MỤC LỤC
trang
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Định nghĩa nguồn nguy hiểm cao độ và trách nhiêm bồi thường do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra
3
1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ
4
1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
4
1.3 Đặc điểm của bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 5
2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra
5
2.1 Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ 5
2.2 Nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho “người xung quanh”
6
II. Thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Vụ việc thứ nhất
14
2. Vụ việc thứ hai
16
III. Một vài ý kiến nhằm bổ sung và khắc phục những điểm còn thiếu
sót trong quy định của pháp luật về BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
17 – 20
C. KẾT THÚC
Từ viết tắt
BTTH : Bồi thường thiệt hại
BLDS : Bộ luật Dân sự
TAND : Tòa án nhân dân
2
A.MỞ ĐẦU
Hiện nay, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp
giảm thiểu sức lao động, thúc đẩy nền sản xuất phát. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
nó cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn mang tính khách quan đôi khi nằm ngoài
nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ định nghĩa dưới dạng liệt kê. Tuy nhiên, nếu căn
cứ vào tính chất của sự vật như mức độ nguy hiểm cũng như khả năng kiểm soát
của con người đối với sự vật đó, có thể hiểu: “ Nguồn nguy hiểm cao độ là những
vật chất nhất nhất định do pháp luật quy định luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại
cho con người, con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối.” Ví dụ
phương tiện giao thông vận tải cơ giới bao gồm phương tiện giao thông cơ giới
đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không ,... là nguồn nguy hiểm cao
độ. Những trang thiết bị điện như: máy biến áp, đường dây tải điện, đèn cao áp, ...
cũng nằm trong danh mục nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại khoản 1
Điều 623 BLDS 2005. Ngoài ra, cũng theo quy định tại điều luật này, thú dữ như
hổ, báo, sư tử,... các loại vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao; nhà máy công nghiệp
nặng, công nghiệp nhẹ; thuốc nổ, pháo, thuốc súng; chất độc bảng A, chất phóng
xạ;... đang trong quá trình vận hành cũng được liệt kê vào danh sách nguồn nguy
hiểm cao độ.
1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Các quy định về trách nhiệm BTTH mới được quy định một cách chi tiết bắt
đầu từ BLDS 1995. Tiếp đó, BLDS 2005 hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, cụ thể được quy định tại Điều 604 BLDS 2005.
Trên cơ sở tại khoản 2 Điều 604 BLDS năm 2005 quy định: “Trong trường hợp
4
pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không
có lỗi thì áp dụng quy định đó’’, BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chính
là một trong những trường hợp được pháp luật quy định. Bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được hiểu là trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc
người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho
người khác, phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp chủ sở hữu hoặc
người chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ không có lỗi.
Trường hợp thiệt hại xảy ra do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm cao độ,
hoàn toàn độc lập và nằm ngoài sự quản lý, kiểm soát của con người thì sẽ áp dụng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như: xe ô tô
đang chạy với tốc độ cao đột nhiên mất phanh, mất lái hoặc nổ lốp gây ra thiệt hại;
cháy, chập đường dây tải điện; cháy nổ trong nhà máy do trục trặc kỹ thuật…
Hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ phải có tính trái pháp luật.
Hoạt động của xe cần trục, xe ủi… khi phá dỡ các công trình xây dựng trái phép
không thể coi là trái pháp luật. Có nhiều trường hợp do đặc tính của nguồn nguy
hiểm cao độ mà việc gây thiệt hại của những phương tiện này không bị coi là trái
pháp luật. Ví dụ, để bảo đảm an toàn giao thông đường sắt, những thiệt hại trên
đường sắt do tàu hỏa gây ra cho các chủ thể khác không bị coi là trái pháp luật và
ngành đường sắt không có trách nhiệm bồi thường.
Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
cũng loại trừ các trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc
do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết (Theo Điều 623 Bộ luật dân sự). Nói
tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
trách nhiệm đối với sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao
độ chứ không phải thiệt hại do hành vi của con người.
2.2 Nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho “người xung quanh”.
Nguồn nguy hiểm cao độ do tính chất nguy hiểm của nó có thể gây thiệt hại cho
bất kỳ ai: chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, vận hành, những người không có liên
quan đến nguồn nguy hiểm cao độ… Có những chủ thể do mối quan hệ sở hữu, lao
động mà họ trực tiếp tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ. Đối với chủ sở hữu, họ
6
phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt hại do tài sản của mình gây ra. Đối với người
bị thiệt hại trong khi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động, họ
sẽ được hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chỉ được đặt ra khi nguồn nguy hiểm
dựa trên sự suy đoán trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn nguy
hiểm cao độ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
chỉ được áp dụng khi hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ nằm
ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người chiếm hữu, vận hành và là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của con
người trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ thì không
áp dụng trách nhiệm này mà sẽ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói
chung. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không
loại trừ khả năng thiệt hại cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, trông
giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ nhưng hành vi của người trông
giữ, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ không phải nguyên nhân có tính quyết định
đến thiệt hại. Chủ sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ không
được miễn trừ trách nhiệm bồi thường kể cả trong trường hợp họ chứng minh được
mình không có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao
độ.
Dấu hiệu quan trọng nhất để xác định trách nhiệm này là hoạt động của nguồn
nguy hiểm cao độ chính là nguyên nhân trực tiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt
hại. Hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ có thể hoàn toàn không
có lỗi của con người hoặc cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, điều
khiển, tuy nhiên lỗi ở đây chỉ đóng vai trò thứ yếu đối với thiệt hại (như trước khi
xuống dốc, lái xe không kiểm tra lại phanh; lốp mòn nhưng chưa thay do chủ quan
nghĩ rằng xe vẫn vận hành tốt…). Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi, do hành vi
của người điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này.
8
3. Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.
Căn cứ vào khoản 2, 3, 4 Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết số
cũng như khoản a Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng
một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ sở
hữu hợp pháp của nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại.
Nếu chủ sở hữu đã chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm
cao cho người khác theo ý chí của mình theo các giao dịch dân sự như cho thuê,
cho mượn hoặc chuyển giao theo nghĩa vụ lao động… thì theo quy định tại khoản
2 Điều 623 BLDS 2005 và được cụ thể hóa trong khoản b Điều 2 Mục III Nghị
quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP
ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, những người được chuyển giao quyền phải chịu
trách nhiệm bồi thường khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trừ khi có thỏa
thuận khác.
Tuy nhiên, có thể thấy, trong một số trường hợp chủ sở hữu chuyển giao
nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác nhưng trên thực tế, chủ sở hữu vẫn có
quyền kiểm soát về mặt pháp lý (chiếm hữu pháp lý) đối với tài sản. Khi đó, mặc
dù không trực tiếp khai thác công dụng của tài sản nhưng đó cũng là một hình thức
chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản, cụ thể là khai thác lợi ích kinh tế từ tài
sản. Do đó, trường hợp nguồn nguy hiểm đã được chủ sở hữu giao cho người khác
thì cần “ phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy
hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay
không để xác định ai là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại “theo tinh thần
tại khoản đ Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số
quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Ví dụ : Chủ sở
hữu nguồn nguy hiểm cao độ chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ theo hợp đồng
10
lao động thì trong trường hợp này, người được chuyển giao nguồn nguy hiểm cao
“ Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang
thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của
mình hoặc của người khác mà không con cách nào khác là phải gây một thiệt hại
nhỏ hơn cần ngăn ngừa.” Để bảo vệ một lợi ích khác lớn hơn, để tránh những thiệt
hại lớn hơn có thể xảy ra, pháp luật dân sự Việt Nam tại khoản 3 Điều 623 quy
định thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong tình thế cấp thiết thì không
phải bồi thường.
Sự kiện bất khả kháng là những sự kiện phát sinh bất ngờ, đột xuất, nằm
ngoài ý thức, sự kiểm soát và lường trước của con người nói chung và của chủ sở
hữu, người được chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nói
riêng. Trong tình huống bất khả kháng, con người chỉ có thể lựa chọn cách một
cách xử lí nhất định nhằm giải quyết, khắc phục tương đối ổn thỏa nhất sự kiện đó.
Đồng thời, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng nằm ngoài tầm kiểm
soát của con người, do đó để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu, người được
chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, khoản 3 Điều
623 BLDS 2005 quy định trường hợp này những chủ thể này không phải chịu trách
nhiệm bồi thường.
