ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THOA
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO
HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG CỦA
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THOA
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO
HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG CỦA
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến
6. Kết cấu của Luận văn ........................................................................................6
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƢỜNG
THIỆT HẠI DO HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG CỦA DOANH
NGHIỆP .....................................................................................................................8
1.1. Lý luận về bồi thƣờng thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng của
doanh nghiệp ..........................................................................................................8
1.1.1. Lý luận về thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường ............................8
1.1.2. Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường ..................................................................................................................11
1.2. Lý luận về pháp luật bồi thƣờng thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trƣờng của doanh nghiệp ....................................................................................17
1.2.1. Sự cần thiết của việc ra đời pháp luật bồi thường thiệt hại do hành vi gây
ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ...............................................................17
1.2.2. Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường của doanh nghiệp ....................................................................................18
1.2.3. Lịch sử hình thành của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường của doanh nhiệp ở Việt Nam .................................................19
1.3. Pháp luật và thực tiễn pháp lý của một số nƣớc trên thế giới về bồi
thƣờng thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng của doanh nghiệp và
những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện lĩnh vực pháp luật
này..........................................................................................................................26
1.3.1. Quan niệm về thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra của một số nước
trên thế giới .........................................................................................................26
1.3.2. Quan niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
gây ra của một số nước trên thế giới ..................................................................27
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO
HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT
3.1. Sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật của
Việt Nam về bồi thƣờng thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng của
doanh nghiệp ........................................................................................................63
3.2. Một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do
hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay ........................................................................................................64
3.2.1. Gia nhập các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung, bồi
thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường nói riêng và “nội luật hóa”
các điều ước quốc tế vào luật quốc gia ..............................................................64
3.2.2. Thể chế hóa và củng cố các nguyên tắc đặc thù trong bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm môi trường ........................................................................................65
3.2.3. Quy định về xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường ............................66
3.2.4. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại .....................................67
3.2.5. Giải quyết bồi thường thiệt hại thông qua phương thức trọng tài ...........67
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại
do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng của doanh nghiệp ở Việt Nam ................68
3.3.1. Nhóm giải pháp về nhận thức ...................................................................68
3.3.2. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực ..........................................................69
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................72
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường hiện đang là vấn đề nóng bỏng và nhức nhối không chỉ
đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới dù là quốc gia phát
triển hay quốc gia đang phát triển. Trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói
riêng, ô nhiễm, suy thoái môi trường và những sự cố môi trường làm cho môi
trường sống có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những thay đổi đối
với hệ sinh thái tự nhiên tiếp xúc trực tiếp với con người hàng ngày như đất, nước,
không khí, hệ thực vật, hệ động vật v.v.
Xét trong phạm vi Việt Nam, trong những năm vừa qua, tình hình ô nhiễm
môi trường ngày càng nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau kéo theo các
vấn đề tranh chấp môi trường nảy sinh từ bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng. Bên cạnh đó, quy chế pháp lý về
bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam dường như còn
chưa đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và toàn diện; đồng thời tồn tại không ít mâu
thuẫn, bất cập và gây khó khăn trong việc áp dụng. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là con đường phát triển tất yếu nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn và
lạc hậu. Trên mặt trận chống đói nghèo, phát triển kinh tế, doanh nghiệp lĩnh trọng
trách là người lính xung kích, đi đầu. Sự đóng góp to lớn của các doanh nghiệp Việt
Nam vào những thành tựu phát triển kinh tế trong 30 năm đổi mới (1986 - 2016) là
không thể phủ nhận được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận, trân trọng. Tuy
nhiên, sự đóng góp to lớn của các doanh nghiệp vào quá trình chấn hưng đất nước
không che lấp một thực tế đáng buồn đó là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng
gia tăng, làm giảm sút chất lượng môi trường sống và đe dọa sức khỏe, tính mạng
của con người mà nguyên nhân cơ bản do hoạt động sản xuất - kinh doanh của các
doanh nghiệp gây ra. Điển hình cho thực trạng đáng buồn này là vụ việc gây ô
nhiễm sông Thị Vải của Công ty VEDAN (Đài Loan); vụ việc gây ô nhiễm nguồn
nước của Công ty TUNGSHING (Đài Loan) ở Hải Dương v.v. Điều này gióng lên
Luật Hà Nội, năm 2004.
3
- “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi
trường gây nên tại Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường của Đại học
Luật Hà Nội, năm 2007.
- “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường” của TS. Vũ Thu
Hạnh, đăng trên tạp chí Khoa học Pháp lý, số 3(40), năm 2007.
- “Cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường”, Sách
chuyên khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, TS. Vũ Thu Hạnh chủ biên,
năm 2012.
- “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo pháp luật dân sự
Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ ngành Luật Dân sự, Chu Thu Hiền, Khoa Luật Đại học
Quốc Gia Hà Nội, năm 2011.
- “Quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi
trường ở Việt Nam. Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện”, Báo cáo chuyên đề
nghiên cứu, TS. Vũ Thu Hạnh, TS. Trần Anh Tuấn và các đồng nghiệp trường Đại
học Luật Hà Nội chủ trì thực hiện, năm 2009.
