ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐÀO THẢO LY Tr¸ch nhiÖm båi thêng thiÖt h¹i
do hµnh vi cña ngêi kh¸c g©y ra
theo ph¸p luËt ViÖt nam LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tr¸ch nhiÖm båi thêng thiÖt h¹i
do hµnh vi cña ngêi kh¸c g©y ra
theo ph¸p luËt ViÖt nam Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
THIỆT HẠI DO HÀNH VI CON NGƯỜI GÂY RA 8
1.2.1. Khái niệm về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng 8
1.2.2. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 9
1.3. NGƯỜI PHẢI BỒI THƯỜNG VÀ NGƯỜI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG 14
1.3.1. Pháp nhân - chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại 14
1.3.2. Cá nhân 15
1.4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP MIỄN TOÀN BỘ HOẶC MỘT
PHẦN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 18
1.4.1. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp giới hạn phòng vệ chính đáng 18
1.4.2. Bồi thường thiệt hại trong yêu cầu của tình thế cấp thiết 19
1.4.3. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi 21
1.4.4. Người phải bồi thường có thể được giảm mức bồi thường, nếu
do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế
trước mắt và lâu dài của mình 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH
VI CỦA NGƯỜI KHÁC GÂY RA 25
2.1. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN
PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG 25
2.1.1. Thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có thiệt hại xảy ra 26
2.1.2. Thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có hành vi gây
thiệt hại là hành vi trái pháp luật 29
2.1.3. Thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có mối quan hệ
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
1
MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định được quy định tại
Chương XXI Bộ luật Dân sự năm 2005 với mục đích bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một
loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do
pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hiện nay, pháp
luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ
thể của trách nhiệm dân sự. Nếu trách nhiệm dân sự nói chung được phát sinh
ngay sau khi có hành vi vi phạm pháp luật thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại
chỉ phát sinh chừng nào hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra trong thực tế một
thiệt hại. Hành vi gây thiệt hại rất đa dạng với nhiều hình thức, tính chất, nội
dung khác nhau.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm
Luận văn thạc sĩ Luật học Lê Mai Anh: "Những vấn đề cơ bản về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự".
Về giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, bình luận khoa học, có
thể kể đến những công trình tiêu biểu sau: TS. Đỗ Văn Đại: Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng: Trách nhiệm hạn chế thiệt hại (Bản án và bình luận án),
TS. Đỗ Văn Đại: Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án
và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; TS. Phùng Trung
3
Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng,
Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2009
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí như: Phạm
Kim Anh: "Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 thực trạng và giải pháp hoàn thiện", Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 6/2009, Phạm Văn bằng: "Chế định bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005",
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2013, TS Phùng Trung Tập: "Cần hoàn
thiện chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật
Dân sự", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2005.
Mỗi tác giả đều có một cách khám phá, tiếp cận và khai thác đề tài ở
một góc độ khác nhau. Những vấn đề mà các công trình nghiên cứu, các bài
viết đã kể trên tuy có đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do hành vi của con người gây ra, nhưng chỉ giới hạn ở một số vấn đề cụ
thể hoặc dưới góc độ nguyên tắc. Vì vậy, công trình nghiên cứu này không bị
trùng lắp với công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi của người
khác gây ra đã được quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam năm 2005 và
thực hiện trong thực tiễn tại Tòa án nhân dân trong nhiều năm qua. Tuy nhiên,
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở Chương 1 để so sánh sự khác
nhau giữa bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra và con người gây ra.
- Phương pháp phân tích chứng minh, phương pháp diễn giải và
phương pháp tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn, cụ thể: Ở
Chương 1, các phương pháp này được sử dụng để thể hiện khái niệm, đặc
điểm, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tiếp theo, ở
Chương 2, các phương pháp này được sử dụng để thể hiện nội dung thực
trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
của người khác gây ra trong pháp luật dân sự. Cuối cùng là Chương 3 thì
5
các phương pháp này đã phát huy hiệu quả trong việc trình bày những
vướng mắc, bất cập của pháp luật dân sự liên quan trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do hành vi của con người gây ra nhằm đưa ra một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp thống kê được sử dụng ở Chương 3 để thống kê một số
vụ án của Tòa án và đánh giá một số bản án, quyết định của Tòa án trong xét
xử liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người
gây ra từ đó đưa ra kiến nghị sửa đổi bổ sung.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật dân
sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của người khác gây ra cũng
như thực tiễn thực hiện các quy định này, luận văn đã tìm ra những vướng mắc,
bất cập trong quy định của pháp luật và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật, góp phần thể chế hóa các quy định của hiến pháp và Bộ luật Dân sự.
Giá trị ứng dụng: Luận văn sẽ là công trình nghiên cứu có giá trị tham
khảo cho những người làm công tác pháp luật, sinh viên các trường luật và
cho những người có mối quan tâm đến việc tìm hiểu những quy định của pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ) thì kể từ thời điểm nghĩa vụ bị vi
phạm bên vi phạm có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đó đối với bên bị vi phạm.
Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự đã phát sinh.
Quan hệ pháp luật được hình thành giữa người gây thiệt hại và người bị
thiệt hại được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong đó, nếu hành vi
gây thiệt hại là hành vi khôn thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa
vụ đang tồn tại giữa họ với nhau thì quan hệ giữa họ được gọi là trách nhiệm
do vi phạm nghĩa vụ.
Nếu hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật
nói chung của một người bất kỳ gây ra thiệt hại cho một người bất kỳ khác
(giữa họ chưa tồn tại một quan hệ nghĩa vụ nào) thì quan hệ giữa họ được gọi
là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
7
Như vậy, trách nhiệm dân sự nói chung là sự quy định của luật dân sự
về hậu quả pháp lý mà người có hành vi vi phạm quy tắc xử sự phải gánh chịu
hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên có
quyền dân sự bị xâm phạm.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ
thể của trách nhiệm dân sự. Nếu trách nhiệm dân sự nói chung được phát sinh
ngay sau khi có hành vi vi phạm pháp luật thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại
chỉ phát sinh chừng nào hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra một thiệt hại
trong thực tế. Hành vi gây thiệt hại rất đa dạng với nhiều hình thức, tính chất,
nội dung khác nhau.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm
bồi thường thiệt hại được hình thành giữa các chủ thể, trong đó người có hành
vi trái với quy định của pháp luật nói chung mà gây thiệt hại phải bồi thường
thiệt hại cho người bị thiệt hại. Điều 604 Bộ luật Dân sự quy định: "Người
nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
1.2. CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO HÀNH VI CON NGƯỜI GÂY RA
1.2.1. Khái niệm về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải
bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường. Các điều kiện phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xem xét trong mối quan hệ biện
chứng, thống nhất và đầy đủ. Bộ luật Dân sự không quy định cụ thể các điều
kiện làm phát sinh trách nhiệm. Xuất phát từ những quy định, những nguyên
tắc của pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại phát sinh khi có bốn điều kiện được quy định tại Nghị quyết số
9
03/2006/NQ-HĐTPTANDTC ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy
định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại (sau đây gọi tắt là Nghị quyết
số 03/2006/NQ).
1.2.2. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.2.2.1. Có hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể
hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định (yêu cầu)
của pháp luật. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi
trái pháp luật là những hành vi xâm hại tới tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được
thể hiện dưới dạng hành động. Tuy nhiên, những hành vi gây thiệt hại do xâm
phạm các yếu tố trên nhưng được thực hiện phù hợp với quy định của pháp
luật sẽ không bị coi là hành vi trái pháp luật và vì vậy, người thực hiện hành
vi đó không phải bồi thường thiệt hại. Chẳng hạn: hành vi gây thiệt hại trong
giới hạn của phòng vệ chính đáng hoặc gây thiệt hại đúng với yêu cầu của
- Thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại mà dựa trên suy đoán khoa học
mới có thể xác định được thiệt hại. Thiệt hại này được coi là thu nhập thực tế
bị mất, bị giảm sút, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất.
