TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 ( 2011 - 2015)
Đề tài:
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI
LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Tăng Thanh Phương
Dương Ngọc Thúy
Bộ môn: Luật Tư Pháp
MSSV: 5115759
Lớp: Luật Tư pháp 1- K37
Cần Thơ, tháng 11 / 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến Cô Ths. Tăng
Thanh Phương – Giảng viên Bộ môn Luật tư pháp, Khoa Luật –
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014
Chữ ký giảng viên hướng dẫn
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
..........................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
1.2.1. Khái niệm ................................................................................................... 14
1.2.2. Đặc điểm .................................................................................................... 15
1.3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi
trường đất ............................................................................................................. 17
1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất..................................................... 22
1.5. Ý nghĩa quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành
vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất.............................................................. 25
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
2.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm,
suy thoái môi trường đất...................................................................................... 28
2.1.1. Có thiệt hại xảy ra ..................................................................................... 29
2.1.2. Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật....................................................... 32
2.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật ............. 34
2.1.4. Có lỗi của người gây thiệt hại.................................................................... 36
2.2. Xác định thiệt hại được bồi thường do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi
trường đất ............................................................................................................. 37
2.2.1. Các loại thiệt hại được bồi thường ............................................................ 37
2.2.1.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm ........................................................ 37
2.2.1.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ..................................................... 39
2.2.1.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm ................................................... 41
2.2.2. Giám định thiệt hại trong ô nhiễm, suy thoái môi trường đất ..................... 44
2.3. Cách thức bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường
đất.......................................................................................................................... 45
2.3.1. Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy
thoái môi trường đất............................................................................................ 45
3.3. Phương hướng hoàn thiện chung các quy định của pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất ....
............................................................................................................................... 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm đất gây ra những tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, môi
trường tự nhiên và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Hậu quả của sự ô
nhiễm này dẫn đến xung đột lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân và phát sinh tranh chấp
môi trường. Hiện nay, có nhiều biện pháp khác nhau được đưa ra nhằm ngăn chặn, hạn
chế tình trạng này, trong đó các biện pháp pháp lý với nội dung chính là quy định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đang được
Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Pháp luật Việt Nam đã quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của cá nhân, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật
dân sự, Luật bảo vệ môi trường.Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì trách
nhiệm này được quy định là một trong những trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là loại trách nhiệm phát sinh dưới sự tác động
trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà không cần có sự thỏa thuận trước giữa các
chủ thể.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
gây ra là một trong những dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm, suy
thoái môi trường nói chung được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên trong Luật Bảo vệ môi
trường năm 1993, theo đó “ tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của
mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật ”. Nhưng phải đến khi Luật
thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất, góp phần đảm bảo việc nhận
thức và áp dụng quy định của pháp luật được thống nhất trên thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Nói đến thiệt hạị trong lĩnh vực môi trường nói chung và thiệt hại do ô nhiễm,
suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng là nói đến hai loại thiệt hại. Thứ nhất thiệt
hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Loại thiệt hại này thường gắn
liền với chủ thể bị thiệt hại là nhà nước, người đại diện cho tài sản thuộc sở hữu toàn
dân. Loại thiệt hại thứ hai lại thường gắn liền với chủ thể bị thiệt hại là tổ chức, cá
nhân cụ thể. Đó là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu
ích của môi trường gây ra. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định 113/2010/NĐCP thì “ Việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng của
con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của môi
trường bị ô nhiễm, suy thoái được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự”. Tuy
nhiên, đối với việc xác định thiệt hại do suy giảm, chức năng tinh hữu ích của môi
trường, lại chịu sự điều chỉnh theo quy định của pháp luật về môi trường, cụ thể Điều
131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
Trong bài luận văn này người viết chỉ đi sâu nghiên cứu về “ Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất” được điều chỉnh
chung trong luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nghĩa là
chỉ tập chung nghiên cứu về vấn đề bồi thường thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng
của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do sự suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường đất gây ra. Người viết chủ yếu dựa vào những quy
định của Bộ luật dân sự năm 2005, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và Nghị quyết
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nghị định 113/2010/NĐ-CP quy định về xác định
thiệt hại với môi trường, cùng một số văn bản luật liên quan.
