luận văn thạc sĩ Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe và tính mạng - Pdf 13

Mục lục
Trang
mở đầu 1
Chơng 1: khái quát chung về trách nhiệm bồi thờng
thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật dân sự
5
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của trách nhiệm bồi thờng thiệt hại ngoài
hợp đồng trong luật dân sự
9
1.2. So sánh trách nhiệm bồi thờng thiệt hại do xâm phạm tài sản
với trách nhiệm bồi thờng thiệt hại do xâm phạm các quyền
nhân thân
10
Chơng 2: xác định trách nhiệm bồi thờng thiệt hại do
sức khỏe và tính mạng bị xâm phạm
13
2.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thờng thiệt hại do sức khỏe
và tính mạng bị xâm phạm
13
2.2. Các chủ thể trong quan hệ bồi thờng thiệt hại 26
2.3. Nguyên tắc bồi thờng thiệt hại 30
2.4. Hình thức bồi thờng và mức bồi thờng 37
2.5. Xác định thiệt hại trong trờng hợp sức khỏe, tính mạng bị xâm
phạm
40
Chơng 3: thực trạng áp dụng pháp luật và giải pháp
hoàn thiện pháp luật về bồi thờng thiệt hại
do xâm phạm sức khỏe, tính mạng
52
3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về bồi
thờng thiệt hại do sức khỏe và tính mạng bị xâm phạm

khác trong từng qui định cụ thể.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm
phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những loại trách nhiệm gây
nhiều tranh cãi về căn cứ phát sinh, mức bồi thường ; hơn nữa qui định của
pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các qui định mang tính "định tính"
mà không "định lượng" nên gây khó khăn rất nhiều cho các cán bộ áp dụng
pháp luật. Bên cạnh đó, án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm sức khỏe, tính mạng chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong các án kiện về
bồi thường; sự đối lập về tâm lý của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại
hoặc gia đình của người bị thiệt hại làm cho các án kiện về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng bị kháng cáo, khiếu nại từ
phía đương sự.
Xuất phát từ tình hình trên đây, việc nghiên cứu, tìm hiểu các qui định của
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại
do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những vấn đề có ý
nghĩa pháp lý và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được nhiều nhà khoa học
nghiên cứu pháp luật quan tâm. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, trong đó có đề cập
đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng như các
bài viết: TS. Phùng Trung Tập: "Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004; Đinh Văn Quế:
"Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe
của con người", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004); Tưởng Duy
Lượng - Nguyễn Văn Cường: "Cách tính bồi thường thiệt hại tính mạng, sức
khỏe bị xâm phạm", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5-2004); Lê Mai
Anh: "Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong Bộ luật dân sự", Luận văn thạc sĩ luật học; Lê Thị Bích Lan: "Một số vấn
đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, chúng tôi chỉ nghiên
cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng, đồng thời
xem xét thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự xâm phạm sức khỏe và tính
mạng. Luận văn này cũng đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng
mắc trong giải quyết bồi thường thiệt hại sức khỏe và tính mạng khi áp dụng
các quy định của Bộ luật dân sự.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, luận
văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết trong qui định của pháp luật
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng; chỉ ra
những khó khăn, bất cập trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời có những
kiến nghị trong việc hoàn thiện và áp dụng pháp luật trong việc xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong luật dân sự
Chương 2: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe và tính
mạng bị xâm phạm
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại
do xâm phạm sức khỏe và tính mạng
Chương 1

