Một số vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THỊ THANH HUYỀN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
MỘT CHỦ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Dung

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN
Em xin đảm bảo đây là công trình khoa học của riêng mình trên cơ sở tham
khảo các nguồn tài liệu đã có.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, các
thầy cô giáo khoa Pháp luật kinh tế và TS. Nguyễn Thị Dung đã chỉ bảo và hướng
dẫn tận tình để giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để em hoàn thiện hơn công trình của
mình.




MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………..Trang 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
MỘT CHỦ SỞ HỮU……………………………………………………………………5
1.1. Lược sử hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp và vai trò của mua
bán doanh nghiệp đối với nền kinh tế………………………………………………....5
1.1.1. Lược sử hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp trên thế giới……5
1.1.2. Hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam………………………………..7
1.1.3. Vai trò của mua bán doanh nghiệp trong nền kinh tế…………………..10
1.2. Bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……........13
1.2.1. Quan niệm về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu…………………13
1.2.2. Mối liên hệ giữa mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu với vấn đề chuyển
nhượng vốn góp………………………………………………………………………..20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH
NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM………………………………………23
2.1. Tổng quan hệ thống văn bản pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ
sở hữu…………………………………………………………………………………..23
2.2. Quy định pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp một chủ sở
hữu…………………………………………………………………………………….26
2.2.1. Quy định về tài sản doanh nghiệp một chủ sở hữu và định giá doanh nghiệp
một chủ sở hữu………………………………………………………………………….26
2.2.2. Quy định về các phương thức mua bán doanh nghiệp một chủ sở
hữu……………………………………………………………………….............31


2.2.3. Quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu…………41
2.3. Thủ tục pháp lý sau khi mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……….51
2.3.1. Đăng ký kinh doanh lại……………………………………………………51


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay số lượng doanh nghiệp được thành lập đã lên tới hơn 400.000
doanh nghiệp, tuy nhiên trong số đó có tới hơn 90% doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, quy mô sản xuất trung bình, nguồn vốn kinh doanh ít và thường xuyên chịu tác động
mạnh mẽ từ các quy luật của nền kinh tế thị trường. Nhiều doanh nghiệp bị lâm vào tình
trạng phá sản và khánh kiệt về tài sản, chủ doanh nghiệp lúc này cố vớt vát tài sản thông qua
thủ tục phá sản hoặc giải thể hoặc thông qua một giải pháp hiệu quả hơn đó là bán doanh
nghiệp của mình cho nhà đầu tư khác. Xét từ góc độ lợi ích khi các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh hiệu quả có nhu cầu mở rộng nhà xưởng, mở rộng hệ thống khách hàng, cách
nhanh chóng và hiệu quả nhất là mua một doanh nghiệp khác để tiếp tục mục tiêu kinh
doanh. Bên cạnh đó, việc bán doanh nghiệp là cơ hội tăng thu nhập do việc bán được những
giá trị tài sản vô hình, thay vì chỉ thanh lý các tài sản hữu hình mà doanh nghiệp có.
Trong khi hoạt động mua bán doanh nghiệp tại các nước trên thế giới đã xuất hiện từ
lâu và phát triển, hoạt động này ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Song với những lợi thế mà
hoạt động này mang đến, nó đã nhanh chóng chứng tỏ sức thu hút mạnh mẽ đối với các chủ
thể. Chỉ trong khoảng thời gian mười năm, mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam đã diễn ra hết
sức sôi động tạo thành những làn sóng mua bán mạnh mẽ. Đối tượng của hoạt động mua
bán doanh nghiệp khá đa dạng. Đó có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân,
công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Trong số các loại hình
doanh nghiệp mục tiêu kể trên phải kể đến loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu. Bởi lẽ
loại hình doanh nghiệp này đang ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nền
kinh tế Việt Nam, không chỉ về số lượng mà còn về hiệu quả và sức cạnh tranh. Thực tế này
đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải có ngay những quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan
hệ phát sinh giữa các chủ thể khi mua, bán doanh nghiệp một chủ sở hữu. Trong khi đó,
Luật doanh nghiệp 2005 là văn bản hiện hành điều chỉnh những quy định về hệ thống doanh
nghiệp ở Việt Nam lại chưa có những quy định cụ thể về hoạt động mua bán doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp một chủ sở hữu nói riêng.