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT
1.1. Các khái niệm có liên quan về ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
1.1.1. Khái niệm môi trường
Môi trường là một khái niệm đa dạng và có nội hàm vô cùng rộng, được sử dụng
trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: môi trường xã hội, môi trường sư phạm, môi trường
lao động, môi trường giáo dục, môi trường sinh viên, môi trường thiên nhiên v.v. Do vậy,
hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “ môi trường”, cụ thể như sau:
Môi trường“ là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó
con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh
vật ấy"1;
Môi trường “ là sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”2;
Môi trường “ là toàn bộ hoàn cảnh, vật thể hoặc điều kiện bên ngoài vây quanh
tác động qua lại lẫn nhau”3;
Môi trường “ là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi
chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay xã hội”4;
Môi trường “ là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo
ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai
thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con
người”5;
Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu
như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là
những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Theo Khoản 1 Điều
3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 khái niệm môi trường được định nghĩa như sau: “
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có
ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ”.
triển, và luôn chịu sự tác động của con người.
1.1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường
Môi trường được hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có nằm
ngoài khả năng quyết định của con người. Con người chỉ có thể tác động đến chúng ở
chừng mực nhất định. Do đó, những tác động xấu của con người lên môi trường nhằm
phục lợi ích của mình tất yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Vậy ô nhiễm môi trường là như thế nào ?Nhìn chung, hiện nay có rất nhiều định
nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường như: đối với góc độ sinh học, thì khái niệm này
chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi
theo chiều hướng xấu đi. Đối với góc độ kinh tế học, thì ô nhiễm môi trường là sự thay
đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, mà qua
đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài tới sức khỏe con người, các loài động thực vật
và các điều kiện sống khác.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm ô nhiễm môi trường được hiểu như sau: “ Ô nhiễm
môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn
môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” (Khoản 6 Điều 3 Luật bảo vệ
môi trường năm 2005). Ví dụ: nước thải chưa qua xử lý từ các khu công nghiệp làm ô
nhiễm nguồn nước sông như sông Thị Vải, kênh Ba Bò, khói bụi từ các phương tiện giao
thông, từ các nhà máy, xí nghiệp, việc sử dụng thuốc trừ sâu vô tội vạ chảy ra các dòng
sông, gây ra những căn bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, ung thư …
Theo Khoản 5 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “ Tiêu chuẩn môi
trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về
hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”.
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
5
SVTH: Dương Ngọc Thúy
nhiễm trong trường hợp hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn
về chất lượng môi trường. Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một
hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần
trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về
chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên. Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi
hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng
môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác
vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên”.
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
6
SVTH: Dương Ngọc Thúy
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
1.1.3. Khái niệm ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất là gì? Theo cách hiểu thông thường: “ Ô nhiễm môi trường
đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô
nhiễm"6. Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi
các nhân tố sinh thái vượt qua ngoài phạm vi chống chịu của sinh vật. Đất được xem là ô
nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch
của môi trường đất. Trong pháp luật Việt Nam tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư số
35/2014/TT-BTNMT, khái niệm ô nhiễm môi trường đất được định nghĩa như sau: “ Ô
nhiễm đất là sự gia tăng hàm lượng của một số chất, hợp chất so với tiêu chuẩn Việt Nam
( TCVN), quy chuẩn Việt Nam ( QCVN) cho phép làm nhiễm bẩn đất”. Ngoài ra, ô nhiễm
môi trường đất còn có thể được hiểu là quá trình làm biến đổi hoặc thải vào đất các chất ô
nhiễm làm thay đổi tính chất và cấu trúc (sự thay đổi về thành phần các tính vật chất lý,
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
Ô nhiễm đất do việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mạng
lưới giao thông, như việc sử dụng một phần đất để xây dựng đường xá, các khu đô thị, và
khu công nghiệp đã làm thay đổi kết cấu của đất.
Ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt của con người hàng ngày: chất thải rắn đô thị
nếu không quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là chất thải y tế
và các loại chất thải có tính độc hại khác chưa được xử lý triệt để trước khi thải ra ngoài.
Ví dụ: Theo khảo sát mới đây về tình trạng ô nhiễm môi trường đất của Viện Nước,
Tưới tiêu và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) với khoảng 70% dân
số ở khu vực nông thôn, mỗi năm phát sinh 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, khoảng 1.300
triệu mét khối nước thải sinh hoạt và khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật.
Trong đó, khoảng 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt và hầu hết lượng vỏ bao
thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom xử lý hợp vệ sinh, xả trực tiếp ra môi trường.
Còn tại các vùng phía Nam, đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi được sử
dụng làm nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm sinh học nghiêm trọng môi trường đất 7.
Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất ở nước ta hiện nay
Mặc dù công tác bảo vệ môi trường đã được lồng ghép trong các văn bản chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, song việc triển khai thực hiện trên
thực tế còn hạn chế nên môi trường ở Việt Nam vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhất là
môi trường đất đang có xu hướng bị ô nhiễm và suy thoái ngày càng nghiêm trọng.
Theo niên giám thống kê năm 2009, tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước là trên
33 triệu ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 26,1 triệu ha; đất
sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp 3,7 triệu ha; 3,3 triệu ha còn lại là tổng diện tích
đất chưa được đưa vào sử dụng.
Điểm đáng lưu ý là phần lớn số diện tích chưa được sử dụng đều đã và đang bị suy
thoái, hoang mạc hóa hoặc bị mất giá trị sử dụng do không được khai thác hợp lý. Không
ít diện tích đất thuộc quỹ đất sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp cũng bị ô nhiễm
độ cao như chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công
nghiệp sản xuất hóa chất.
Bên cạnh các hoạt động gây ô nhiễm nêu trên, lượng hóa chất tồn lưu sau chiến
tranh cũng là nguồn ô nhiễm độc hại ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đất. Theo Báo
cáo môi trường quốc gia năm 2010, có đến 77 triệu lít chất diệt cỏ đã được quân đội Mỹ
sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam, trong đó các chất da cam chứa hàm lượng lớn
chất siêu độc dioxin chiếm gần một nửa. Khu vực bị nhiễm dioxin chủ yếu tập trung tại
miền Nam Việt Nam, đặc biệt là tại các khu vực sân bay quân sự. Hơn 40 năm sau chiến
tranh, nồng độ dioxin tại nhiều vùng đã giảm mạnh, tuy nhiên tại các khu vực trọng điểm
thì hàm lượng chất độc này vẫn còn rất cao, ở mức trên 300.000 ppt TEQ8.
Cụ thể, tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa (Đồng Nai) và sân bay Phù Cát (Bình Định)
vẫn còn tồn dư hàng trăm nghìn m3 đất và bùn bị nhiễm chất độc da cam với hàm lượng
dioxin gấp hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần so với nồng độ cho phép, tiếp tục tác động
xấu đến sức khỏe con người và môi trường tại các khu vực lân cận. Ngoài ra còn có 335
điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật trên cả nước đã được xác định, nhưng chưa giải quyết
dứt điểm.
Hiện nay ở khu vực nông thôn, môi trường đất chủ yếu bị ô nhiễm do sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật thiếu bền vững. Hàng năm ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng
trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5 - 3 triệu tấn, trong đó có đến 50 - 70% không
được cây trồng sử dụng thải ra môi trường.