đến Điều 767 (Bộ Dân luật Trung Kỳ) và cho đến năm 1972 chính quyền Sài
Gòn có ban hành bộ Dân luật Sài Gòn từ Điều 729 đến Điều 739 đề cập về
trách nhiệm bồi thường dân sự.
Cách mạng tháng Tám thành công, đánh dấu một bước ngoặt mới: Nhà nước
Việt Nam dân chủ ra đời, ngay lúc này chúng ta chưa thể ban hành được các
văn bản quy phạm pháp luật ngay. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra
hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt ký Sắc lệnh số 90/SL ngày
10/10/1945 và Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 thừa nhận luật lệ cũ trên
tinh thần không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của
Nhà nước ta. Những quy định trong Sắc lệnh số 97/SL đã đặt nền móng cho
sự hình thành và phát triển của luật dân sự. Lần đầu tiên những nguyên tắc
thực sự dân chủ, tiến bộ mang tính nhân dân sâu sắc được pháp điển hóa. Như
nguyên tắc: "Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử
nó đúng với quyền lợi của nhân dân" hay "người ta chỉ được hướng dụng và
sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không
gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân".
Việc giải quyết các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm của ngành tòa án. Qua thực tiễn xét xử, vận dụng và kế thừa
những quy định pháp luật đã có, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư
173/UBTP ngày 23/3/1972 hướng dẫn công tác xét xử, trong đó nói rõ điều kiện
phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc, cách xác định thiệt hại
Thông tư số 03 ngày 5/4/1983 bổ sung giải quyết bồi thường thiệt hại trong
các vụ tai nạn giao thông đều là văn bản dưới luật, lại ban hành trong điều
kiện nền kinh tế tập trung bao cấp, tuy đề cập đến nhiều vấn đề xong chỉ
mang tính định hướng, chưa cụ thể Bên cạnh đó, xu hướng phát triển kinh tế
đất nước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đòi hỏi phải có
bộ luật dân sự điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội rộng lớn. Bộ luật Dân
sự ra đời pháp điển hóa một bước quan trọng tạo ra một văn bản pháp luật
thống nhất nhằm khắc phục những tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn
của pháp luật dân sự trước đó.

tài sản của pháp nhân hoặc của các chủ thể khác. Bồi thường thiệt hại là hình
thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải bù
đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Điều
kiện để phát sinh trách nhiệm này là phải có thiệt hại, có hành vi trái pháp
luật, có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra có lỗi
của người gây thiệt hại.
Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì? Qua những phân
tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm
pháp lý, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước theo đó người gây thiệt hại
phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó được
thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm hại tới tài sản, sức khoẻ, tính mạng,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, và các quyền nhân thân khác của cá nhân, tài
sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc của chủ thể khác.
1.1.2. Ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Là một loại trách nhiệm pháp lý, được áp dụng khi thỏa mãn những điều kiện
do pháp luật qui định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý
nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội sâu sắc, điều đó được thể hiện trên một số
phương diện sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp
phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Trong các quan hệ xã hội nói chung, giao lưu dân sự nói riêng, chủ thể tham
gia nhằm thỏa mãn những lợi ích vật chất hoặc tinh thần của mình. Để xã hội
ngày càng phát triển, các chủ thể phải tham gia nhiều quan hệ xã hội khác
nhau và trong các quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia thì lợi ích luôn là tâm
điểm để chủ thể hướng tới. Hiến pháp và các văn bản pháp luật có hiệu lực
pháp lý sau Hiến pháp luôn ghi nhận và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
các chủ thể. Đó có thể là lợi ích vật chất, thể hiện ở quyền sở hữu tài sản,
nhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân được

rằng nếu mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng sẽ chịu sự xử lý của pháp
luật.
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa trong việc tuyên
truyền, giáo dục pháp luật thông qua những biện pháp chế tài nghiêm khắc.
Ngoài ra, ý thức pháp luật của người dân cũng ngày một được nâng cao hơn.
1.2. SO SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM TÀI
SẢN VỚI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM CÁC
QUYỀN NHÂN THÂN
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, một trong
những sự đa dạng đó là đối tượng bị thiệt hại. Đối tượng bị thiệt hại có thể là
tài sản, nhưng cũng có thể là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín
(sự cụ thể hóa các quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ). Chúng ta có thể
thấy rõ sự giống và khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm các quyền
nhân thân qua sự phân tích dưới đây.
1.2.1. Những điểm giống nhau
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi
thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệm pháp
lý. Đây chính là thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm và hậu quả của
hành vi đó gây ra. Cả hai loại trách nhiệm này đều là biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước được áp dụng đối với người vi phạm, buộc người vi phạm phải chịu
trách nhiệm về hành vi của mình.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi
thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệm pháp
lý nên chỉ phát sinh khi và chỉ khi dựa trên các căn cứ do pháp luật qui định.
Những căn cứ đó được xác định cụ thể như: có thiệt hại, có hành vi trái pháp
luật gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt
hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại.
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân còn có những điểm

