ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
********
LÊ THỊ BÍCH LIÊN
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ BÍCH LIÊN
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Bích Liên
4
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT .............................................
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................
DANH MỤC CÁC HÌNH .......................................................................................
DANH MỤC CÁC HỘP .........................................................................................
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1: QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ VẤN ĐỀ VỀ THÀNH VIÊN HỘI
ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP ............................................................................. 7
1.1 Quản trị công ty và sự cần thiết của thành viên Hội đồng quản trị độc lập ... 7
1.1.1 Khái niệm về quản trị công ty và mô hình quản trị công ty trên thế giới7
1.1.2 Sự cần thiết phải có thành viên Hội đồng quản trị độc lập ............... 10
1.1.2.1 Đảm bảo tính khách quan trong các quyết định liên quan đến hoạt
2.1.1.2 Mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam .......... 38
2.2 Vấn đề về thành viên Hội đồng quản trị độc lập ở Việt Nam.................... 42
2.2.1 Sự cần thiết của thành viên Hội đồng quản trị trong các công ty của
Việt Nam ........................................................................................... 42
2.2.2 Thực trạng về thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong các công ty
Việt Nam ........................................................................................... 47
2.2.2.1 Thực tế về thành viên Hội đồng quản trị trong các công ty ở Việt
Nam ................................................................................................ 47
2.2.2.2 Tính độc lập của thành viên Hội đồng quản trị độc lập ở Việt Nam
hiện nay........................................................................................... 49
2.2.3 Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thành viên Hội
đồng quản trị độc lập ........................................................................ 51
2.2.3.1 Điều kiện, tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị độc lập .... 52
2.2.3.2 Số lƣợng các thành viên Hội đồng quản trị độc lập theo pháp luật
Việt Nam......................................................................................... 58
2.3 Những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến
thành viên Hội đồng quản trị độc lập........................................................ 60
2.3.1 Về điề u kiê ̣n của thành viên Hội đồng quản trị độc lập .................. 60
2.3.2 Về vai trò của thành viên Hội đồng quản trị độc lập ....................... 61
2.3.3 Về trách nhiê ̣m của thành viên Hội đồng quản trị độc lập .............. 62
7
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LIÊN QUAN ĐẾN THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP ......... 66
3.1
Nhƣ̃ng nguyên tắ c cơ bản về hoa ̣t đô ̣ng của thành viên HĐQT đô ̣c lâ ̣p cầ n
đƣơ ̣c quy đinh
Nội dung
1. CSRS
Ủy ban Quản lý Chứng khoán Trung Quốc
2. CTCP
Công ty cổ phần
3. IFC
Tổ chức Tài chính Quốc tế
4. HOSE
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
5. HNX
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
6. OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
7. HĐQT
Hội đồng quản trị
đông mà là nhƣ̃ng ngƣời đƣơ ̣c các
cổ đông thuê . Tuy không phải là cổ đông
nhƣng lại nhƣ̃ng ngƣời điề u hành , quản lý công ty đứng ra t ổ chức hoạt động
kinh doanh của công ty và đƣơ ̣c ủy thác rấ t nhiề u quyề n ha ̣n
. Chính vì vậy ,
không hoàn toàn loa ̣i trƣ̀ viê ̣c họ có thể lạm dụng quyền hạn đƣợc ủy thác để trục
lơ ̣i, hoạt động không vì quy ền lợi của các cổ đông. Điều này dẫn đến những
xung đột về lợi ích giữa một bên là cổ đông với một bên là những ngƣời quản lý
điều hành công ty với tƣ cách là ngƣời trực tiếp quản lý, sử dụng vốn [31]. Mă ̣t
khác, ngay cả khi các cổ đông trƣ̣c tiế p quản lý điề u hành công ty thì nguy cơ
của việc lạm dụng vai trò và quyền hạn để trục lợi không phải là không xảy ra
.
Kiề m chế , kiể m soát hoa ̣t đô ̣ng của nh ững ngƣời điều hành công ty là một trong
nhƣ̃ng yêu cầ u quan tro ̣ng trong hoa ̣t đô ̣ng quản lý điề u hành công ty
viê ̣c ta ̣o ra mô ̣t cơ chế nô ̣i ta ̣i để kiể m soát
. Do đó ,
, kiề m chế hoa ̣t đô ̣ng của hô ̣i đồ ng
quản trị từ lâu đã đƣợc coi là một yếu tố quan trọng trong quản trị công ty cổ
phầ n nói riêng và doanh nghiê ̣p có vố n góp nói chung.