- “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây
ra ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, NCS. Bùi Kim Hiếu, Học viện
Khoa học Xã hội, năm 2015 v.v.
Các công trình nghiên cứu này đã giải quyết được một số vấn đề lý luận như
phân tích khái niệm, đặc điểm ô nhiễm môi trường; phân tích khái niệm, đặc điểm,
ý nghĩa và cơ sở pháp lý của bồi thường thiệt hại về môi trường nói chung và ô
nhiễm môi trường nói riêng; đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại về
môi trường (trong đó có ô nhiễm môi trường) và đề xuất giải pháp góp phần hoàn
thiện lĩnh vực pháp luật này v.v. Tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách có
hệ thống đầy đủ, toàn diện trên phương diện lý luận và thực tiễn về pháp luật về bồi
nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam.
5
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường
của doanh nghiệp ở Việt Nam” là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng liên quan đến
quy định của nhiều ngành luật như Luật bảo vệ môi trường, pháp luật dân sự, Luật
doanh nghiệp v.v. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật
học, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các quy định của Luật bảo vệ môi
trường và các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường nói chung và bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường của doanh nghiệp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau
đây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh v.v
được sử dụng trong Chương 1 - nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật bồi
thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam.
- Phương pháp diễn giải, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, đối
chiếu v.v được sử dụng trong Chương 2 - nghiên cứu thực trạng pháp luật về bồi
thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam.
- Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp v.v
được sử dụng trong Chương 3 - nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh
nghiệp ở Việt Nam.
6. Kết cấu của Luận văn
xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương,
buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do
bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ
phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không
phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm
phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị hiểu nhầm
và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.
Như vậy, theo pháp luật dân sự, thiệt hại có thể được hiểu là những tổn thất
thực tế được tính thành tiền, do việc bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. Do đó, thiệt hại trong lĩnh vực này được xác
định bao gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân
phẩm, uy tín và thiệt hại về tinh thần [17].
8
1.1.1.2. Lý luận về thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường theo pháp luật về
bảo vệ môi trường
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thiệt hại được hiểu là những tổn thất do ô
nhiễm môi trường và sự cố môi trường gây ra.
Trên thế giới, hiện có hai quan niệm khác nhau về thiệt hại do ô nhiễm môi
trường [7, tr95]:
Một là, thiệt hại do ô nhiễm môi trường chỉ bao gồm thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên và hệ sinh thái như hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí…
mà không bao gồm thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người.
Theo cách hiểu này, thiệt hại do ô nhiễm môi trường chỉ được xác định là các thiệt
hại trực tiếp lên môi trường tự nhiên và hệ sinh thái do ô nhiễm môi trường gây nên.
Hai là, thiệt hại về môi trường không chỉ bao gồm các thiệt hại đến chất
lượng môi trường và hê ̣ sinh thái mà còn cả thiệt hại về sức khỏe
ích của môi trường gây ra. Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể
hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị
mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Thiệt
hại về tài sản được thể hiện qua những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, những khoản
chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn chặn và phục hồi tài sản bị thiệt hại do ô
nhiễm, suy thoái môi trường gây nên. Thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân được thể hiện qua sự tổn hại về lợi ích vật chất, sự giảm sút về thu nhập chính
đáng mà nguyên nhân là do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.
Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được
xem là thiệt hại gián tiếp (còn gọi là thiệt hại phái sinh hay thiệt hại thứ sinh) - thiệt
hại chỉ xảy ra khi đã có loại thiệt hại thứ nhất. Tuy nhiên, cần lưu ý là giữa thiệt hại
đối với môi trường tự nhiên và thiệt hại đối với tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân không phải luôn luôn và hoàn toàn tách biệt. Trong một số trường
hợp thiệt hại về môi trường tự nhiên tại một khu vực nhất định cũng đồng thời là
thiệt hại về tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tại khu vực đó. Ví dụ, sự
suy giảm nguồn lợi thủy sinh tại một vùng biển bị ô nhiễm cũng đồng thời là sự
giảm sút về thu nhập của ngư dân ở khu vực đó. Điều này thiết nghĩ cần được lưu ý
để tránh sự trùng lặp khi xác định các loại thiệt hại cụ thể do ô nhiễm, suy thoái môi
trường gây nên.
10
Như vậy, thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường bao gồm 02 loại thiệt
hại: (i) Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Loại thiệt hại này
thông thường gắn với chủ thể bị thiệt hại là Nhà nước, người đại diện cho lợi ích
chung của cộng đồng và (ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng,
tính hữu ích của môi trường gây ra. Chủ thể của loại thiệt hại này là các tổ chức, cá
người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận, hợp đồng giữa các bên gây ra
thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất do mình
gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng dựa trên cơ sở
một hợp đồng hoặc một thỏa thuận đã tồn tại giữa các bên.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý do
pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
là trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định chứ không phát
sinh do vi phạm thỏa thuận hoặc hợp đồng do các bên đã giao kết trước đó.
Dựa trên những cơ sở lý luận nêu trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi gây ô nhiễm môi trường được hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng do trách nhiệm này không phát sinh trên cơ sở một hợp đồng hoặc một
thỏa thuận giữa các bên mà phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định.