thống. Vì vậy mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và


3

thực tiễn của pháp luật về hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu trong hoạt động
kinh tế, từ đó đưa ra những giải pháp về mặt pháp lý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật
điều chỉnh quan hệ kinh tế còn rất mới mẻ này.
Để thực hiện được mục tiêu đó, nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là:
- Làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu;
- Phân tích vai trò của hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu đối với quá
trình vận động, phát triển của nền kinh tế;
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động mua bán doanh nghiệp
một chủ sơ hữu nhằm làm rõ cơ sở lý luận về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt
Nam;
- Từ những nghiên cứu, phân tích trên, đưa ra giải pháp pháp lý để hoàn thiện chế
định về hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài “Một số vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt
Nam- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật”, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên
cứu và làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán các loại hình doanh
nghiệp do một chủ thể đầu tư vốn, bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một
thành viên, Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Các quy định về mua bán công ty hợp danh,
công ty TNHH hai thành viên, công ty cổ phần, Hợp tác xã và các hình thức tổ chức kinh tế
khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế. Trong quá trình thực hiện luận
văn, tác giả có kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật

của tình hình kinh tế dẫn đến tình trạng kiệt quệ về mặt tài chính. Đó cũng là lúc nhu cầu về
việc mua bán doanh nghiệp, nhu cầu về sáp nhập các doanh nghiệp được hình thành. Cho đến
nay, nó đã được coi là một ngành độc lập với lịch sử phát triển tương đối lâu dài và đã trải qua
5 giai đoạn phát triển.
Giai đoạn 1, từ năm 1897-1904: Đây được coi là giai đoạn khởi đầu của hoạt động
mua bán doanh nghiệp trên thế giới, do quá trình bùng nổ nhanh chóng của nền kinh tế, hệ
thống giao thông được nâng lên một tầng cao mới, hệ thống văn bản pháp luật về doanh
nghiệp được quy định đầy đủ. Thế giới đã ghi nhận làn sóng sáp nhập đầu tiên diễn ra tại Mỹ
dưới hình thức liên kết theo chiều ngang với tên gọi “The Great Merger Movement”. Trong
thời gian này các hoạt động mua bán diễn ra chủ yếu giữa các công ty phát triển công nghiệp
nặng với số lượng các vụ mua bán còn rất hạn chế khoảng 3.000 vụ. Tuy nhiên, đợt sóng này
chấm dứt nhanh chóng do khủng hoảng kinh tế những năm 1903 và sự sụp đổ của thị trường
chứng khoán năm 1904.
Giai đoạn 2, từ năm 1916-1929: Giai đoạn này được khởi đầu từ sự bùng nổ của kinh
tế thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhu cầu về các mặt hàng nhu yếu phẩm tăng
mạnh kết hợp với sự phát triển về khoa học công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty
phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, đồng thời là sự tăng năng suất lao động cải
tiến chất lượng hàng hóa. Các vụ mua bán điển hình diễn ra trong các lĩnh vực luyện kim, hóa


6

dầu, thuốc, và phương tiện vận chuyển với số lượng khoảng 5.000 vụ, với sự tham gia của
một số ngân hàng đầu tư trong những thương vụ này. Giai đoạn này chấm dứt sau đại khủng
hoảng kinh tế khởi nguồn từ sự sụp đổ của thị trường chứng khoán ngày 29-10-1929.
Giai đoạn 3, những năm 60 của thế kỉ XX: Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, kinh tế thế
giới lại trải qua một thời kì phát triển mạnh. Thị trường chứng khoán trở lại cùng với đó là sự
tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự lớn mạnh không ngừng của các tập đoàn tài chính tạo đà cho
các cuộc mua bán doanh nghiệp diễn ra sôi nổi. Trong khoảng thời gian này có trên 7.000 vụ
mua bán được diễn ra với tổng giá trị ước tính đạt 400 tỷ USD, mà đa số trong đó là quá trình