10
vậy, để hội nhập với quốc tế, nhằm tạo lòng tin với công chúng vào trị trƣờng
vốn, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về thành viên Hội đồng quản
trị độc lập đối với các công ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng và công ty
niêm yết. Với mong muốn đƣợc góp phầ n làm rõ các vấ n đề lý luâ ̣n và thƣ̣c tiễn
về thiế t chế thành viên Hô ̣i đồ ng quản tri ̣đô ̣c lâ ̣p , học viên chọn đề tài “Quy chế
pháp lý về thành viên Hội đồng quản trị độc lập ở Việt Nam hiện nay” làm
luận văn thạc sỹ của mình.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Thành viên Hội đồng quản trị độc lập là một khái niệm pháp lý còn khá
mới ở Việt Nam. Có thể nói cho đến thời điểm hiện tại, chƣa có một công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về chế định thành viên Hội đồng
quản trị độc lập.
Vấn đề này đƣợc đề cập chủ yếu thông qua các bài viết đăng trên báo chí
nhƣ: “Để hiểu thêm về thành viên độc lập” của tác giả Nguyễn Hữu Long đăng
trên tạp chí Thời báo Kinh tế Sài Gòn, “Thành viên Hội đồng quản trị độc lập –
anh là ai?” của tác giả Hải Lý, …. Một số chuyên gia pháp luật cũng đã bàn đến
thành viên độc lập trong các công trình đơn lẻ nhƣ tác giả Lê Hoàng Tùng.
Nhƣng bài viết “Thành viên Hội đồng quản trị độc lập: Quy định và thực tiễn”
của tác giả Lê Hoàng Tùng, đăng trên Tạp chí Nhà quản lý số 68, tháng 2 năm
2009 cũng mới chỉ đề cập đến tiêu chuẩn về tính độc của một thành viên Hội
đồng quản trị độc lập gồm: độc lập trong quan hệ nhân thân và độc lập trong
quan hệ sở hữu kinh tế cũng nhƣ các lý do ảnh hƣởng đến tính độc lập của thành
viên này và thực tế thực hiện ở Việt Nam.
Tác phẩm “Công ty vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp
2005” của đồng tác giả Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung – xuất bản tháng
5.
Nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm về quản trị công ty và thành viên Hội đồng
quản trị độc lập; tìm hiểu các tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng độc lập ở các
nƣớc trên thế giới và Việt Nam.
13
- Tìm hiểu thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam và những vƣớng mắc,
bất cập khi áp dụng mô hình thành viên Hội đồng quản trị độc lập ở một số công
ty.
- Đƣa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về thành
viên Hội đồng quản trị độc lập.
6.
Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, luận văn chủ yếu sử dụng phƣơng
pháp nghiên cứu bao gồm:
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: các quy định của khung pháp luật hiện
hành về quản trị công ty nói chung và thành viên Hội đồng quản trị độc lập.
Trong đó tập trung vào các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng
khoán năm 2006, Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC, Quyết định số 15/2007/QĐBTC, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
Phƣơng pháp so sánh: khi so sánh các quy định của khung pháp luật Việt
Nam về thành viên Hội đồng quản trị độc lập với các nƣớc trên thế giới và các
Nguyên tắc của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Phƣơng pháp liệt kê: khi liệt kê các quy định của pháp luật Việt Nam,
CHƢƠNG 1
QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ VẤN ĐỀ VỀ
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP
1.1 Quản trị công ty và sự cần thiết của thành viên Hội đồng quản trị độc
lập
1.1.1 Khái niệm về quản trị công ty và mô hình quản trị công ty trên thế giới
Trong mấy thập kỷ gần đây, một thuật ngữ đƣợc giới doanh nhân biết đến
nhƣ một hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột trong doanh nghiệp đƣợc gọi là
“Corporate Governance” – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ƣơng dịch
thành “Quản trị công ty”. “Quản trị công ty” liên quan tới một tập hợp các mối
quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi
liên quan khác. Hiện nay, “quản trị công ty” đang thu hút sự chú ý của đông đảo
quần chúng vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của doanh
nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “quản trị công ty là
một hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu
trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số
những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty như Hội đồng quản trị, cổ
đông và những chủ thể khác có liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết
định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt
động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện mục tiêu đó” [27].
