1
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Tr¸ch nhiÖm båi th−êng thiÖt h¹i do
hµnh vi vi ph¹m ph¸p luËt m«i tr−êng g©y
nªn
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Stt Họ và tên
Học hàm –
học vị
Cơ quan công tác
1. Vũ Thu Hạnh Tiến sĩ Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
2. Nguyễn Văn Phương Thạc sĩ Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
3. Vũ Duyên Thuỷ Thạc sĩ Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
4. Lưu Ngọc Tố Tâm Thạc sĩ Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
5. Đặng Hoàng Sơn Thạc sĩ Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
6. Nguyễn Văn Tài Tiến sĩ Vụ Môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường
7. Dương Thanh An Thạc sĩ Cục Bảo vệ môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường
3
2.6 Chuyên đề 6 Mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm pháp luật môi trường với trách
nhiệm hành chính trong lĩnh vực môi trường.
126
2.7 Chuyên đề 7 Mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm pháp luật môi trường với trách
nhiệm hình sự trong lĩnh vực môi trường.
138
2.8 Chuyên đề 8 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường tại
Việt Nam trong thời gian qua.
151
2.9 Chuyên đề 9 Kinh nghiệm của nước ngoài về áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm
pháp luật môi trường gây nên.
160
2.10 Chuyên đề 10 Bước đầu nghiên cứu về bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về môi trường.
183
3. Tài liệu tham
khảo
191 4
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, chất lượng môi trường
đang có những biến đổi theo chiều hướng bất lợi cho cuộc sống của con
người. Nguyên nhân chính của tình trạng này là sự tác động theo chiều hướng
tiêu cực của con người tới môi trường ngày càng gia tăng. Có nhiều cách
thức, biện pháp khác nhau được đưa ra nhằm ngăn chặn, hạn chế tình trạng
này, trong đó các biện pháp pháp lý với nội dung chính là quy định trách
nhiệm phải bồi thường thiệt hại gây nên do làm ô nhiễm, suy thoái môi trường
đang được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Luật Bảo vệ môi trường 2005
1
quy
định 5 điều về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (Mục 2
Chương XIV, từ Điều 130 đến Điều 134)
2
. Đây là một bước tiến mới về mặt
lập pháp. Người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại phải bồi thường là sự cụ
thể hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả giá” (PPP) đã được cộng đồng
quốc tế thừa nhận. Thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này không chỉ có tác
dụng trừng phạt người đã gây ô nhiễm môi trường mà còn có tác dụng răn đe
các chủ thể khác trong quá trình khai thác, sử dụng các thành tố của môi trường
không được gây tổn hại cho môi trường. Nói khác đi, bồi thường thiệt hại môi
trường ngày càng được xem là một nội dung quan trọng của quản lý và bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên, các quy định về bồi thường thiệt hại gây nên do làm ô
nhiễm, suy thoái môi trường hiện vẫn dừng ở mức chung chung, mang tính
nguyên tắc, chưa thể áp dụng trên thực tế. Thực tiễn giải quyết các vụ kiện
đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên trong
thời gian qua tại Việt Nam gặp không ít khó khăn do chưa có sự thống nhất về 1
thiệt hại về môi trường cũng đã bước đầu nhận được sự quan tâm nghiên cứu
của các luật gia, cũng như những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực
quản lý môi trường. Ở các mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một số công
7
trình và tài liệu đề cập đến vấn đề này, như: Giáo trình Luật Môi trường của
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999); đề tài "Bước đầu nghiên cứu cơ chế giải
quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" do Cục Môi trường, Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với
Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2000; đề tài "Trách
nhiệm pháp lý dân sự trong lĩnh vực môi trường" do Viện nghiên cứu Khoa
học pháp lý - Bộ Tư pháp thực hiện năm 2002; các Báo cáo tổng kết công tác
thực tiễn giải quyết đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trường gây nên của Phòng quản lý môi trường các tỉnh, thanh tra môi trường
các địa phương, Cục bảo vệ môi trường; "Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam
- Luật pháp và thực tiễn" của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao; luận án tiến sĩ luật
học của Vũ Thu Hạnh về “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam”; “Bồi thường thiệt hại về
môi trường” thuộc Chương trình hợp tác Việt Nam- Thụy Điển về tăng cường
năng lực quản lí nhà nước về đất đai và môi trường...
Nước ngoài: Có một số công trình nghiên cứu về cách thức đền bù và
đánh giá thiệt hại môi trường. Các công trình này trở thành căn cứ quan trọng
để đưa ra các quy định về giải quyết các khiếu kiện liên quan đến việc đòi bồi
thường thiệt hại về môi trường. Trong số này trước tiên cần kể đến công trình
“Đền bù và đánh giá thiệt hại môi trường: Một số vấn đề về chính sách và
pháp lí đối với khu vực ASEAN” do Tiến sĩ Brady Coleman - Trung tâm Luật
Môi trường châu á- Thái Bình Dương, Đại học tổng hợp Singapore thực hiện;
“Khuôn khổ thể chế hiện hành về đền bù và đánh giá thiệt hại môi trường tại
Malayxia” của Amirul arpin - Chuyên gia kiểm soát môi trường, Cục Môi
trường Malayxia; “Mô tả khuôn khổ hiện hành về đền bù và đánh giá thiệt hại
trong quá trình hoạt động của con người.
3
Tạm dịch là "Trích yếu tóm tắt các quyết định của toà án trong các vụ có liên quan đến môi trường".
9
Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên tại Việt Nam.
- Đánh giá một số kết quả thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường ở Việt Nam trong
thời gian qua.
- Học hỏi kinh nghiệm của một số nước về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại về môi trường.
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp phân tích và khái quát hoá,
phương pháp lịch sử, phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra, nghiên
cứu, thu thập và kế thừa các kết quả đã có. Ngoài ra, phương pháp mô hình
hoá... cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài.
B. TÓM TẮT NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG GÂY
NÊN (GỌI CHUNG LÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG)
1.1. Thiệt hại và xác định thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
1.1.1. Thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
Trong lĩnh vực dân sự, thiệt hại có thể được hiểu là những tổn thất thực
tế được tính thành tiền, do việc bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh
được xem là những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại, phát triển chung của cả
cộng đồng, không do một tổ chức, cá nhân nào tạo ra và đương nhiên thuộc
quyền sở hữu chung của cả cộng đồng mà đại diện là Nhà nước. Do đó, nếu
11
có sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của các yếu tố này thì đó là sự suy
giảm các giá trị môi trường sống nói chung. Chính vì vậy, nói đến thiệt hại
trong lĩnh vực môi trường dưới góc độ chức năng, tính hữu ích của môi
trường bị suy giảm là nói đến sự suy giảm chức năng, tính hữu ích vốn có của
môi trường tự nhiên.
Xét một cách khái quát, nói đến chức năng, tính hữu ích của môi trường,
có thể kể đến ba chức năng chính sau đây: i) Môi trường là không gian sinh
tồn của con người; ii) Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật
liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con
người; iii) Môi trường là nơi chứa đựng và xử lý chất thải do con người tạo ra
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
Như vậy, có thể thấy, sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi
trường xảy ra khi: i) Chất lượng của các yếu tố môi trường sau sử dụng nhỏ
hơn quy chuẩn kĩ thuật về môi trường qui định; ii) Lượng tài nguyên thiên
nhiên có thể tái tạo được sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục, tái tạo và
lượng tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo được khai thác, sử dụng lớn
hơn lượng thay thế; iii) Lượng chất thải thải vào môi trường lớn hơn khả năng
tái sử dụng, tái chế hoặc phân huỷ tự nhiên.