3. Thiệt hại phải
bồi thường
Thiệt hại vật chất Thiệt hại vật chất; và
Thiệt hại tinh thần.
4. Hậu quả pháp
lý được áp dụng
Bồi thường thiệt hại Bồi thường; và/
Xin lỗi; hoặc/
Cải chính công khai trên
các phương tiện thông tin đại
chúng
5. Thay đổi chủ thể Có thể có sự thay đổi chủ
thể: chuyển giao quyền yêu
cầu hoặc chuyển giao nghĩa
vụ
Không thể thay đổi chủ thể,
không thể chuyển giao quyền
yêu cầu, Điều 309 khoản 1 điểm
a Bộ luật dân sự quy định: "1.
Bên có quyền yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ dân sự có thể chuyển
giao quyền yêu cầu đó cho
người thế quyền theo thỏa
thuận, trừ những trường hợp sau
đây: a) quyền yêu cầu cấp
dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt
hại do xâm phạm đến tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín;…"
Chương 2

2.1.1. Phải có thiệt hại xảy ra
Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện quan trọng nhất của trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bởi nếu không có thiệt hại thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại không bao giờ phát sinh. Mục đích của trách nhiệm bồi
thường thiệt hại là khôi phục, bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại, do
đó phải có thiệt hại thì mục đích đó mới đạt được.
Nếu thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thì việc xác định "có thiệt hại" là vấn đề
không mấy khó khăn, tuy nhiên trường hợp sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm
thì thiệt hại sẽ khó xác định, bởi chúng ta không thể "lượng hóa" được thiệt
hại trong trường hợp này. Vậy có thể hiểu thiệt hại là gì? Thiệt hại có thể
được hiểu theo hai khía cạnh: xã hội và pháp lý.
Theo ý nghĩa xã hội, mỗi hành vi trái pháp luật đều gây thiệt hại, bởi nó làm
ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội nhất định.
Theo luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính
thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài
sản của cá nhân và các chủ thể khác. Tổn thất thực tế được đề cập ở đây là
sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần, hay những chi phí để ngăn
chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu.
Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần. Thiệt
hại vật chất là thiệt hại được biểu hiện cụ thể như tài sản đã mất mát, những
chi phí cần thiết để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế tài sản bị hư hỏng,
những khoản thu nhập thực tế bị mất.
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra những thiệt hại về tính mạng,
sức khỏe của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào? Tính
mạng, sức khỏe của con người là vô giá không thể tính thành tiền, do vậy bồi
thường thiệt hại ở đây không phải là bồi thường về tính mạng, sức khỏe mà
nó là những bồi thường thiệt hại vật chất. Những chi phí cho việc cứu chữa,
bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bên bị thiệt hại hoặc những chi
phí cần thiết khác.
Theo thông tư 173/UBTP-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày

công bằng xã hội. Trên thực tế, mọi thiệt hại đều mang tính khách quan, tuy
nhiên, tiên lượng và đánh giá tính khách quan của sự thiệt hại lại thông qua ý
thức chủ quan của con người. Điều đó có nghĩa là trong điều kiện, hoàn cảnh
thực tế như vậy ai cũng công nhận thiệt hại là có và mọi người đều chấp nhận
việc đánh giá mức độ thiệt hại. Nhưng nhìn chung thì người bị thiệt hại có thể
phức tạp hóa vấn đề lên, như khai tăng giá trị thiệt hại còn người gây thiệt hại
có chiều hướng đơn giản hóa. Vì vậy mà người có vai trò đánh giá thiệt hại,
đại diện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là rất quan trọng. Nhìn nhận và
đánh giá thiệt hại dựa trên cơ sở pháp luật quy định để xem xét có thiệt hại
xảy ra hay không, mức độ thiệt hại như thế nào
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số lượng tiền xác định mới
đảm bảo đầy đủ cơ sở cho việc bồi thường. Tuy nhiên, đối với thiệt hại về mặt
tinh thần không thể tính toán bằng tiền. Hơn thế đây là khái niệm còn khá trừu
tượng, bởi "tinh thần" thì làm sao có thể cân, đo, đong, đếm cụ thể để xác
định thiệt hại, do vậy Tòa án chỉ có thể căn cứ vào từng trường hợp cụ thể xác
định số tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần, nhằm đảm bảo quyền lợi của
người bị nạn và gia đình họ, khắc phục phần nào hậu quả xảy ra. Tòa án cũng
chỉ chấp nhận những thiệt hại hợp lý mà thôi, những thiệt hại mang tính suy
diễn như: "Tôi là người không bao giờ bị tai nạn, trong tháng này tôi bắt được
5 triệu đồng" hay "thu nhập của một người nông dân ở vùng quê nghèo là từ
2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng /tháng".
Có thiệt hại tức là những tổn thất thực tế, tồn tại khách quan và phải tính được
bằng một số tiền cụ thể nhất định, còn những thiệt hại mang tính suy diễn, chủ
quan sẽ không được thừa nhận nếu không có căn cứ xác đáng.
Như vậy, thiệt hại về vật chất là những thiệt hại trị giá được bằng tiền, đó là
thiệt hại thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại. Đó là những
thiệt hại vật chất trong các thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, uy tín, nhân phẩm…
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức
chung để quy thành tiền áp dụng cho mọi trường hợp. Việc giải quyết bồi

Bồi thường thiệt hại chính là nhằm khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần tình
trạng tài sản trước khi xảy ra thiệt hại hoặc bù đắp những tổn thất do tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, bị xâm phạm nên thiệt hại được coi là
điều kiện có ý nghĩa quan trọng. Không thể bồi thường thiệt hại khi không có
thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại được hiểu là: bị tổn thất, hư hao về người và tài sản và được xác
định bằng một khoản tiền cụ thể. Thiệt hại gây ảnh hưởng đến các quan hệ
kinh tế - xã hội được pháp luật bảo vệ, đồng thời cũng phản ánh hậu quả của
hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức, pháp nhân cũng như của Nhà nước.
Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về tinh thần, tuy nhiên có
quan điểm cho rằng thiệt hại về tinh thần chỉ là khái niệm xã hội và ở phạm vi
tình cảm. Nhưng có quan điểm cho rằng, bồi thường bằng tiền có thể khắc
phục phần nào thiệt hại về tinh thần, không thể dùng tiền bù đắp được. Tuy
nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam quy định mức tiền bồi thường thiệt hại về
tinh thần tại khoản 2 Điều 609 và khoản 2 Điều 610. Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 08
tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dân sự năm
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã có sự hướng dẫn cụ thể
về bồi thường tổn thất tinh thần.
Buộc người xâm phạm đến sức khỏe người khác phải bồi thường một khoản
tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại và cho những
người thân thích của người bị thiệt hại trong vụ bị xâm phạm tính mạng là
phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với phong tục tập quán, truyền
thống tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam.
2.1.2. Phải có hành vi gây thiệt hại
Hành vi gây thiệt hại trước tiên phải là hành vi pháp luật cấm thực hiện, nếu
hành vi đó được thực hiện mà pháp luật không cấm thì người thực hiện hành vi
đó không phải bồi thường thiệt hại. Không thể có người gây thiệt hại khi không
có hành vi gây thiệt hại. Hành vi gây thiệt hại là hành vi có ý thức của con người