Nhƣ vậy, quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, đƣợc xác định
bởi các cơ cấu và các quá trình: Đó là mối quan hệ giữa các cổ đông và Ban
16
giám đốc bao gồm việc các cổ đông cung cấp vốn cho Ban giám đốc để thu đƣợc
Cấu trúc quản trị nội bộ của một công ty cổ phần theo truyền thống Thông
luật gồm có: Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng giám đốc. Hội đồng giám đốc
đồng thời cũng là bộ phận điều hành công ty sẽ do Đại hội đồng cổ đông bầu
chọn. Các thành viên của Hội đồng giám đốc đƣợc gọi là directors. Công việc
kinh doanh của công ty đƣợc quản lý bởi, hay dƣới sự chỉ đạo của Hội đồng
giám đốc. Hội đồng giám đốc bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc ngƣời
khác đảm nhiệm các công việc điều hành họat động kinh doanh hàng ngày của
công ty. Ngƣời đứng đầu của bộ phận điều hành là Tổng giám đốc. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tổng giám đốc trong pháp luật Anh – Mỹ do Hội đồng giám đốc
quyết định chứ không đƣợc quy định nhƣ trong pháp luật Việt Nam. Do vậy,
không phải các Tổng giám đốc đều có quyền lực nhƣ nhau [Xem Phụ lục 1].
(ii)
Hội đồng quản trị hai tầng:
Đặc trƣng của Hội đồng này là sự tồn tại của các bộ phận kiểm soát và
quản lý tách biệt. Nó có hai tầng, ở trên đƣợc gọi là Hội đồng giám sát, ở dƣới là
Hội đồng chấp hành – Hội đồng này đề bạt Ban giám đốc. Hội đồng ở trên yêu
cầu hội đồng dƣới đệ trình các kế hoạch và đề nghị để xem xét, chấp thuận, sau
đó kiểm tra lại và đánh giá kết quả thực hiện [Xem Phụ lục 2].
Cấu trúc hội đồng hai tầng với sự tham gia của ngƣời lao động trong các
công ty cổ phần đã từng đƣợc cho là trái tim của nền công nghiệp Đức. Sự tham
gia của ngƣời lao động vào cấu trúc quản trị công ty cổ phần theo luật Đức thể
hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hƣớng về những ngƣời có liên quan,
hƣớng vào việc bảo vệ ngƣời lao động và chủ nợ. Trong khi đó, mô hình quản trị
kiểu Anh – Mỹ nhằm hƣớng tới cổ đông, tập trung bảo vệ nhà đầu tƣ, chủ yếu là
cổ đông.
18
không phải ai cũng có thời gian, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh để điều
hành công ty. Do đó, các cổ đông giao tiền cùng với quyền định đoạt số tiền ấy
cho ngƣời quản lý, coi những ngƣời này là đại diện của mình để tiến hành kinh
19
doanh và chỉ giữ lại một số quyền tối thiểu để tự bảo vệ, đồng thời ràng buộc
trách nhiệm vào ngƣời đại diện cho mình. Những ngƣời quản lý này đƣợc tập
hợp thành một hội đồng gọi là Hội đồng quản trị (HĐQT). HĐQT đƣợc ví nhƣ là
trung tâm của công ty, là cầu nối giữa các cổ đông và Ban giám đốc nhằm bảo vệ
lợi ích của các cổ đông nói riêng và toàn công ty nói chung. Trong đó các thành
viên HĐQT là “khối óc điều khiển của doanh nghiệp” [14,tr.58]. Họ có nghĩa vụ
cẩn trọng và trung thành với lợi ích của công ty. Để thực hiện đƣợc nghĩa vụ đó,
một yêu cầu đặt ra là các phán quyết mà HĐQT đƣa ra đòi hỏi phải có tính khách
quan và độc lập. Nếu các quyết định chỉ dựa trên lợi ích của một ngƣời/một
nhóm ngƣời thì sẽ ảnh hƣởng xấu đến sự lành mạnh của công ty, là tiền đề xuất
hiện những mâu thuẫn nội bộ. Thế nhƣng, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu
hết các quốc gia, các thành viên HĐQT lại là ngƣời đại diện cho số lƣợng lớn cổ
phần trong công ty. Không những thế, những ngƣời này còn đƣợc bổ nhiệm giữ
chức vụ trong Ban Điều hành/Ban Giám đốc. Trong khi đó, thiết chế HĐQT
đƣợc đặt ra là để giám sát các hoạt động của Ban giám đốc. Nếu một ngƣời giữ
vị trí kiêm nhiệm nhƣ vậy thì quyền lợi của các cổ đông khác (đặc biệt là cổ
đông thiểu số) liệu có đƣợc đảm bảo? Để nâng cao chất lƣợng quản trị công ty và
khắc phục hiện tƣợng tƣ lợi , nhiều công ty trên thế giới đã áp dụng mô hình
HĐQT có thành viên độc lập – gọi chung là thành viên HