự phân biệt rạch ròi giữa trách

thống nhất nhằm khắc phục những tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn của pháp luật
dân sự trước đó.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những trách nhiệm
dân sự, được áp dụng với những người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người
khác. Chế định "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng’’ được hệ thống ở

chương V, phần thứ 3 với các qui định từ Điều 604 đến Điều 630 làm cơ sở pháp lý quan
trọng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời giải quyết khách
quan, nhanh chóng, công bằng theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 5 Điều 281 Bộ luật dân sự Việt Nam thì một trong những căn cứ làm phát
sinh nghĩa vụ dân sự đó là: "Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật".
Theo qui định tại Điều 604 Bộ luật dân sự thì sự kiện "gây thiệt hại do hành vi trái
pháp luật" là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng. Nhà làm luật
trong trường hợp này đã đồng nghĩa "trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" với
"nghĩa vụ bồi thường do hành vi trái pháp luật" - Điều 604 Bộ luật dân sự đã xác nhận sự
đồng nghĩa này.
Pháp luật nhà nước ta sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm phạm bởi những hành vi trái pháp luật.
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đối với người khác làm phát sinh
các quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại.
Điều 604 Bộ luật dân sự quy định:
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây
thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi
thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Như vậy, bồi thường thiệt hại là quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vi trái pháp
luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản các quyền lợi

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần
đảm bảo công bằng xã hội.

Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệm về hành vi
và hậu quả do hành vi đó mang lại. Bằng việc buộc người gây thiệt hại phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại, chế định
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Đây cũng là
nguyên tắc, là mục tiêu mà pháp luật đặt ra. Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng đã cụ thể hóa và thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng trong bồi thường thiệt hại.
Theo chế định này, ai gây thiệt hại thì người ấy phải bồi thường, tuy nhiên sẽ có những
trường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như nguyên tắc giảm mức bồi
thường, bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng,
bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần
răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại
trái pháp luật nói riêng.
Ngoài mục đích buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm
của mình gây ra - nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự - chế định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại còn thể hiện ý nghĩa nhân đạo, ý nghĩa xã hội sâu sắc. Thông qua chế
định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với việc vận dụng chế định này để giải
quyết các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,
chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa răn đe, giáo
dục và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi gây thiệt hại trái
pháp luật nói riêng. Ngoài người vi phạm, những người khác cũng sẽ thấy rằng nếu
mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng sẽ chịu sự xử lý của pháp luật.
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa trong việc tuyên
truyền, giáo dục pháp luật thông qua những biện pháp chế tài nghiêm khắc. Ngoài ra, ý
thức pháp luật của người dân cũng ngày một được nâng cao hơn.
1.2. SO SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM
TÀI SẢN VỚI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM CÁC

THƯỜNG THIỆT HẠI
DO XÂM PHẠM TÀI
TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI DO
XÂM PHẠM

SẢN CÁC QUYỀN NHÂN THÂN
1. Căn cứ phát sinh

Phát sinh trong hợp đồn
g
hoặc ngoài hợp đồng
Chỉ phát sinh ngoài hợp đồng
2. Đối tư
ợng bị
xâm hại
Tài s
ản (Khái niệm tài sản
được quy định tại Đi
ều 163
Bộ luật dân sự: "Tài s
ản bao
g
ồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản")
Các quyền nhân thân đư
ợc pháp
luật qui định và bảo vệ
3. Thi
ệt hại phải

thỏa thuận, trừ những trư
ờng
hợp sau đây: a) quy
ền yêu cầu
cấp dưỡng, yêu cầu bồi thư
ờng
thiệt hại do xâm phạm đ
ến tính
mạng, sức khỏe, danh d
ự, nhân

phẩm, uy tín;…" Chương 2
XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO SỨC KHỎE VÀ TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM

Trách nhiệm bồi thường nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng,
sức khỏe nói riêng là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó trách nhiệm bồi thường do xâm
phạm tính mạng, sức khỏe phát sinh khi và chỉ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp
luật qui định. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại) do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm là những căn cứ do
pháp luật qui định, khi thỏa mãn các căn cứ đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm sức khỏe, tính mạng phát sinh. Pháp luật dân sự không qui định cụ thể căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng mà chỉ qui định
căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Do đó, căn cứ
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng.
2.1. CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO

chất, tinh thần, hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị
hại phải gánh chịu.
Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần. Thiệt hại
vật chất là thiệt hại được biểu hiện cụ thể như tài sản đã mất mát, những chi phí cần thiết
để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế tài sản bị hư hỏng, những khoản thu nhập thực tế
bị mất.
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào? Tính mạng, sức khỏe của
con người là vô giá không thể tính thành tiền, do vậy bồi thường thiệt hại ở đây không phải
là bồi thường về tính mạng, sức khỏe mà nó là những bồi thường thiệt hại vật chất. Những

chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bên bị thiệt hại
hoặc những chi phí cần thiết khác.
Theo thông tư 173/UBTP-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/3/1972
hướng dẫn thì thiệt hại được xác định: "Đó là thiệt hại vật chất, biểu hiện cụ thể là thiệt
hại về tài sản hoặc những chi phí và những thu nhập bị mất, do có sự thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe đưa đến. Thiệt hại đó phải thực sự xảy ra và tính toán được".
Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 ghi nhận việc buộc người
gây thiệt hại "bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần" cho người bị thiệt
hại, người thân của họ.
Pháp luật về dân sự nói chung, chế định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảm và vô cùng phức tạp,
bởi vì những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức
chung để quy ra tiền áp dụng cho các trường hợp. Việc giải quyết bồi thường một khoản
tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cũng chỉ nhằm an ủi, động viên làm dịu đi nỗi đau cho
chính nạn nhân. Đây là vấn đề rất khó, nhưng cho đến nay, về căn bản các cơ quan có
thẩm quyền chưa có ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng cho thống nhất, vì vậy
khi vận dụng vào thực tiễn còn gây nhiều tranh cãi, chưa thống nhất.
Trên thế giới, thiệt hại về tinh thần đã được một số nước ghi nhận từ lâu như Liên
Xô, Cộng hóa Liên bang Đức Trong cuốn "Trách nhiệm phát sinh do gây thiệt hại" (Nhà

Có thiệt hại tức là những tổn thất thực tế, tồn tại khách quan và phải tính được
bằng một số tiền cụ thể nhất định, còn những thiệt hại mang tính suy diễn, chủ quan sẽ
không được thừa nhận nếu không có căn cứ xác đáng.
Như vậy, thiệt hại về vật chất là những thiệt hại trị giá được bằng tiền, đó là thiệt
hại thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại. Đó là những thiệt hại vật chất
trong các thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm…
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung
để quy thành tiền áp dụng cho mọi trường hợp. Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền
bù đắp tổn thất về tinh thần tùy vào từng trường hợp cụ thể nhằm mục đích an ủi, động

viên và phần nào đó tạo điều kiện để có thể khắc phục khó khăn, làm dịu đi nỗi đau cho
chính người bị thiệt hại hay cho những người thân thích của họ.
Thiệt hại về tinh thần là sự thiệt hại về giá trị tinh thần, tình cảm hoặc sự suy sụp
về tâm lý, tình cảm của cá nhân. Hình thức biểu hiện thiệt hại về tinh thần rất đa dạng như:
Sự suy sụp tâm lý của người bị thiệt hại sau khi sức khỏe bị xâm phạm làm cho bị tàn tật,
bị biến dạng bề ngoài (ví dụ như bị sẹo ở mặt, bị gãy chân làm cho người bị thiệt hại đi cà
nhắc ).
Ngoài những thiệt hại về tinh thần mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu
thì có những trường hợp người thân thích của họ cũng phải gánh chịu tổn thất về tinh
thần này. Ví dụ, đó có thể là sự suy sụp, hoang mang, lo lắng, sự đau thương của những
người thân thích với cái chết của nạn nhân. Khác với thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần
không có tiêu chí chung để xác định cho mọi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng
cá nhân là không giống nhau, nhưng thiệt hại về tinh thần thường đi kèm với thiệt hại vật
chất.
Điều 710 Bộ luật dân sự của Nhật Bản quy định: "Một người chịu trách nhiệm về
thiệt hại theo quy định của Điều 709 phải bồi thường cả về thiệt hại phi vật chất bất kể
thiệt hại như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín, hoặc tài sản của người khác".
Ngoài ra, muốn bồi thường, sự thiệt hại phải thỏa mãn các điều kiện: thiệt hại phải
chắc chắn, nhất định, thực tế và chưa được bồi thường.
Nói đến sự thiệt hại chắc chắn, nhất định, thực tế là nói đến một sự thiệt hại đã xảy

đó được thực hiện mà pháp luật không cấm thì người thực hiện hành vi đó không phải bồi
thường thiệt hại. Không thể có người gây thiệt hại khi không có hành vi gây thiệt hại. Hành vi
gây thiệt hại là hành vi có ý thức của con người diễn ra trái với qui định của pháp luật và gây
thiệt hại tới các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại có thể bằng hành động
hoặc không hành động, hành động và không hành động đều là những biểu hiện của con người
ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát, lý trí điều khiển và đều có khả năng
làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã
hội được pháp luật bảo vệ. Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp của chủ thể

vào đối tượng gây thiệt hại hoặc có thể là tác động gián tiếp của chủ thể vào đối tượng
thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại. Không hành động gây thiệt hại là một hình
thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác
động, gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định
bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ điều kiện để làm việc đó.
Thực tế thì việc xác định hành vi gây thiệt hại bằng hành động không khó, bởi vì
nó tác động trực tiếp đến đối tượng bị thiệt hại như: bắn, đâm, chém… Nhưng ở dạng
không hành động hoặc được thực hiện thông qua hành vi của người khác thì cần phải xác
định mối quan hệ giữa thiệt hại với hành vi của người gây thiệt hại và trách nhiệm, nghĩa
vụ của họ đối với thiệt hại xảy ra. Ví dụ: người gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng, do
tình thế cấp thiết thì không phải bồi thường. Tuy nhiên, nếu hành vi phòng vệ chính đáng
và tình thế cấp thiết đó mà vượt quá giới hạn cho phép thì các hành vi bị coi là trái pháp
luật và phải bồi thường.
Trước khi có Bộ luật dân sự thì ngành Tòa án thường căn cứ vào Thông tư số
173/UBTP-TANDTC ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết các quan
hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo tinh thần nội dung
Thông tư thì hành vi trái pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: "Có
thể là một việc phạm pháp về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm
đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội".
Như vậy, khi xác định hành vi gây thiệt hại cho người bị thiệt hại để phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chúng ta có thể thấy có những đặc điểm của hành vi trái

đặt ra:
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh không?
- Mức bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào nếu nhiều người gây thiệt hại
cho một người hoặc cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi?
Trong thực tế mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra biểu hiện
rất phức tạp.

Một hành vi trái pháp luật cũng có thể gây nhiều thiệt hại vừa về vật chất, vừa về
tinh thần. Có trường hợp thiệt hại xảy ra do một hành vi trái pháp luật khác xen vào gây ra
chứ không phải do hành vi có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.
Ví dụ: A gây thương tích cho B, B được mọi người đưa vào cơ sở y tế cấp cứu.
Với tình trạng vết thương như vậy thì hoàn toàn có thể cứu chữa được người bị hại. Tuy
nhiên, do tắc trách trong quá trình cứu chữa (bác sĩ đã không vô trùng dụng cụ cứu chữa)
nên vết thương của B bị nhiễm trùng dẫn tới hậu quả là B bị chết.
Cần phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện: nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt
hại, điều kiện không trực tiếp gây thiệt hại nhưng có tác động để cho thiệt hại xảy ra nhanh
hơn. Vậy trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân là yếu tố quyết định còn điều kiện là
yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả. Nguyên nhân và điều kiện trong mối quan hệ nhân quả
có thể là một hay nhiều hiện tượng, nhưng giữa chúng có một điểm khác nhau ở chỗ quan
hệ với hậu quả xảy ra. Nếu không có nguyên nhân thì không có hiện tượng, sự vật xảy ra
và cũng không tồn tại một điều kiện. Nhưng nhiều trường hợp có nguyên nhân xảy ra
nhưng không có kết quả nếu không có điều kiện.
Về nguyên tắc thì không có việc hiện tượng này chỉ là nguyên nhân còn hiện
tượng kia chỉ là điều kiện. Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác
định thiệt hại.Về mặt lý luận cũng như thực tế để xác định mối quan hệ nhân quả là một
vấn đề tương đối khó khăn. Bởi vì sự thiệt hại thông thường thì do nhiều nguyên nhân chứ
không chỉ do một nguyên nhân gây ra. Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà phối
hợp với nhau phát sinh ra kết quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân thì không có kết
quả xảy ra. Tuy nhiên, mức độ tác động của từng nguyên nhân đối với kết quả có thể là
khác nhau, sự khác nhau này đã tạo ra vai trò chủ yếu và thứ yếu của từng nguyên nhân.

