ĐẠI HỌC QUỐC GIA
KHOA LUẬT
&
BÙI ĐỨC HIỂN
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT
HẠI DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA
KHOA LUẬT
&
Tôi xin chân thành cảm ơn: TS. Nguyễn Am Hiểu, Phó Vụ trưởng Vụ pháp
luật Kinh tế - Dân sự, Bộ Tư pháp; các thầy giáo, cô giáo Khoa Luật, Đại học
quốc gia Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật; đồng nghiệp, gia đình và bạn
bè - những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Bùi Đức Hiển
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác
giả. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
1.1. Thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trƣờng: khái niệm, đặc điểm, phân
loại …………………………………………………………………… ………… 8
1.1.1. Khái niệm thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường…………………… 8
1.1.2. Đặc điểm của thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường……… 12
1.1.3. Phân loại thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường ……………… 14
1.2. Xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trƣờng: khái niệm, đặc
điểm, phân loại……………………………………………………………………15
1.2.1. Khái niệm xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường………….15
1.2.2. Đặc điểm của xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trường………………………………………………………………………………16
1.2.3. Phân loại xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường ………… 17
1.2.4. Vai trò của xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường… … 19
1.3. Điều chỉnh pháp luật về xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trƣờng………………………………………………………………………… …21
1.4. Các nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trƣờng gây
ra 23
1.4.1. Nguyên tắc người làm ô nhiễm gây thiệt hại phải bồi thường 23
1.4.2. Nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên trong việc xác định thiệt hại do ô nhiễm
môi trường 24
1.4.3. Nguyên tắc thiệt hại được xác định kịp thời và bằng với thiệt hại xảy ra trên
thực tế 24
1.4.4. Nguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan trong việc xác định thiệt hại do hành
vi làm ô nhiễm môi trường…… 25
1.4.5. Nguyên tắc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ tiên tiến có độ
chính xác cao trong quá trình xác định thiệt hại 25
1.5. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về xác định thiệt hại do hành vi
làm ô nhiễm môi trƣờng 27
1.51. Từ năm 1993 trở về trước 27
1.5.2. Từ 1993 đến nay……………………………………………… 28
CHƢƠNG 2. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DO
San Miguel Pure Foods Việt Nam gây 80
2.5.4. Một số nhận xét qua ba vụ việc trên 84
CHƢƠNG 3. XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH
THIỆT HẠI DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG……………… 92
3.1. Nhu cầu và quan điểm của Đảng về việc hoàn thiện những vấn đề pháp lý
quanh việc xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trƣờng ở nƣớc ta
hiện nay ……………………………………………………… 92
3.2. Các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xác định thiệt hại do
hành vi làm ô nhiễm môi trƣờng ở Việt Nam hiện nay…………… 96
3.2.1. Những giải pháp chung về xây dựng và thực thi pháp luật do hành vi làm ô
nhiễm môi trường……………………… ………………… 97
3.2.2. Về xác định thiệt hại đối với suy giảm chức năng, tính hữu ích do hành làm ô
nhiễm môi trường 99
3.2.3. Về xác định thiệt hại đối với tài sản, sức khỏe, tính mạng và các lợi ích hợp
pháp khác do hành vi làm ô nhiễm môi trường 108
3.2.4. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo đảm thực hiện trách nhiệm về bồi
thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường có hiệu
quả 111
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỔ
Số hiệu,
Sơ đồ
Tên Sơ đồ
Trang
Sơ đồ 2.1
Kết quả tính toán lan truyền bằng mô hình MIKE
21
72
Sơ đồ 2.2
Sự biến thiên của DO theo quãng đường đo trên
sông Thị Vải tương ứng với các lần đo tháng
8/1996, 3/1997, 10/19888, 5/2006, 8/2008, 3/2009
và 11/2009
72
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời, phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường đã giải phóng mạnh