Còn ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề, môi trường đất cũng bị
ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Hiện chỉ có 60% khu công
nghiệp có có hệ thống xử lý nước thải. Hầu hết nước thải sinh hoạt đô thị đều không được
xử lý mà xả thẳng ra môi trường nên hàm lượng kim loại nặng trong đất ở một số làng
nghề đã xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép.
8
ThienNhien.Net, Còn nhiều thách thức trong xử lý ô nhiễm và suy thoái đất, Hồng Ngọc,
[ngày truy
cập 24/9/2014].
lần so với các vùng trồng lúa. Các loại thuốc trừ cỏ, thuốc diệt chuột và các thuốc khác
hiện được sử dụng với số lượng ngày càng tăng. Ngoài ra, hoạt động khai thác cát sỏi trên
sông Cầu, sông Đuống không theo quy hoạch có thể gây sạt, trượt các bãi bồi, thềm sông
làm giảm diện tích đất canh tác, sinh hoạt.
Theo kết quả điều tra, phân tích các mẫu đất trên địa bàn tỉnh của Trung tâm Quan
trắc Tài nguyên và Môi trường cho thấy hàm lượng chì (Pb), đồng (Cu), kẽm (Zn)… đều
vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là tại các làng nghề, khu, cụm công nghiệp mức độ ô
nhiễm tăng theo từng năm. Đơn cử như hàm lượng Pb trong đất tại các khu vực cụm công
nghiệp, khu công nghiệp, làng nghề: có 13/42 mẫu bị ô nhiễm, trong đó 8 mẫu ô nhiễm
nhẹ, 5 mẫu ô nhiễm nặng vượt quy chuẩn cho phép tới gần 3 lần. Trên sông Cầu, chỉ số
Pb có 5/10 mẫu đất bị ô nhiễm, chỉ số Cu có 1/10 mẫu có dấu hiệu ô nhiễm… Theo dự
báo của các cơ quan nghiên cứu thì mức độ ô nhiễm môi trường đất vào những năm 2015,
2020 sẽ tăng lên từ 2-3 lần so với hiện tại và các chỉ số ô nhiễm sẽ tịnh tiến với tốc độ
phát triển công nghiệp và đô thị hóa9.
9
Bắc Ninh ONLINE, Hiện trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường đất, Thái Uyên,
[ngày truy
cập 25/9/2014].
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
10
SVTH: Dương Ngọc Thúy
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
Tại Đồng Nai, theo kết quả Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Đồng Nai
Tin Môi trường, Một số khu công nghiệp ở Đồng Nai có hàm lượng kim loại nặng vượt mức cao trong đất,
[ngày truy cập 25/9/2014].
11
Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay – Thực trạng và một
số giải pháp khắc phục,Trần Đắc Hiến,
[ ngày truy cập 25/9/2014].
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
11
SVTH: Dương Ngọc Thúy
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
1.1.4. Khái niệm suy thoái môi trường đất
Theo khoản 7 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005 thì “ Suy thoái môi trường là sự
suy giảm về chất lượng và số lượng thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với
con người và sinh vật”.
Thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí,
nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái,
các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác12.
Một thành phần môi trường bị coi là suy thoái khi có đầy đủ các dấu hiệu có sự suy
giảm cả về số lượng và chất lượng thành phần môi trường đó hoặc sự thay đổi về số lượng
sẽ kéo theo sự thay đổi về chất lượng các thành phần môi trường và ngược lại ( ví dụ : số
lượng động vật quý hiếm bị suy giảm do săn bắt quá mức hay diện tích rừng bị thu hẹp sẽ
kéo theo sự suy giảm về chất lượng của đa dạng sinh học);gây ảnh hưởng xấu, lâu dài đến
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
Theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường năm 2005, ô nhiễm môi trường đất
và suy thoái môi trường đất có một số điểm chung: cả ô nhiễm và suy thoái đất đều làm
cho môi trường bị mất cân bằng sinh thái dẫn đến những biến đổi cho môi trường nói
chung và trong môi trường đất nói riêng. Môi trường đất bị biến đổi gây ra thiệt hại về tài
sản, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người. Tuy nhiên, nếu xét về mức độ
nguy hiểm hay tác động đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của con người thì ô nhiễm môi
trường đất sẽ nguy hiểm hơn và có tác động nhanh hơn so với suy thoái môi trường đất.