Đối với loại thiệt hại này nếu chỉ mang tính giả định, không có cơ sở khoa
học chắc chắn để xác định thì không được đưa vào khoản thiệt hại để áp dụng
trách nhiệm bồi thường.
1.2.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của
con người và thiệt hại xảy ra
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, là mối liên hệ phổ biến giữa
các sự vật hiện tượng. Bằng cặp phạm trù này, triết học duy vật biện chứng đã
chỉ ra rằng trong quá trình phát sinh và phát triển của các cự vật, hiện tượng
trong tự nhiên cũng như trong xã hội thì giữa chúng luôn có mối quan hệ nội
11
tại, tất yếu. Sự vật, hiện tượng này ra đời từ một hoặc nhiều sự vật, hiện tượng
khác và ngược lại. Tuy nhiên, xác định mối tương quan nhân quả trong quá
trình phát sinh, phát triển của các sự vật, hiện tượng là một vấn đề hết sức
phức tạp bởi một sự vật, hiện tượng xuất hiện có thể là kết quả của một sự vật
hiện tượng khác nhưng có thể là kết quả của sự vật hiện tượng trong đó, vai
trò, ý nghĩa của mỗi sự vật, hiện tượng đối với sự xuất hiện của sự vật, hiện
tượng mới là hoàn toàn khác nhau. Trong hàng loạt các sự vật, hiện tượng
được coi là nguyên nhân làm xuất hiện sự vật hiện tượng mới thì có những sự
vật hiện tượng là nguyên nhân trực tiếp, nhưng sự vật hiện tượng khác lại là
nguyên nhân gián tiếp. Dựa vào mối liên hệ này, khoa học pháp lý nói chung
và khoa học pháp luật dân sự nói riêng xác định rằng: Chỉ những thiệt hại nào
được coi là hậu quả (kết quả) tất yếu, không thể tránh khỏi của hành vi trái
pháp luật thì người gây thiệt hại đó mới phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ có thể được áp dụng khi
xác định chính xác hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại. Hay
- Lỗi cố ý: Một người bị coi là có lỗi cố ý nếu họ đã nhận thức rõ hành
vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó. Nếu
người này mong muốn thiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ
là lỗi cố ý trực tiếp. Nếu họ không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc
cho thiệt hại xảy ra thì lỗi của họ là lõi cố ý gián tiếp.
- Lỗi vô ý: người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi vô ý
nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại
mặc dù họ phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra khi họ thực hiện
hành vi đó. Nếu người này cho rằng thiệt hại không xảy ra thì lỗi của họ được
xác định là lỗi vô ý cẩu thả. Nếu họ cho rằng có thể ngăn chặn được thiệt hại
thì lỗi của họ là lỗi vô ý vì quá tự tin.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại
Điều 604 Bộ luật Dân sự, cụ thể:
13
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp
pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp
nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại
phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy
định đó [25].
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được
xây dựng trên nguyên tắc người gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi
thường. Khi một người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
dân sự gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản… của cá nhân hoặc pháp nhân thì phải có trách nhiệm bồi thường. Có hai
trường hợp là cố ý gây thiệt hại và vô ý gây thiệt hại:
- Cố ý gây thiệt hại là một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây
do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Nếu
pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc
gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật" [25].
Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân
trong giao dịch dân sự. Trong quan hệ dân sự pháp nhân có thể đại diện do
pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc
được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện.
Pháp nhân chỉ bồi thường thiệt hại trong trường hợp người của pháp nhân
quản lý gây thiệt hại.
Ví dụ: A là lái xe của công ty B, trên đường đi công tác gây tai nạn.
Trong trường hợp này thì công ty B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Sau khi
pháp nhân đã bồi thường có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải hoàn trả
tiền bồi thường đó.