Hai là: Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính
hữu ích của môi trường gây ra. Cụ thể là:
- Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ do hậu quả của việc suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường. Tương tự với loại thiệt hại này trong lĩnh
vực dân sự nói chung, người bị thiệt hại phải chi trả các chi phí cứu chữa, bồi
dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất và các khoản thu nhập thực tế bị
- Thiệt hại thường có giá trị lớn. Môi trường có vai trò hết sức quan
trọng đối với sự tồn tại, phát triển của con người nên khi bị tổn hại, nó thường
13
để lại hậu quả rất lớn. Mặt khác, thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
không dễ nhận biết. Vì thế, trong rất nhiều trường hợp, thiệt hại về môi
trường chỉ được xác định khi đã ở vào giai đoạn cuối của quá trình ô nhiễm và
suy thoái nên hậu quả đã trở nên khá nặng nề.
- Thiệt hại thường khó xác định một cách chính xác. Có cả những thiệt
hại gián tiếp, thiệt hại lâu dài... nên không thể dễ dàng trị giá thiệt hại ngay
trong một thời điểm cụ thể. Có những thiệt hại có thể xác định được mức độ bị
hại, như số lượng cá chết trong ao, hồ; số hoa màu bị hư hỏng do nguồn nước
bị ô nhiễm... nhưng cũng có những thiệt phải dựa trên sự suy đoán hợp lý và
khoa học thì mới xác định được mức độ bị hại. Ví dụ, thiệt hại đối với tổ chức,
cá nhân về thu nhập bị mất hoặc lợi nhuận bị giảm sút do phải đình trệ các
hoạt động bình thường từ sự cố môi trường gây ra, như hoạt động du lịch, khai
thác thuỷ sản...
- Trong nhiều trường hợp, thiệt hại không phải là do con người gây ra.
Những tổn hại gây ra có thể do chính những biến đổi của thất thường của tự
nhiên (chẳng hạn tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường xảy ra do hậu quả
của một sự cố môi trường).
- Thiệt hại thường rất khó khắc phục, thậm chí có những trường hợp
không thể khắc phục được. Điều này xuất phát từ chính những đặc trưng của
môi trường. Đó là khi bị ô nhiễm, suy thoái thì hoặc là phải mất rất nhiều thời
gian để khắc phục nhưng vẫn không thể khôi phục lại được trạng thái ban đầu,
hoặc là không thể khôi phục lại được.
- Thiệt hại thường xảy ra trên một phạm vi rộng. Do môi trường là tổng
thể các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với
nhau nên khi một thành phần môi trường này bị tổn hại có thể gây tổn hại cho
nhiều thành phần môi trường khác (có tính “lan truyền” hay hiệu ứng Đô mi
ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên.
Khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu
15
chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc
nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ
10 lần trở lên thì đó là tình trạng môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Về mức độ suy thoái môi trường: Có ba mức độ suy thoái môi trường
tương ứng với ba mức suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Đó là
suy thoái môi trường, suy thoái môi trường nghiêm trọng và suy thoái môi
trường đặc biệt nghiêm trọng. Mức độ suy thoái môi trường đối với từng thành
phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa trên cơ sở số lượng của
thành môi trường bị khai thác, sử dụng so với trữ lượng tự nhiên của nó hoặc
dựa trên mức độ khan hiếm của chính thành phần môi trường ấy trên thực tế.
Như vậy, có thể xác định rõ ba mức độ suy giảm chức năng, tính hữu ích
của môi trường như sau:
Mức 1- Suy giảm: Đây là mức gây thiệt hại thấp nhất có thể được áp
dụng trong trường hợp một thành phần môi trường cụ thể bị ô nhiễm hoặc bị
suy thoái;
Mức 2- Suy giảm nghiêm trọng: Mức thiệt hại này được xác định trong
trường hợp một thành phần môi trường cụ thể bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc bị
suy thoái nghiêm trọng;
Mức 3- Suy giảm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là trường hợp thiệt hại gây
ra thường được xác định tương đối lớn mà biểu hiện của nó là môi trường bị ô
nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị suy thoái đặc biệt nghiêm trọng.