Môi trường đất bị suy thoái, khi vượt mức suy thoái thì môi trường đất bị gọi là ô nhiễm.
Nguyên nhân gây ra suy thoái môi trường đất
Đất có thể bị suy thoái do các tác động của tự nhiên như: mưa, nắng, nhiệt độ, gió,
bão, lũ lụt, rét ,lốc xoáy, động đất, khô hạn, sống thần, núi lỡ, sông suối thay đổi dòng
chảy, nước biển xâm nhập… bên cạnh những nguyên nhân suy thoái đất từ tự nhiên thì
nguyên nhân suy thoái đất do con người gây nên( suy thoái đất có nguồn gốc nhân tạo) lại
rất phổ biến và đáng chu ý hiện nay bao gồm các nguyên nhân sau đây: quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hóa đã gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất làm cho đất
bị xói mòn, nén chặt…, nước thải công nghiệp có chứa các chất độc hại như những kim
loại nặng (Pb, Hg, As, Cd…) và các chất tẩy rửa, thuốc sát trùng , các chất hữu cơ khó
phân giải, khí thải từ các nhà máy ( SO2, NOx…), làm cho đất bị suy thoái và ô nhiễm
nghiêm trọng, cấu trúc đất bị phá hủy do hoạt động xây dựng. Hoạt động sản xuất nông
nghiệp của con người cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng suy thoái đất như: sử dụng
các hóa chất độc hại, phân bón , thuốc trừ sâu … canh tác trên đất dốc lạc hậu ( cạo sạch
đồi, không chống xói mòn, không luân canh…), chế độ canh tác độc canh, bỏ hoang hóa,
không bón phân, hoặc bón phân không hợp lý, do hành vi khai thác quá mức các thành
phần trong đất dẫn đến làm hủy hoại các nguồn tài nguyên trong đất. Ngoài ra, môi trường
đất cũng có thể bị suy thoái do các nguyên nhân : chặt đốt rừng, ô nhiễm dầu, chất phóng
xạ, chất thải, nước thải từ hoạt động sinh hoạt của con người…
Hiện trạng suy thoái môi trường đất ở nước ta hiện nay
sinh hoạt của các khu dân cư hầu hết không được xử lý, xả trực tiếp ra môi trường)14.
1.2. Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô
nhiễm, suy thoái môi trường đất
1.2.1. Khái niệm
Cho đến nay, ở nước ta chưa được một văn bản luật nào đưa ra định nghĩa về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra .Vậy
trách nhệm bồi thượng thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm. suy thoái môi trường đất gây ra
là gì? Trước tiên nếu muốn hiểu rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô
nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra, thì cần hiểu như thế nào là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra?.
Theo Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường như sau: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi
trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp
người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”. Từ những quy định chung của pháp luật về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và những quy định của Luật bảo vệ môi
trường năm 2005 về bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm ,suy thoái môi trường (
từ Điều 131 đến Điều 135, Mục 2) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
môi trường được xác định là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm dân sự ngoài hợp
đồng (hay còn gọi là nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại), là hình thức trách nhiệm
13
KhoaHoc.com.vn, 28% diện tích đất của Việt Nạm bị hoang hóa, Hồng Vân,
[
ngày truy cập 26/9/2014].
14
Tinmoi.vn, Môi trượng bị ô nhiễm nặng,
[ ngày truy cập 28/9/2014].
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị thiệt hại.