trùm toàn thế giới. Đây là thời điểm kinh tế khó khăn nhưng cũng chính là thời điểm mà các
doanh nghiệp, tập đoàn lớn trên thế giới vượt qua những rào cản để tiến hành các thương vụ
mua bán doanh nghiệp nhằm tái cơ cấu lại cấu trúc của doanh nghiệp.
1.1.2. Hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Trong khi hoạt động mua bán doanh nghiệp tại các nước trên thế giới đã xuất hiện từ
lâu và phát triển, hoạt động này ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Tuy mới ở giai đoạn đầu của
quá trình hình thành, song với những lợi thế mà hoạt động này mang đến, nó đang nhận được
sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, bất chấp những khó khăn về tài chính do
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra.
Theo báo cáo thường niên năm 2009 về hoạt động mua bán công ty tại Việt Nam của
công ty kiểm toán Pricewaterhouse Coopers, hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
tiếp tục được duy trì và tăng về số lượng cũng nhưng đa dạng về cách thức thực hiện. Mặc dù
mới xuất hiện từ năm 2000, nhưng với sức cuốn hút mạnh mẽ số lượng các giao dịch mua
bán, sáp nhập tăng dần theo từng năm. Tính đến năm 2003 cả nước có 41 thương vụ với giá trị
118 triệu USD [45], riêng năm 2005 có 18 vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp với tổng giá trị
đạt 61 triệu USD; năm 2006, số lượng tăng lên 32 vụ với tổng giá trị là 245 triệu USD [42];
đến năm 2008 con số là 146 vụ tương ứng với 1.009 triệu USD. Trong số đó có những thương
vụ nổi bật như: Savico mua lại khách sạn Furama 16 triệu USD tháng 11 năm 2005 [46]; Kinh
Đô mua thương hiệu kem Wall và đang tiến hành mua hãng nước giải khát Tribeco; Holcim
mua lại Cotec Cement với giá 50 triệu USD tháng 8 năm 2008; Quantas mua lại 18% sau đó
là 31% và hiện nay là 49% cổ phần của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific; VRI mua lại
Tiberon với giá 230 triệu USD [34]. Trong 4 năm vừa qua, giá trị giao dịch mua bán và sáp
nhập tại Việt Nam có xu hướng tăng mạnh. Năm 2009 ghi nhận 295 vụ với tổng giá trị 1,14 tỷ
USD, năm 2010 có 245 vụ với tổng giá trị 1,75 tỷ USD và năm 2011 ghi nhận có 266 vụ với


8

tổng giá trị giao dịch đạt kỷ lục là 6,25 tỷ USD. Có thể kể đến một số thương vụ mua bán giữa
các doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu như: vụ sáp nhập Công ty Thông tin viễn thông Điện

đánh giá rất lạc quan về triển vọng phát triển lĩnh vực này bởi hiện nay quy mô vốn của nhiều
ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn quá nhỏ nên áp lực tăng vốn sẽ khiến các ngân hàng
khó khăn hơn rất nhiều. Do đó, hiện tượng mua bán và sáp nhập có thể sẽ tăng lên và số lượng
ngân hàng dự định sẽ giảm 30%-40% trong một vài năm tới đây.
- Lĩnh vực phân phối bán lẻ: Việt Nam thực sự là một nơi đầu tư lý tưởng của các
công ty tiến hành kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ với thị trường hơn 85 triệu dân. Theo cam
kết hội nhập WTO, từ ngày 01/01/2009 Việt Nam đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tiến
hành hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài trên thị trường bán lẻ, mở ra điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tư trong quá trình tiến hành kinh doanh tại Việt Nam. Và rõ ràng con đường
nhanh chóng nhất để các nhà đầu tư thâm nhập vào thị trường Việt Nam là thông qua mua bán
doanh nghiệp. Lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ là lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhất để đón nhận
nguồn vốn đầu tư [34].
- Lĩnh vực chứng khoán: Cùng với sự phát triển nóng của thị trường chứng khoán Việt
Nam trong những năm vừa qua, số lượng các công ty chứng khoán được thành lập với tốc độ
nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư tham gia vào một loại thị trường còn
mới mẻ này. Tính đến thời điểm tháng 2/2012, cả nước có khoảng 100 công ty chứng khoán
đang hoạt động trong đó số công ty có vốn điều lệ dưới 300 tỷ chiếm gần 80%. Điều này tạo
ra rủi ro rất lớn cho các nhà đầu tư nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung. Hiệp hội
Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) đã đề xuất việc giảm 3/4 số lượng công ty chứng
khoán vì hiện nay có quá nhiều công ty chứng khoán tồn tại nhưng chất lượng kém, nhân lực
phân tán… Trong tương lai trung hạn, sẽ diễn ra quá trình mua lại hoặc thôn tính các công ty
chứng khoán không có tiềm lực tài chính. Và số lượng các công ty chứng khoán sẽ giảm 50%60% sau quá trình mua bán và thôn tính công ty [34].
- Lĩnh vực dược phẩm và kiểm toán: Đặc điểm chung của hai lĩnh vực này ở Việt Nam
đó là có sự tham gia đông đảo của các công ty, trong đó số lượng các doanh nghiệp một chủ
sở hữu (doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước) chiếm tương đối nhiều.
Tuy nhiên, hầu hết các công ty đó đều không đáp ứng được nhu cầu về vốn và quy mô sản
xuất theo tiêu chuẩn mà thế giới và Việt Nam ban hành. Xu hướng của hai lĩnh vực này trong
những năm tới đây sẽ xảy ra nhiều vụ mua bán doanh nghiệp để tiến hành đầu tư vào một thị



với thủ tục phá sản thì chủ doanh nghiệp có thể gặp phải những hạn chế khi muốn kinh


11

doanh trở lại. Vì vậy, việc bán doanh nghiệp là một lựa chọn giúp bên bán quay trở lại với
hoạt động kinh doanh theo một cách thức và phương thức mới mà họ thấy hợp lý.
Tuy nhiên, việc bán một doanh nghiệp không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của
việc làm ăn thua lỗ mà nó có thể thể hiện tầm nhìn chiến lược của chủ doanh nghiệp. Khi
thấy chu kì kinh doanh của lĩnh vực kinh doanh đã kết thúc, doanh nghiệp đã phát triển
đến đỉnh mà bản thân bên bán không đủ năng lực về nguồn vốn để mở rộng kinh doanh
hoặc muốn cắt giảm chi phí thông qua việc tối ưu hóa các nguồn lực thì bán doanh nghiệp
sẽ là phương thức tốt nhất để bên bán rút chân ra khỏi thị trường, lĩnh vực mà mình đang
đầu tư. Lúc này, bán doanh nghiệp sẽ thu lại cho họ một khoản lợi nhuận lớn để tiến hành
tái đầu tư tại một lĩnh vực khác có nhiều cơ hội hơn.
* Đối với bên mua: Trong quá trình kinh doanh, việc các nhà đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng, hệ thống khách hàng, thương hiệu, mở rộng thị trường không phải là câu chuyện
có thể làm trong thời gian ngắn. Chỉ thông qua một hợp đồng mua bán doanh nghiệp, bên
mua sẽ tiết kiệm được thời gian để mở rộng sản xuất kinh doanh, tận dụng hết những giá
trị thương mại mà bên bán chưa thể tận dụng. Việc tiến hành mua doanh nghiệp sẽ tạo
điều kiện cho bên mua mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh mà không phải bỏ nhiều chi
phí. Hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho bên mua dễ dàng ra nhập thị trường với chi phí rẻ,
họ có thể tiến hành kinh doanh ngay sau khi tiến hành hợp đồng mua mà không cần phải
thực hiện quá trình chuẩn bị như các nhà đầu tư tiến hành bài bản từ đầu.
Hoạt động mua bán doanh nghiệp còn tạo cơ sở cho bên mua mở rộng thị trường về
mặt địa lý thông qua việc mua chính những doanh nghiệp đang tiến hành sản xuất kinh
doanh trên thị trường đó. Trong đó bên mua có thể liên kết các lợi thế của doanh nghiệp
mình với lợi thế của doanh nghiệp được mua lại để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Ví dụ
như một doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong việc bán hàng mua lại một doanh nghiệp
chuyên môn hóa về marketing sẽ thực hiện được mục tiêu bán hàng của doanh nghiệp một

Việt Nam; tạo điều kiện cho Việt Nam tái cơ cấu lại nền kinh tế phát triển quá nhanh và
thiếu quy hoạch trước đây. Như vậy, với mua bán doanh nghiệp, Nhà nước có thể điều
chỉnh giảm số lượng các doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả và phát triển những
doanh nghiệp có khả năng kinh doanh tốt, từ đó tạo ra khả năng thúc đẩy phát triển nền
kinh tế mạnh mẽ hơn.