Nếu xét lỗi dưới góc độ quan hệ của cá nhân thì lỗi của người gây thiệt hại là sự
biểu hiện quan hệ giữa bản thân người gây thiệt hại và xã hội mà nội dung của nó là sự phủ
định chủ quan những quy tắc ứng xử chung của xã hội, đòi hỏi cá nhân phải tôn trọng được
thể hiện bằng các quy định của pháp luật.

Để bảo vệ triệt để lợi ích của người bị thiệt hại trong quan hệ giữa các công dân
với nhau và đặc biệt là trong quan hệ giữa công dân với Nhà nước, xuất phát từ nguyên tắc
tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác, pháp luật dân sự quy định lỗi có thể được suy đoán từ ba điều kiện trên. Như vậy, có
thể nói rằng: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự hay bất cứ trách nhiệm pháp lý nào
khác nào đều phải dựa trên cơ sở lỗi. Một người gây thiệt hại mà không có lỗi thì dù thiệt
hại tới mức nào cũng không phải bồi thường - đó là nguyên tắc. (trường hợp phòng vệ
chính đáng, sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, lỗi hoàn toàn do người bị thiệt hại gây ra).
Lỗi cố ý biểu hiện trạng thái tâm lý của một người biết hành vi của mình là sai,
thấy rõ hậu quả của hành vi đó, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn
nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả của hành vi đó xảy ra. Lỗi vô ý là biểu hiện trạng thái
tâm lý của người gây thiệt hại, thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,
nhưng cho rằng thiệt hại đó không thể xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng ngăn ngừa được.
Lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại. Trong
trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không
có trách nhiệm phải bồi thường. Mức độ bồi thường phụ thuộc vào mức độ lỗi của người
gây thiệt hại. Khi nghiên cứu về lỗi vô ý có thể chia lỗi vô ý ra làm hai loại:
- Vô ý vì cẩu thả.
- Vô ý vì quá tự tin.
Vô ý cẩu thả là trường hợp người có hành vi vi phạm mặc dù có thể thấy trước và
phải thấy trước thiệt hại có thể xảy ra.
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người có hành vi vi phạm thấy trước khả năng
hành vi của mình có thể gây thiệt hại và không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng lại tin là
có thể ngăn chặn được.
Sự khác nhau giữa vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin ở chỗ: người có hành vi vi

Như vậy, lỗi là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng. Vì vậy, cần phân biệt các hình thức lỗi để xác định mức độ lỗi trên cơ sở đó ấn định
mức bồi thường.

Trích đoạn Thiệt hại do tớnh mạng bị xõm phạm Thực trạng giải quyết cỏc vụ ỏn về bồi thường thiệt hại do sức khỏe và tớnh mạng bị xõm phạm Thực tiễn xột xử của ngành Tũa ỏn nhõn dõn đối với những yờu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất Thực tiễn xột xử của ngành Tũa ỏn nhõn dõn đối với những yờu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM SỨC KHỎE, TÍNH MẠNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status