mẽ lực lượng sản xuất và mang lại nhiều thành tựu lớn cho nhân loại về kinh tế, xã
hội, khoa học, kỹ thuật, văn hóa Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, những
khuyết tật, những mặt trái của kinh tế thị trường cũng bộc lộ ngày càng rõ nét: sự
chênh lệch giàu nghèo, thất nghiệp, lối sống chạy theo đồng tiền, đặc biệt là ÔNMT,
gây thiệt hại lớn đối với môi sinh và sức khỏe, tính mạng, lợi ích hợp pháp khác của
cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, Điều đó đặt ra trách nhiệm của các cơ sở gây ô
nhiễm phải bồi thường những thiệt hại do hành vi làm ÔNMT mà mình gây ra. Ở
nước ta hiện nay các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH, đặc biệt là pháp luật
về XĐTH do hành vi làm ÔNMT còn thiếu và yếu. Để đảm bảo quá trình xác định
và BTTH được diễn ra hiệu quả, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên,
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là cần thiết. Xây dựng, hoàn
thiện pháp luật về XĐTH do ÔNMT hiện nay càng trở nên cấp thiết bởi các lý do
sau:
Một là, ở nước ta mặc dù các quy định về bảo vệ môi trường nói chung đã
được ghi nhận từ nhiều năm, nhưng các quy định pháp luật về BTTH, XĐTH do
ÔNMT mới bước đầu được ghi nhận trong Luật BVMT năm 1993, BLDS năm
1995, BLDS 2005 và cụ thể nhất là Luật BVMT 2005. Các quy định này đã mang
lại hiệu quả nhất định trong thực tiễn XĐTH và BTTH. Tuy nhiên, quy định về
XĐTH còn mang tính chất luật khung, khái quát, chưa rõ ràng, cụ thể. Do vậy gây
khó khăn cho quá trình XĐTH và giải quyết việc BTTH.
con người. Cùng năm đó một trong những nguyên tắc quan trọng để tiến đến xác
định trách nhiệm bồi thường do hành vi làm ÔNMT cũng ra đời là nguyên tắc người
gây ô nhiễm phải trả tiền. Nguyên tắc này do Tổ chức hợp tác và phát triển
(Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) soạn thảo
năm 1972. Tiếp đó để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, Hội
nghị thế giới về Môi trường và phát triển tại Riodranaijo (Braxin), năm 1992 đã đưa
3
nhiệm vụ phát triển bền vững trở thành một nguyên tắc quan trọng trong quá trình
phát triển của thế giới và của mỗi quốc gia. Mặc dù vậy, thực tế vẫn có nhiều hành
vi làm ÔNMT hàng ngày, hàng giờ gây ra thiệt hại cho tự nhiên, xã hội và con
người.
Ở Việt Nam, XĐTH về tài sản, sức khỏe, tính mạng đã được quy định trong
BLDS năm 1995, BLDS năm 2005. Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28
tháng 4 năm 2004 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006
của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cũng đã hướng dẫn áp dụng một
số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến tài sản, sức
khỏe, tính mạng con người. Còn XĐTH về sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của
môi trường thì bước đầu cũng được quy định trong Luật BVMT năm 2005. Hiện
nay, Chính phủ, cụ thể là Bộ Tài nguyên Môi trường đang soạn thảo văn bản hướng
dẫn về vấn đề này.
BTTH ngoài hợp đồng nói chung là một trong các chế định quan trọng nhất
của pháp luật dân sự nên đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu, có thể liệt kê ra một số công trình, như: luận văn thạc sĩ Luật học của
Phạm Kim Anh về đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"; Luận
án tiến sĩ Luật học của Lê Mai Anh về đề tài "Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự"; Luận văn thạc sĩ Luật
học của Trần Thị Thu Hiền về đề tài "Những nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong
luật dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Kim Loan về đề tài "Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự Việt Nam", BTTH
số 12, tháng 6 năm 2009; Nguyễn Thị Hồng Ánh (2000), "Nguyên tắc ai gây ô
nhiễm người đó phải trả giá" Luận văn cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ
Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh; Nghiên cứu tóm tắt về BTTH do ô nhiễm, suy thoái
môi trường, Trung tâm nghiên cứu Pháp luật & Chính sách Phát triển bền vững; Kết
quả xác định vi phạm, mức độ ảnh hưởng do hành vi gây ô nhiễm của Công ty Cổ
phần hữu hạn Vedan Việt Nam của nhóm tác giả PGS.TS. Nguyễn Văn Phước, ThS.