13

1.2. Bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
1.2.1. Quan niệm về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
* Quan niệm về mua bán doanh nghiệp
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “mua bán” thường được sử dụng với thuật ngữ
“hàng hóa” trong thương mại, hoặc “tài sản” trong dân sự. Thuật ngữ “mua bán doanh
nghiệp” nói chung vẫn còn rất mới mẻ trong hệ thống pháp luật Việt Nam bởi đối tượng của
hoạt động mua bán doanh nghiệp là “doanh nghiệp” - “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [6]. Theo từ điển bách khoa Việt Nam
“Mua bán là hành vi trao đổi giữa người mua hàng nhận được quyền sở hữu hàng hóa từ
người bán bằng cách trả một số tiền theo sự thỏa thuận về giá cả của hai bên”. [61]. Như
vậy, xét về mặt lý luận, mua bán doanh nghiệp sẽ được hiểu là phương thức chuyển quyền
sở hữu doanh nghiệp từ người bán sang người mua trên cơ sở trao đổi ngang giá với mục
đích tiếp tục hoạt động kinh doanh bằng doanh nghiệp đã được chuyển giao. Bản chất của
quan hệ mua bán doanh nghiệp là việc chuyển đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua việc
bên bán trả cho bên mua một số tiền nhất định tương đương với phần giá trị doanh nghiệp là
đối tượng của giao dịch.
Trên thế giới, pháp luật các nước sử dụng nhiều thuật ngữ liên quan đến hoạt động
mua bán doanh nghiệp như M&A (Mergers and Acquisitions), Takeovers, Buyout, v.v. diễn
tả quá trình tiến hành nhiều thủ tục để dẫn tới kết quả cuối cùng là sự thay đổi cấu trúc vốn,
cấu trúc quản lý của các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch.

tìm cách kiểm soát hoạt động của một doanh nghiệp khác thông qua việc thâu tóm toàn bộ
hoặc một tỷ lệ cổ phần hay tài sản của doanh nghiệp mục tiêu đủ để khống chế toàn bộ các
quyết định của doanh nghiệp. Sau khi giao dịch kết thúc, doanh nghiệp bị mua lại có thể sẽ
chấm dứt sự tồn tại của mình theo quyết định của doanh nghiệp mua lại, hoặc tiếp tục hoạt
động trong mô hình công ty mẹ- con. Căn cứ vào tính chất của các thương vụ mua lại, có thể
chia hoạt động mua lại thành nhiều loại:
+ Mua lại “thôn tính”- Hostile Takeovers: là hình thức doanh nghiệp mua tiến hành
nhiều biện pháp để thực hiện việc mua lại khi công ty bị mua từ chối đề nghị mua của công
ty mua lại theo hình thức mua lại “thân thiện”. Các biện pháp đó có thể là chào mua với giá
trị cao hơn giá trị trên thị trường rất nhiều; lôi kéo các cổ đông không hài lòng với cách thức


15

tổ chức quản lý hiện hành của công ty; thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, mua
lại tài sản của công ty v.v…[52].
+ Mua lại “thân thiện”- Friendly Hostile : là hình thức doanh nghiệp mua đưa ra một
đề nghị mua lại doanh nghiệp bị mua, chủ sở hữu doanh nghiệp bị mua sau khi nhận đề nghị
tiến hành họp và đưa ra quyết định bán doanh nghiệp. Hợp đồng được kí kết và hai bên
nhanh chóng thanh lý hợp đồng và tiến hành các thủ tục tiếp theo [52].
+ Mua lại "ngược" - Reverse Takeover : là hình thức một công ty tư nhân mua lại
toàn bộ một công ty đại chúng, hình thức này mang lại cho công ty tư nhân cơ hội trở thành
công ty đại chúng mà có thể bỏ qua nhiều giai đoạn phức tạp (thẩm định, IPO, v.v..) [53].
Như vậy, khi một doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác và đặt mình vào vị
trí chủ sở hữu thì thương vụ đó gọi là mua bán. Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp bị mua
lại không còn tồn tại, bên mua đã tiếp quản bên bán và cổ phiếu của bên mua (nếu là công ty
cổ phần). Từ đó có thể thấy hoạt động mua lại doanh nghiệp trên thế giới được quy định bao
gồm: việc mua toàn bộ doanh nghiệp hoặc mua cổ phần để nắm quyền chi phối đối với
doanh nghiệp, hay tranh thủ sự ủng hộ của các cổ đông để nắm quyền kiểm soát doanh
nghiệp.