1.2.2. Đặc điểm
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra thuộc một loại
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, ngoài những đặc điểm chung
như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi
phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện
bằng cưỡng chế nhà nước… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm,
suy thoái môi trường đất gây ra còn có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường
đất gây ra cũng giống như các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác,
là một dạng của trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Khi một
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
15
SVTH: Dương Ngọc Thúy
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt
hại chính là một quan hệ tài sản được luật dân sự điều chỉnh ở Điều 307 và chương XXII
Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự. Đây là trách
dân sự ngoài hợp đồng và theo pháp luật dân sự thì chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện
nhất định đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, có mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy
nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại này là một trong những trường hợp đặc biệt. Theo
đó, trách nhiệm bồi thường phát sinh là trách nhiệm pháp lý nâng cao không cần thiết đòi
hỏi phải chứng minh yếu tố lỗi của chủ thể gây thiệt hại. Nghĩa là, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong trường hợp này sẽ phát sinh mà không cần điều kiện lỗi.
GVHD: Ths. Tăng Thanh Phương
16
SVTH: Dương Ngọc Thúy
LVTN: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất
Chủ thể có hành vi làm ô nhiễm và suy thoái môi trường đất phải có trách nhiệm
bồi thường theo quy định của pháp luật. Theo quy định taị Điều 624 Bộ luật dân sự năm
2005 “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi
trường không có lỗi”. Căn cứ từ quy định tại điều luật trên, thì chủ thể có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong trường hợp này là cá nhân, pháp nhân, tổ chức kể cả trường hợp
thiệt haị xảy ra hoàn toàn không có lỗi của người gây thiệt hại. Như vậy, đối với thiệt hại
ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra nói chung cũng như thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái
môi trường đất gây ra nói riêng, yếu tố lỗi không phải là yếu tố điều kiện quyết định đến
việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường. Riêng
trong trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm thì cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với các bên có liên quan để làm rõ
trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường
đất gây ra có mối quan hệ nhất định với trách nhiệm khắc phục tình trạng môi trường do
bị ô nhiễm. Thông thường, trong các quan hệ pháp lý khác có liên quan đến bồi thường
thiệt hại, người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra và được
giải phóng khỏi quan hệ với người bị hại. Nhưng trong lĩnh vực môi trường, người làm ô
nhiễm môi trường gây thiệt hại thường phải thực hiện đồng thời cả hai biện pháp: khắc
phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm và bồi thường thiệt hại về môi trường .
Ví dụ: việc công ty Nicotex Thanh Thái chôn thuốc trừ sâu vào môi trường đất đã bị
Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận
về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây
thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.
Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc
người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
khác thay đổi mức bồi thường.
Theo quy định trên, nguyên tắc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi
trường đất gây ra gồm các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại
Nguyên tắc bồi thường theo thỏa thuận đây là một nguyên tắc cơ bản mang tính
đặc thù của các quan hệ dân sự trong những nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong đó có bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra.
Được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết
03/2006/NQ-HĐTP, theo Nghị quyết thì: “ Cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên
về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận
đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội”17. Bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận phản
ánh một cách rõ ràng nhất bản chất của quyền dân sự là “ tự do, tự nguyện cam kết,
thỏa thuận”. Sự thỏa thuận này thể hiện mong muốn, ý chí của các bên và trên thực tế
đây là phương pháp hữu hiệu nhất để nhanh chóng khắc phục thiệt hại đã xảy ra và
phù hợp với quyền lợi của các bên. Việc thỏa thuận thiệt hại có thể bao gồm những nội
dung sau:
Thỏa thuận về mức bồi thường: khi có thiệt hại xảy ra trước hết các bên có
quyền được tự do thỏa thuận mức bồi các thường thiệt hại. Mức bồi thường theo thỏa
thuận có thể cao hơn, thấp hơn hoặc ngang bằng với thiệt hại thực tế xảy ra. Đối với
những thiệt hại về môi trường, mức bồi thường theo thỏa thuận thường có thể bằng
17