Nguyễn Thanh Hùng, PGS.TSKH. Bùi Tá Long, Viện Môi trường và Tài nguyên -
Đại học Quốc gia TP HCM, Tạp chí môi trường số 7 năm 2010;
5
Các bài viết đã trình bày những vấn đề cơ bản về BTTH và XĐTH do hành
vi làm ÔNMT, nhưng các nghiên cứu về XĐTH do hành vi làm ÔNMT còn ít, tản
mạn và chưa mang tính hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm nghiên cứu
. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý xoay
quoanh việc XĐTH do hành vi làm ÔNMT gây ra.
. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ
nghiên cứu sau :
- Các khái niệm cơ bản về thiệt hại, XĐTH do hành vi làm ÔNMT, đặc thù của
thiệt hại do ÔNMT, phân loại các loại thiệt hại do ÔNMT;
- Các quy định pháp luật hiện hành về XĐTH do hành vi làm ÔNMT;
- Thực tiễn xác định thiệt do hành vi làm ÔNMT qua các vụ việc cụ thể; chỉ ra
những bất cập, tồn tại trong các quy định pháp luật hiện hành.
Từ đó luận văn đưa ra kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
XĐTH do hành vi làm ÔNMT.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không nghiên cứu nhiều các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật,… của việc
XĐTH do hành vi làm ÔNMT mà tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý về XĐTH
hữu ích của môi trường cũng như thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng và các lợi
ích hợp pháp khác do hành vi làm ÔNMT. Trên cơ sở các lý luận, lập luận khoa
học, đề tài đưa ra một số vụ việc cụ thể, điển hình về xác định thiệt hại do hành vi
làm ô nhiễm môi trường đối chiếu với pháp luật hiện hành để mổ xẻ, phân tích chỉ
ra những hạn chế, thiếu sót, tồn tại, đồng thời đưa ra nhu cầu, quan điểm và đề xuất
các giải pháp chung cũng như các giải pháp về pháp luật nhằm xác định thiệt hại do
hành vi làm ô nhiễm môi trường có hiệu quả trên thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị tham khảo tốt các cơ quan lập pháp,
lập quy trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về XĐTH do
hành vi làm ÔNMT; cho cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, cao
7
đẳng chuyên ngành luật. Luận văn cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan
thực tiễn trong quá trình giải quyết các vấn đề liên quan đến BTTH, XĐTH do hành
vi làm ÔNMT, vấn đề đang được các cơ quan thực tiễn và người dân rất quan tâm.
Nghiên cứu này giúp tác giả cũng như người đọc nói chung hiểu biết sâu hơn
những vấn đề pháp lý xung quanh việc XĐTH về suy giảm chức năng, tính hữu ích
của môi trường được quy định trong Luật BVMT 2005 và XĐTH về tài sản, sức
khỏe, tính mạng và các lợi ích hợp pháp khác được quy định trong BLDS năm
2005. Đồng thời luận văn giúp tác giả nói riêng hiểu sâu hơn về các vấn đề liên
quan đến hướng nghiên cứu lâu dài của mình.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có ba
chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trường và điều chỉnh pháp luật về xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trường;
Chương 2. Pháp luật hiện hành về xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trường và thực trạng xác định thiệt hại qua một số vụ việc cụ thể
Chương 3. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xác định thiệt hại do hành vi làm ô
Còn "ÔNMT là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với
tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật"[27, Điều 3].
Trong luận văn này khi nói tới thuật ngữ môi trường và ÔNMT, tác giả theo định
nghĩa ghi nhận tại Điều 3, Luật BVMT 2005. ÔNMT dẫn đến suy giảm chất lượng,
số lượng các thành phần môi trường gây thiệt hại đến con người và sinh vật.
Về thuật ngữ thiệt hại nói chung, Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển
Bách khoa 2007 định nghĩa, "thiệt hại (damage) là bị tổn thất, hư hao về người và
của"[38]. Với quan niệm này, thiệt hại chỉ được hiểu với ý nghĩa là những tổn thất,
suy giảm đơn thuần là về vật chất. Từ điển Tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học do
Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn bản năm 2006 thì giải thích, thiệt hại không chỉ là về vật
chất mà còn bao hàm cả thiệt hại về tinh thần. Cụ thể thiệt hại là “bị mất mát về
người, về của cải vật chất hoặc tinh thần”[37]. Xét dưới góc độ pháp luật dân sự thì
9
thiệt hại bao gồm tổn thất về tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm hại, thu nhập bị
giảm sút và thiệt hại về tinh thần như danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại…
Như vậy có thể thấy, thiệt hại nói chung bao gồm cả thiệt hại về sức khỏe, tính
mạng, tài sản và tinh thần. Còn thiệt hại do hành vi làm ÔNMT là suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường và những tổn hại về sức khoẻ, tính mạng của con
người, tài sản cũng như lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc
suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Khoản 1, 2 Điều 130 Luật
BVMT năm 2005, định nghĩa thiệt hại do ÔNMT theo cách liệt kê, bao gồm thiệt
hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và những thiệt hại về sức
khoẻ, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do
hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Vậy suy
giảm chức năng, tính hữu ích do hành vi làm ÔNMT là gì và thế nào là tài sản, sức
khỏe, tính mạng và các lợi ích chính đáng khác?
- Về suy giảm chức năng, tính hữu ích do hành vi làm ÔNMT.
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng chịu tác động của con người. Ðó là
môi trường.
Qua đó có thể thấy môi trường tự nhiên có chức năng đặc biệt quan trọng là
tạo ra sự cân bằng về sinh thái, duy trì sự sống và hoạt động bình thường cho con
người và các sinh vật trên trái đất.
Qua đó có thể thấy, sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy
ra khi: chất lượng của các yếu tố môi trường sau khi bị tác động thấp hơn so với tiêu
chuẩn, quy chuẩn về chất lượng môi trường; lượng tài nguyên thiên nhiên bị khai
thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục (đối với tài nguyên tái tạo) và/hoặc lớn
hơn lượng thay thế (đối với tài nguyên không tái tạo được) hay lượng chất thải thải
vào môi trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự làm sạch của chúng. Do vậy người
nào có hành vi làm ÔNMT gây ra thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của
môi trường thì phải có trách nhiệm BTTH, khắc phục ô nhiễm, phục hồi lại hiện trạng
môi trường.
11
- Thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và các lợi ích chính đáng khác do
hành vi làm ÔNMT;
Như chúng ta biết sức khoẻ, tính mạng của cá nhân là các quyền nhân thân
quan trọng hàng đầu của con người được pháp luật bảo vệ. Trong pháp luật dân sự,
việc bảo vệ quyền nhân thân được chỉ rõ:
Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường [25, Điều 604].
Để bảo vệ quyền nhân thân mà cụ thể là đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt
hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác, Luật BVMT năm
2005 và các Điều 608, 609 và Điều 610 BLDS năm 2005 cũng liệt kê tương đối cụ
thể các căn cứ để xác định các loại thiệt hại này, cụ thể: thiệt hại về sức khỏe, tính
mạng gồm các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị
mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt
được tính kể từ thời điểm con người được sinh ra và kết thúc đến tại thời điểm chết
thực tế. Hay nói cách khác, phải được coi vẫn có sự sống nếu trong cơ thể con
người vẫn diễn ra quá trình trao đổi chất. Quá trình sống, cơ thể con người phát
triển và hoàn thiện dần các chức năng bao gồm cả mặt sinh học và mặt tư duy xã
hội. Như vậy, theo nghĩa rộng thì tính mạng được hiểu bao gồm cả thuộc tính sinh
học và tính xã hội. Theo pháp luật dân sự, tài sản, sức khỏe, tính mạng được coi là
một quyền nhân thân quan trọng. Mọi hành vi xâm phạm hoặc gây thiệt hại cho tài
sản và các lợi ích hợp pháp khác của cá nhân đều phải bồi thường thiệt hại.
1.1.2. Đặc điểm của thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường
Dưới góc độ pháp luật dân sự, thiệt hại xảy ra do hành vi làm ÔNMT bên cạnh
những điểm chung của thiệt hại, nó có những đặc điểm, đặc thù nhất định, cụ thể:
Thứ nhất, thiệt hại xảy ra do hành vi làm ÔNMT không chỉ là những thiệt hại
xảy ra trên thực tế, như làm chết gia súc, gia cầm, cây trồng của người dân… mà có
những thiệt hại là những nguy cơ tiềm ẩn nhiều năm về sau như: khoảng 10 đến 15
13
năm sau một khu rừng, một hệ sinh thái bị mất đi, người dân ở khu vực đó bị thiệt
hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, mắc các bệnh nan y như ung thư…
Thứ hai, bên cạnh những thiệt hại trực tiếp xảy ra làm suy giảm chức năng,
tính hữu ích của môi trường, có nhiều thiệt hại mang tính gián tiếp khác rất khó xác
định hoặc không/chưa có cơ sở để xác định. Ví dụ thiệt hại về tinh thần …;
Thứ ba, đối tượng bị thiệt hại do ÔNMT rất đa dạng: ngoài những thiệt hại về
sức khoẻ, tính mạng, tài sản của tổ chức, cá nhân, còn có thiệt hại về sự suy giảm
chức năng, tính hữu ích của môi trường (đất đai, rừng núi, sông, hồ, biển,…) thuộc
sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên, xét đến cùng,
người chịu ảnh hưởng và chịu tác động vẫn chính là người dân. Ví dụ, sự tàn phá
một cánh rừng thuộc sự quản lý của Nhà nước là thiệt hại đối với Nhà nước, song
mất cánh rừng đó dẫn tới giảm/mất nguồn khai thác, sinh sống của nhân dân, thậm
chí còn dẫn tới lũ, lụt làm người dân mất của, chết người…;
Thứ tư, thiệt hại do ÔNMT gây ra thường lớn, trên phạm vi rộng dẫn tới khó
XĐTH do hành vi làm ÔNMT là một vấn đề rất phức tạp. Do vậy để cho việc
XĐTH và XĐTH được chính xác, hiệu quả, việc phân loại thiệt hại do ÔNMT đóng
vai trò quan trọng. Có nhiều căn cứ để phân loại các thiệt hại do ÔNMT. Dưới đây
có thể đưa ra một số phân loại nhất định:
Căn cứ vào sự tác động của ô nhiễm, suy thoái môi trường đối với những đối
tượng bị thiệt hại, có thể chia thiệt hại thành:
- Thiệt hại do sự tác động trực tiếp của ÔNMT như: chức năng, tính hữu ích
của môi trường, hệ sinh thái bị suy giảm,…
- Thiệt hại do tác động gián tiếp của ô nhiễm suy thoái môi trường, ví dụ:
ÔNMT nước, con người uống vào bị bệnh tật, bị suy giảm sức khỏe, bị chết…
Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được
xem là thiệt hại gián tiếp (còn gọi là thiệt hại phái sinh hay thiệt hại thứ sinh) - thiệt
hại chỉ xảy ra khi đã có loại thiệt hại thứ nhất. Tuy nhiên, cần lưu ý là giữa thiệt hại
đối với môi trường tự nhiên và thiệt hại đối với tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân không phải luôn luôn và hoàn toàn tách biệt. Trong một số trường
hợp thiệt hại về môi trường tự nhiên tại một khu vực nhất định cũng đồng thời là