- Căn cứ vào phạm vi, giới hạn và vùng môi trường bị suy giảm chức
năng, tính hữu ích: Theo qui định tại Khoản 2 Điều 131 Luật bảo vệ môi
trường (2005), việc xác định phạm vi, giới hạn môi trường bị suy giảm chức
năng, tính hữu ích gồm có: i) Xác định giới hạn, diện tích của khu vực, vùng
lõi bị suy giảm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; ii) Xác định giới hạn,
sức khoẻ, tài sản và các lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, bao gồm: i)
Những chi phí hợp lý đã chi trả cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn
17
nhân trước khi chết cùng với các khoản chi phí mai táng cho người đó; ii) Các
khoản tiền phát sinh từ nghĩa vụ cấp dưỡng của người bị thiệt hại về tính
mạng; iii) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và
các chức năng bị mất bị giảm sút của người bị thiệt hại về sức khoẻ; iv) Chi
phí hợp lý, cần thiết để phục hồi tài sản, bảo đảm tính năng sử dụng ban đầu
như trước khi bị thiệt hại của tài sản bị thiệt hại; v) Chi phí ngăn chặn, hạn
chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại
- Căn cứ vào những tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại hoặc
những người thân của người bị thiệt hại phải gánh chịu, bao gồm: i) Tiền bù
đắp những tổn thất về tinh thần cho những người thân của người bị thiệt hại
(những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất) trong trường hợp thiệt hại về tính
mạng; ii) Tiền bù đắp những tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại phải
gánh chịu trong trường hợp thiệt hại về sức khoẻ.
- Căn cứ vào các lợi ích bị xâm hại từ những tổn hại về tài sản như: i)
Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản. Chẳng hạn như không thể khai thác
tài sản trong suốt thời gian sử chữa tài sản; ii) Những hoa lợi, lợi tức chắc
chắn thu được nếu không có thiệt hại xảy ra.
Như vậy, đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản và các
lợi ích hợp pháp do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây
ra, khi xác định thiệt hại cần phải dựa vào những tổn thất thực tế, những chi
phí liên quan đến thiệt hại và cả những tổn thất tinh thần cho người bị thiệt
hại cũng như nghiên cứu lợi ích khác mà họ bị mất do tài sản bị tổn thất.
Từ phương diện kinh tế - kĩ thuật, người ta thường sử dụng các cách thức
sau để xác định thiệt hại môi trường:
Một là, so sánh tài sản bị giảm sút, thiệt hại thông qua năng suất, sản
lượng, sức khoẻ trước và sau khi bị ô nhiễm và suy thoái môi trường. Ví dụ,
hậu quả môi trường lâu dài, trở lại hiện trạng ban đầu. Có thể nói rằng, chi phí
bỏ ra để bồi thường sẽ thấp hơn tổng số thiệt hại xảy ra.
19
Ba là, đánh giá thiệt hại thông qua hiệu quả sử dụng. Cách thức này dựa
trên cơ sở bên gây ô nhiễm môi trường phải đền bù cho bên bị ô nhiễm bằng
chi phí mà người bị ô nhiễm phải bỏ ra để xử lý ô nhiễm, để loại bỏ các yếu tố
độc hại như: chi phí lắp đặt hệ thống xử lý khí thải, xử lý nước thải sinh hoạt
và nước sản xuất, nuôi trồng thuỷ sản… chi phí xử lý đất bị ô nhiễm, phục hồi
độ phì nhiêu của đất, chi phí do giá trị sử dụng cơ sở hạ tầng bị giảm sút….
Tổng chi phí này nhằm triệt tiêu nguồn gốc ô nhiễm và bồi thường thiệt hại
do môi trường bị ô nhiễm nên chi phí bỏ ra để khắc phục cao hơn thiệt hại do
ô nhiễm môi trường gây ra.
Bốn là, đánh giá thiệt hại về sức khoẻ do bị ô nhiễm môi trường bao gồm
toàn bộ chi phí y tế như chăm sóc sức khoẻ thường xuyên, khám bệnh định
kỳ, thuốc men… Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, xác định thiệt hại trên chỉ mới
tính đến các thiệt hại trực tiếp và trước mắt cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng
và thông thường được bồi thường trực tiếp cho người bị hại. Trong khi đó,
tổng số chi phí bồi thường do người gây thiệt hại môi trường phải trả bao
gồm: chi phí bồi thường cho người thiệt hại trực tiếp, xử lý, khôi phục lại hiện
trạng môi trường.
Hiện nay, phương pháp được áp dụng phổ biến để xác định bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên là phương pháp so sánh
năng suất, sản lượng bị giảm sút do bị ô nhiễm (phương pháp thứ nhất), kết
hợp với đánh giá thiệt hại sức khoẻ (phương pháp thứ tư). Tuy nhiên, các
phương pháp nên trên chủ yếu là xác định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ
cũng như về tài sản, chứ chưa đề cập đến việc xác định thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên.
1.1.3. Những nguyên tắc xác định thiệt hại về môi trường
Việc xác định thiệt hại về môi trường được thực hiện trên cơ sở các
thiết mọi thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong mọi trường hợp đều
phải được trị giá một cách cụ thể. Trong một số trường hợp nhất định, các thiệt
21
hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra không thể trị giá bằng
những con số thiệt hại nhất định mà có thể được xác định trên cơ sở “ước
lượng thiệt hại”. Tất nhiên sự ước lượng này cũng phải dựa trên những căn cứ
khoa học cụ thể chứ không phải mang tính chất suy đoán cảm tính. Cách xác
định thiệt hại này thường được áp dụng trong những trường hợp không thể định
lượng chính xác thiệt hại bằng một con số cụ thể.
Xác định thiệt hại nói chung là một vấn đề không dễ và lại càng không
đơn giản khi phải xác định các thiệt hại trong lĩnh vực môi trường. Trong quá
trình giải quyết các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, các cơ quan chức năng
của Việt nam đang gặp phải không ít khó khăn về vấn đề này. Đó là:
Thứ nhất, thiệt hại về môi trường nhiều khi là những thiệt hại tiềm ẩn.
Thứ hai, trong một số trường hợp, thiệt hại về môi trường là những thiệt
hại do tác động cộng hưởng.
Thứ ba, hầu hết các cán bộ tư pháp của Việt nam chỉ có trình độ chuyên
môn về khoa học pháp lý mà không có kiến thức về kỹ thuật môi trường,
trong khi xác định thiệt hại về môi trường lại là một công việc đặt ra những
đòi hỏi rất cao về kỹ thuật môi trường.
Thứ tư, quá trình xác định thiệt hại ít khi nhận được sự phối hợp mang
tính chất thiện chí của bên gây thiệt hại làm cho quá trình xác định thiệt hại
khó khăn hơn và mất rất nhiều thời gian.
Xác định thiệt hại về môi trường là một công việc phức tạp và khó khăn,
song lại là một đòi hỏi khá bức thiết, đặc biệt trong điều kiện các tranh chấp
môi trường ngày một gia tăng ở Việt Nam. Đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc
đặt ra cũng như các căn cứ khoa học chính xác là yêu cầu cơ bản của việc xác
định thiệt hại về môi trường nhằm giải quyết tốt các yêu cầu đặt ra khi giải
quyết tranh chấp môi trường, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về môi
kinh tế được ưu tiên giải quyết trước và thậm chí có khi còn được xem như
căn cứ để giải quyết các vụ việc có liên quan tới môi trường. Mặc dù trong
các vụ việc này, giá trị thiệt hại về môi trường có khi lại rất lớn, lâu dài và để
23
lại những ảnh hưởng nghiêm trọng khác. Đối với đa phần các vụ giám định
thiệt hại môi trường, việc bồi thường thiệt hại về kinh tế được ưu tiên giải
quyết trước, trong khi đó, các giá trị thiệt hại về môi trường có thể tiến hành
sau hoặc thậm chí bị bỏ qua. Do đó, một nguyên tắc đặt ra khi giải quyết các
vụ việc có liên quan tới môi trường là cần kết hợp hài hoà các giá trị thiệt hại
về kinh tế, xã hội và môi trường.
- Nguyên tắc trung thực, chính xác và khách quan. Tính trung thực, chính
xác và khách quan là một yêu cầu quan trọng khi giám định thiệt hại môi
trường. Việc giám định đòi hỏi phải được thực hiện bởi một cơ quan hoặc tổ
chức hợp pháp, có đủ năng lực, trình độ chuyên môn cũng như đáp ứng được
các yêu cầu khác về mặt kỹ thuật nghiệp vụ. Thực hiện công tác giám định
cũng đòi hỏi người giám định và các tổ chức giám định phải công tâm khi giải
quyết vấn đề, không thể vì các lý do riêng mà giải quyết vụ việc một cách
thiếu khách quan và không trung thực.
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật và các quy chuẩn chuyên môn. Mặc dù
hiện tại các quy định pháp luật về giám định thiệt hại trong lĩnh vực môi
trường chưa đầy đủ, song công tác giám định nói chung, giám định trong một
số lĩnh vực đặc thù nói riêng lại đang được điều chỉnh bằng những quy định
tương đối cụ thể và chi tiết. Do vậy, cá nhân và tổ chức tiến hành giám định
thiệt hại môi trường phải tuân theo các quy định chung về công tác giám định.
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.
Không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có chức năng giám định thiệt hại môi
trường hoặc có khả năng giám định thiệt hại môi trường. Những tổ chức có
khả năng và chức năng giám định thiệt hại môi trường mới được phép tiến
hành giám định thiệt hại môi trường. Vì vậy, trong phạm vi công việc của
văn bản pháp luật nào quy định toàn diện về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của các chủ thể tiến hành giám định thiệt hại môi trường
mới chỉ có các quy định nằm rải rác trong các văn bản dưới luật chuyên ngành
có liên quan tới các lĩnh vực khác nhau.
25
* Trách nhiệm của chủ thể tiến hành giám định thiệt hại môi trường
và các bên có liên quan
- Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, cơ quan tiến hành giám định: Cá
nhân, tổ chức, cơ quan tiến hành giám định có thể yêu cầu các chủ thể có liên
quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến đối tượng giám định. Những
chủ thể này có toàn quyền chủ động lựa chọn phương pháp cần thiết và phù
hợp để tiến hành giám định theo nội dung yêu cầu giám định. Họ có thể sử
dụng kết quả giám định bổ sung hoặc kết luận chuyên môn do tổ chức, cá
nhân khác thực hiện nhằm phục vụ cho việc cho việc giám định của mình. Có
thể từ chối giám định trong trường hợp không được cung cấp đầy đủ thông
tin, thời gian và tính chính xác của vấn đề có liên quan...
Ngoài trách nhiệm nêu trên, các cá nhân, tổ chức, cơ quan tiến hành giám
định còn phải thực hiện theo đúng nội dung yêu cầu giám định, thời gian giám
định, tuyệt đối giữ bí mật về kết quả giám định, thông tin cũng như tài liệu
giám định... Nếu trong quá trình tiến hành giám định, người giám định thực
hiện các hành vi vi phạm đến các quy định về công tác giám định, vi phạm
trình tự thủ tục giám định, cố ý đưa ra các kết luận sai sự thật thì phải hoàn
toàn chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật...
- Trách nhiệm của người trưng cầu giám định: Người trưng cầu giám
định có quyền trưng cầu tổ chức hoặc cán nhân tiến hành việc giám định, có
quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân tiến hành giám định trả kết luận giám định
đúng nội dung yêu cầu và thời hạn, có quyền yêu cầu chủ thể giám định giải
thích cụ thể về kết luận giám định. Bên cạnh đó, việc trưng cầu phải được ghi
thành văn bản, cần cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu có liên quan đến đối