Tuy nhiên, theo khoản c Điều 2 Mục III Nghị quyết của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, đối với trường hợp thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết, sự kiện bất khả
kháng mà những văn bản pháp luật khác vẫn yêu cầu trách nhiệm bồi thường do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại lúc này phải áp
dụng theo các quy định tại các văn bản pháp luật đó.
12
Lỗi không phải điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra. Chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền chiếm hữu,
thuyền cướp được ... thì khi thiệt hại xảy ra do nguồn nguy hiểm cao độ thì người
chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ bất hợp pháp phải chịu trách nhiệm
bồi thường.
Thứ hai, “ Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị
chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.” Quy định
này được hiểu là nếu chủ sở hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ đã không thực
hiện đúng các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ dẫn đến việc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật. Trong trường hợp này, thiệt hại xảy ra ngoài nguyên nhân chính là do hoạt
động nội tại của nguồn nguy hiểm cao độ còn có lỗi của chủ sở hữu cũng như có
dấu hiệu chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật. Do đó, việc
xác định trách nhiệm pháp lý liên đới được phát sinh trong trường hợp này là chính
xác, hợp lý.
II. Thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật về bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Vụ việc thứ nhất
Nguyễn Văn Nam là người lái xe ôtô 3 tấn chuyên chở hàng đi giao cho các đại
lí hàng tạp hóa ở thành phố Vinh, một hôm anh Nam đang đi trên đường Quang
Trung với tốc độ 60km/h, bỗng nhiên trên đường giao thông có một người đang
chạy ra từ 1 nhà dân thẳng ra đường ngay trước mũi xe của anh và đứng im
không hề có ý định né tránh chiếc xe của anh với mục đích tự tử, anh Nam thấy
14
vậy liền đột ngột kéo phanh để hãm tốc độ xe lại nhưng vừa mới phanh xe nhưng
không kịp theo đà di chuyển xe tiến nên đâm thẳng vào gây ra cái chết cho chị
Đào Thu Hương. Được tin báo con chết gia đình chị Hương bắt anh Nam là phải
đền bù thiệt hại cho gia đinh về cái chết của chị Hương 70 triệu bằng không gia
hợp tự tử bằng cách lao vào xe ôtô đang lưu thông trên đường, chính vì vậy việc nghị quyết số
03 đưa ra ví dụ hướng dẫn việc này để dễ dàng cho việc áp dụng xử lý vụ việc 1 cách chính
xác.
2 Vụ việc thứ hai
Lúc 21g15 ngày 16/6/2007, anh Trần Hữu Cường điều khiển xe máy chở vợ là
Lương Thị Qui đi trên đường Nguyễn Văn Linh, phường Phú Lâm (TP Tuy Hòa).
Do vừa chạy xe vừa mải mê nói chuyện với vợ, nên xe máy của anh Cường lấn
sang phần đường bên trái, tông vào xe máy do anh Phạm Hồng Ngà đang lưu
hành ngược chiều. Vụ tai nạn khiến cho anh Ngà bị thương tích nặng, mù hai
mắt, tỉ lệ thương tật do Tổ chức Giám định pháp y tỉnh Phú Yên kết luận là 97%.
Sau khi khám nghiệm điều tra tại hiện trường, Công an TP Tuy Hòa xác định
nguyên nhân vụ tai nạn hoàn toàn do lỗi của anh Trần Hữu Cường. Do đó, anh
Cường bị truy tố, xét xử về tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện
đường bộ.
Do người bị hại trong vụ tai nạn giao thông này là công nhân hàn gò
bậc 3/7, đang làm việc tại Công ty Công nghiệp tàu thủy Phú Yên với mức
lương mỗi tháng 1.247.000 đồng, nên ngoài việc yêu cầu bồi thường chi phí
điều trị thương tích cho nạn nhân tại các bệnh viện, vợ anh Ngà là chị
Nguyễn Thị Tính còn yêu cầu bồi thường các khoản mất thu nhập của nạn
nhân trong thời gian nằm viện, tiền công chăm sóc người bệnh, tiền tổn thất
tinh thần, chi phí tái phẫu thuật tại TP Hồ Chí Minh với tổng cộng hơn 104
triệu đồng. Ngoài các khoản nêu trên, đại diện bị hại còn yêu cầu người gây
tai nạn và người có trách nhiệm liên đới phải bồi thường theo mức thu nhập
tiền lương mỗi tháng anh Ngà đang hưởng 1.247.000 đồng và tiền công
người chăm sóc mỗi tháng 800.000 đồng cho đến khi nạn nhân qua đời.
* Giải quyết của tòa : bản án sơ thẩm số 57/2008/HSST ngày
16/6/2008 của TAND TP Tuy Hòa xử phạt bị cáo Trần Hữu Cường 9 tháng
16
khăn trong việc áp dụng luật. Vì vậy, trong điều 623 không nên định nghĩa nguồn
nguy hiểm cao độ theo hướng liệt kê mà chỉ cần xác định tiêu chí chung để được
coi là nguồn nguy hiểm cao độ như tính nguy hiểm, tính gây thiệt hại tiềm tàng…
của chúng.
2. Về điều kiện áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra.
Hiện nay chưa có quy định nào phân định cụ thể: khi nào áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và khi nào áp dụng trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng
không thống nhất trên thực tế. Nhiều trường hợp, tòa án thấy thiệt hại có liên quan
đến nguồn nguy hiểm cao độ là áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra, bất kể nguyên nhân gây thiệt hại là do con người hay do
tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Đây chính là sự mâu thuẫn trong áp dụng
pháp luật. Vì vậy, cần có quy định rõ ràng về việc trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ phát sinh khi thiệt hại là do sự tác động tự
thân của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
3. Về chủ thể chịu trách nhiệm BTTH
Cần phân định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra trong trường hợp chủ sở hữu đã chuyển giao nguồn nguy hiểm
cao độ cho người khác chiếm hữu, sử dụng, cụ thể là trường hợp chuyển giao theo
quan hệ lao động và chuyển giao theo quan hệ dân sự như sau :
Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người khác theo
nghĩa vụ lao động: Nếu thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong quá trình
người lao động quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nhiệm vụ được giao
thì trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ. Nếu
18
người được giao quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động
nhưng lại sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ vào mục đích khác không theo nhiệm
trưng dụng, tạm giữ…
5. Cần một số biện pháp giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức pháp luật
của người dân về nguồn nguy hiểm cao độ cũng như những thiệt hại mà nó có thể
gây ra để có biện pháp phòng tránh. Vẫn biết những thiệt hại đó nằm ngoài sự kiểm
soát của con người nhưng nếu mỗi người đều có trách nhiệm với tài sản của mình
như bảo quản, sử dụng cẩn thận, thường xuyên kiểm tra… thì sẽ phần nào giảm bớt
được nguy cơ thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Đồng thời, nên mở các
lớp tập huấn cho các cán bộ tư pháp, hướng dẫn chi tiết cách thức xác định thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và áp dụng nguyên tắc xác định chủ thể nào
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp để tránh xảy ra
những sai sót không đáng có trong quá trình xét xử, đảm bảo quyền lợi hợp pháp
của các bên chủ thế.
C. KẾT THÚC
Xác định thiệt hại do tài sản gây ra nói chung và thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra nói riêng luôn là một vấn đề hết sức phức tạp bởi cho đến nay,
BLDS và các văn bản hướng dẫn khác chưa thực sự quy định rõ. Với khả năng
tiềm ẩn gây thiệt hại cho con người, môi trường xung quanh, vần đề bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là vấn đề quan trọng đòi hỏi các nhà
làm luật phải tiếp tục hoàn thiện các quy định thống nhất để việc áp dụng được
20
chính xác, cụ thể, bảo vệ một cách đầy đủ và toàn diện quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị thiệt hại. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về
BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra sẽ phần nào nâng cao hơn ý thức của chủ
sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ
hợp pháp trong việc sử dụng, vận hành tài sản là nguồn nguy hiểm của mình, nhằm
giảm bớt những thiệt hại đáng tiếc về người và của có thể xảy ra.
6.
Tìm hiểu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra, Lê Phước Ngưỡng, Tạp chí Kiểm
sát số 1/2005.
7.
Các trang thông tin điện tử
22
BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 26
Một số vấn đề về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
23