15
Pháp nhân phải bồi thường khi người của pháp nhân thực hiện nhiệm
vụ của pháp nhân giao. Nếu người của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ được
giao nhưng việc gây thiệt hại vượt quá phạm vi pháp nhân giao cho hoặc lợi
dụng quyền hạn pháp nhân giao thực hiện hành vi gây thiệt hại với mục địch
cá nhân… thì pháp nhân không phải bồi thường mà người của pháp nhân phải
tự mình bồi thường thiệt hại.
Pháp nhân hiểu theo nghĩa rộng là cơ quan nhà nước là các tổ chức
chính trị - XH, XH phải bồi thường theo Điều 618, 619, 620 và các loại
hình doanh nghiệp phải bồi thường khi người của PN gây thiệt hại khi thực
hiện nhiệm vụ của PN mà gây thiệt hại cho người khác
1.3.2. Cá nhân
Cá nhân là những người có trách nhiệm bồi thường thay cho người gây
thiệt hại như cha mẹ bồi thường thay cho con chưa thành niên, người quản lý
tài sản riêng do được hưởng thừa kế, được tặng cho tài sản. Nhưng về mặt
pháp lý thì khi những người này gây thiệt hại thì cha, mẹ vẫn là những người
phải bồi thường thay, chỉ trừ khi việc bồi thường còn thiếu thì mới lấy tài sản
riêng của con bồi thường cho đủ.
"Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì
phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường
thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình" [25].
Theo luật Bộ luật lao động thì: Người từ đủ mười lăm tuổi trở lên có
thể được tham gia vào quan hệ lao động để có thu nhập và có tài sản riêng có
thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha, mẹ quản lý và cha, mẹ hoàn
toàn có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con. Tuy nhiên, những người
ở độ tuổi này chưa đầy đủ về năng lực hành vi dân sự nên phải có người đại
diện cho mình trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự; vì vậy,
cha, mẹ của người từ đủ mười lăm đến dưới mười tám tuổi vẫn phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do con mình gây ra.
17
Xem xét hai trường hợp người dưới mười lăm tuổi và người từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại với trường hợp người gây
thiệt hại là người mất năng lực hành vi dân sự thì nếu những người này có cá
nhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân tổ chức đó được dùng tài sản của người
được giám hộ để bồi thường. Khoản 3 Điều 606 Bộ luật Dân sự quy định:
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự
gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng
tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được
giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì
người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người
giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì
không phải lấy tài sản của mình để bồi thường [25].
Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích
chính đáng của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính
đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần
thiết người đang có hành vi xâm các phạm lợi ích nói trên. Phòng
vệ chính đáng không phải là tội phạm [26].
Nếu một người có hành vi chống trả lại hành vi gây thiệt hại của người
khác và hành vi chống trả lại này được coi là phòng vệ chính đáng thì hành vi
chống trả đó không bị coi là hành vi trái pháp luật, do đó người thực hiện
hành vi chống trả không phải bồi thường thiệt hại là đương nhiên. Theo khoản
1 Điều 613 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "người gây thiệt hại trong trường
hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại" [25].
Rõ ràng, nếu người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng thì
không bị coi là có lỗi và không bị coi là hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, để
xác định được một hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng cần
chú ý các điều kiện sau:
19
Thứ nhất: Có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước,
lợi ích công cộng, lợi ích của cá nhân
Thứ hai: Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc
có nguy cơ gây thiệt hại cho đối tượng bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra mà
người bị thiệt hại mới có hành vi chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì
không thể coi là phòng vệ chính đáng.
Thứ ba: Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người
có hành vi xâm hại (tính mạng, sức khỏe, …), nếu gây thiệt hại cho người không
có hành vi xâm hại thì không coi là phòng vệ chính đáng mà có thể coi là do yêu
cầu của tình thế cấp thiết nếu thỏa mãn đủ các điều kiện nhất định.
Thứ tư: Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng
phải cần thiết và tương xứng với hành vi xâm hại, nếu không cần thiết hoặc