điểm vướng mắc trong hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp.
Tóm lại, qua nghiên cứu quan niệm về mua bán doanh nghiệp trên thế giới và ở Việt
Nam, có thể hiểu mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển quyền sở
hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng
mua bán doanh nghiệp hoặc thông qua việc chuyển nhượng cổ phần, vốn góp của các thành
viên trong doanh nghiệp với mục đích để bên mua nắm quyền kiểm soát giá trị doanh nghiệp.
* Quan niệm về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
Hiện nay, các doanh nghiệp một chủ sở hữu ở nước ta tồn tại dưới các hình thức doanh
nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên. Việc mua bán các doanh nghiệp này sẽ đơn giản hơn các loại
hình doanh nghiệp khác bởi yếu tố chỉ có một chủ sở hữu.
- Theo Nghị định số 109/2008/NĐ-CP về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước: “Bán toàn bộ hoặc bộ phận doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là việc chuyển sở
hữu có thu tiền toàn bộ doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp sang sở hữu tập thể, cá
nhân hoặc pháp nhân khác” (khoản 1, điều 3). Định nghĩa này cho phép chúng ta xác định
một số đặc điểm của bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước:


17

+ Thứ nhất, bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là việc chuyển giao quyền sở
hữu toàn bộ hoặc bộ phận doanh nghiệp từ sở hữu Nhà nước cho chủ sở hữu khác. Chủ thể
có quyền quyết định việc bán doanh nghiệp ở đây chỉ duy nhất là Nhà nước.
+ Thứ hai, đối tượng của bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là bộ phận hoặc
toàn bộ doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Việc bán
doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là bán tài sản của doanh nghiệp mà còn bán lợi thế kinh
doanh. Nói cách khác, doanh nghiệp chính là “hàng hoá, tài sản” nên quan hệ mua bán
doanh nghiệp cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung trong các quan hệ mua bán tài
sản do Bộ luật dân sự điều chỉnh.
+ Thứ ba, giá trị trao đổi phải được tính bằng tiền trong quan hệ mua bán doanh

sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân đó. Hai hoạt động mua bán doanh
nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp tuy về mặt hình thức có những điểm tương đồng
nhưng đó là hai vấn đề có bản chất khác nhau. Cụ thể như sau :
+ Về đối tượng: Việc mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp đều
là hai hoạt động thương mại có liên quan đến tài sản doanh nghiệp - đều là hoạt động
chuyển quyền sở hữu có thu tiền, tuy nhiên đối tượng của hoạt động mua bán tài sản
doanh nghiệp chỉ đơn thuần là tài sản của doanh nghiệp còn đối tượng của mua bán doanh
nghiệp lại là “doanh nghiệp”. Những thỏa thuận trong mua bán doanh nghiệp không chỉ là
thỏa thuận về tài sản hữu hình của doanh nghiệp mà còn cả những thỏa thuận về các giá trị
tiềm năng của doanh nghiệp như tên thương mại, thương hiệu, hệ thống khách hàng,
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các bên thứ ba, hệ thống quản lý cũng như
đội ngũ nhân công v.v…
Sau khi mua lại doanh nghiệp, bên mua sẽ tiếp tục khai thác các giá trị thương mại
của doanh nghiệp mục tiêu. Vì vậy, đối tượng của hoạt động mua bán doanh nghiệp không
chỉ đơn thuần là những tài sản, đó còn là một thực thể pháp lý đang tồn tại, đang tiến hành
sản xuất kinh doanh. Đặc điểm này tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động mua bán
doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp.
+ Vấn đề kiểm soát, chi phối toàn bộ ngành nghề của doanh nghiệp: Hoạt động
mua bán tài sản doanh nghiệp và mua bán doanh nghiệp đều có chung một dấu hiệu đó là
hành vi mua bán toàn bộ tài sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, hai hoạt động này khác nhau ở
chỗ là việc mua bán đó có cho phép người mua kiểm soát, chi phối bộ phận hoặc toàn bộ


19

ngành nghề của doanh nghiệp hay không, nếu có đó là hoạt động mua bán doanh nghiệp
còn nếu không nó chỉ là một quan hệ mua bán tài sản doanh nghiệp.
+ Vấn đề chủ sở hữu doanh nghiệp: Hoạt động mua bán tài sản doanh nghiệp sẽ
không làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp còn hoạt động mua bán doanh nghiệp lại
làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp. Bởi vậy về mặt thủ tục, khi tiến hành mua bán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status