Một cách khái quát, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm
môi trường được hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi
gây ô nhiễm môi trường, gây ra thiệt hại là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của
môi trường, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường
gây ra phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất do hành vi vi phạm của mình gây ra.
1.1.2.2. Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường của doanh nghiệp
Là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nên trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp
mang đầy đủ các đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
12
đồng. Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường của
doanh nghiệp còn có những điểm đặc trưng sau đây:
định với thiệt hại về tài sản, sức khỏe, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tại khu
vực đó, do đó, khó xác định được ai là người thiệt hại và được hưởng bồi thường
thiệt hại. Ví dụ, sự suy giảm nguồn lợi thủy sản tại một dòng sông bị ô nhiễm cũng
đồng thời là sự giảm sút về thu nhập của người dân ở khu vực đó; tuy nhiên, gần
như không thể tách bạch hay tính toán được đây là thiệt hại cho Nhà nước hay là
thiệt hại cho cá nhân do hành vi gây ô nhiễm.
(iii). Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường là các doanh nghiệp
Căn cứ vào pháp luật về dân sự nói chung và pháp luật về bảo vệ môi trường
nói riêng, có thể hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường là tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây
thiệt hại trong lĩnh vực môi trường.
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường
của doanh nghiệp, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là các doanh nghiệp
theo quy định theo pháp luật doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp từ khi thành lập đã có năng lực pháp luật, có năng lực chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Các doanh nghiệp khi tham gia vào các quan hệ
pháp luật môi trường mà có hành vi làm ô nhiễm môi trường dẫn tới gây thiệt hại
thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Các doanh
nghiệp có thể là doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp
tập thể… theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
1.1.2.3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường của doanh nghiệp
i) Có thiệt hại xảy ra
Như đã phân tích ở trên, theo Luật Bảo vệ môi trường, thiệt hại do ô nhiễm,
suy thoái môi trường gồm 02 loại: (i) Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi
14
15
iii) Yếu tố lỗi
Khác với nguyên tắc trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường không được
loại trừ ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi.
Theo đó, đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường thì chỉ cần có hành vi gây thiệt hại và có hậu quả là phải bồi thường mà
không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của người gây ô nhiễm.
1.1.2.4. Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường
Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền lợi bị
xâm hại. Chủ thể ở đây được hiểu là Nhà nước, người đại diện cho lợi ích chung
của cộng đồng trong trường hợp thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của
môi trường hoặc các tổ chức, cá nhân cụ thể bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
hoặc tài sản trong trường hợp thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài
sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Thứ hai, nhằm răn đe, phòng ngừa đối với những người có hành vi gây thiệt
hại do ô nhiễm môi trường
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại có chức năng ngăn ngừa hành vi vi
phạm pháp luật (chức năng phòng ngừa). Chức năng này nhằm làm cho các tổ chức,
cá nhân trong xã hội ý thức được rằng, nếu gây thiệt hại cho chủ thể khác, không
những họ sẽ không được khuyến khích mà còn phải gánh chịu hậu quả bất lợi, thì
họ sẽ phải có ý thức kiềm chế hành vi gây thiệt hại.
Như vậy, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần
nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi chủ thể.
16
17
Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế. Vì lẽ đó, các quy định về bồi thường thiệt hại
do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ra đời như là một bảo đảm
pháp lý để bảo đảm thực hiện các nguyên tắc này.
Thứ ba, ô nhiễm môi trường để lại những hậu quả hết sức nặng nề không chỉ
cho thế hệ hiện tại mà còn cho các thế hệ tương lai. Mặt khác, việc khắc phục hậu
quả do ô nhiễm môi trường gây ra là rất khó khăn, tốn kém về vật chất, nguồn lực
mà thậm chí có trường hợp không thể khắc phục được. Tuy nhiên, việc nhận biết
những hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra lại không thể nhận biết ngay lập tức.
Để bảo vệ sự sống trên hành tinh và đề cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi
thành viên trong xã hội; đồng thời, huy động mọi nguồn lực vào bảo vệ, giữ gìn môi
trường vì sự phát triển bền vững thì cần phải xác lập trách nhiệm pháp lý về bồi
thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của con người nói chung và
doanh nghiệp nói riêng.
Thứ tư, kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy việc bảo vệ môi trường
có hiệu quả thì không thể không sử dụng công cụ pháp luật; bởi lẽ, với những đặc
trưng của pháp luật như tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính
thích ứng, tự điều chỉnh nên nó trở thành biện pháp quản lý có hiệu quả nhất được
sử dụng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường của doanh nghiệp v.v.
1.2.2. Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi
trường của doanh nghiệp
Pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của
doanh nghiệp là một lĩnh vực của pháp luật về bảo vệ môi trường. Nó bao gồm tổng
hợp các quy phạm pháp luật môi trường do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường của doanh nghiệp gây ra nhằm bảo vệ môi trường sống trong
luật của Việt Nam đã có những quy định về bồi thường thiệt hại nói chung và bồi
thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp nói riêng, cụ
thể như sau:
19