hành vi trái pháp luật gây thiệt hại:
Thứ nhất, hành vi gây thiệt hại phải trái pháp luật, nếu không trái pháp luật thì
không phải bồi thường mặc dù có thiệt hại xảy ra. Hành vi trái pháp luật ở đây
được hiểu là hành vi vi phạm các qui định của pháp luật, ngoài ra những hành
vi vi phạm các qui tắc xử sự sinh hoạt trong đời sống cũng có thể coi là hành
vi trái pháp luật nếu gây ra thiệt hại. Những hành vi gây thiệt hại nhưng do
yêu cầu của nghề nghiệp hoặc gây thiệt hại theo bản án, quyết định của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền thì không phải là hành vi trái pháp luật. Ví dụ:
để cứu chữa bệnh nhân tránh vết thương bị hoại tử, bác sĩ phải cắt bỏ chân
của bệnh nhân, những người phá dỡ các công trình xây dựng trái phép, những
người thi hành án tử hình
Thứ hai, hành vi trái pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc
dưới dạng không hành động.
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại là hoạt động có ý thức và ý chí. Không thể có
hành vi gây thiệt hại mà những biểu hiện bên ngoài của nó không được ý thức
của chủ thể kiểm soát hay không được ý chí của họ điều khiển.
2.1.3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại
Mối quan hệ nhân quả là sự liên hệ giữa hai hiện tượng trong đó có chứa
đựng nguyên nhân và kết quả. Phải có sự vận động của hiện tượng là nguyên nhân
trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể mới nảy sinh hiện tượng là kết quả.
Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là hậu quả. Xét về
nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác
định và hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân quyết định
đối với thiệt hại xảy ra). Có nghĩa là thiệt hại đã có sẵn cơ sở trong hành vi. Một
hành vi vi phạm nhất định trong một điều kiện xác định thì chỉ làm nảy sinh ra
hậu quả này chứ không phải là hậu quả nào khác. Thiệt hại xảy ra phải đúng là
kết quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại, nếu không có hành vi thì
thiệt hại sẽ không xảy đến. Nếu không xác định được mối quan hệ này sẽ không
xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi vi phạm và
không buộc được người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

thường thì do nhiều nguyên nhân chứ không chỉ do một nguyên nhân gây ra.
Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà phối hợp với nhau phát sinh ra
kết quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân thì không có kết quả xảy ra.
Tuy nhiên, mức độ tác động của từng nguyên nhân đối với kết quả có thể là
khác nhau, sự khác nhau này đã tạo ra vai trò chủ yếu và thứ yếu của từng
nguyên nhân. Trong thực tiễn thì thiệt hại có thể có nhiều nguyên nhân, vậy
xác định nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp, nguyên nhân
nào là nguyên nhân thứ yếu và gián tiếp, một thiệt hại có thể kéo theo nhiều
thiệt hại khác, thiệt hại đầu tiên có coi là nguyên nhân của thiệt hại sau hay
không. Chúng ta không thể căn cứ vào thứ tự trước sau của hành vi gây thiệt
hại để xác định nguyên nhân chủ yếu hay thứ yếu được, nhất là trong các vụ
án có nhiều người tham gia.
Tóm lại, mối quan hệ nhân quả là sự tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào
ý chí của con người, khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm
và thiệt hại xảy ra phải bảo đảm tính khách quan, phải đặt trong mối liên hệ
tất nhiên, nội tại của các hiện tượng chứ không được chủ quan mà xác định
quan hệ nhân quả.
2.1.4. Người gây thiệt hại có lỗi
Lỗi thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Khoản 2 Điều 309 quy
định:
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ
gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không
mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của
mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt
hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,
nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi trái pháp luật của mình
và đối với thiệt hại do hành vi gây nên, người có hành vi trái pháp luật gây
thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi vi phạm của mình gây ra

thuộc vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại. Khi nghiên cứu về lỗi vô ý có
thể chia lỗi vô ý ra làm hai loại:
- Vô ý vì cẩu thả.
- Vô ý vì quá tự tin.
Vô ý cẩu thả là trường hợp người có hành vi vi phạm mặc dù có thể thấy
trước và phải thấy trước thiệt hại có thể xảy ra.
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người có hành vi vi phạm thấy trước khả
năng hành vi của mình có thể gây thiệt hại và không mong muốn thiệt hại xảy
ra nhưng lại tin là có thể ngăn chặn được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status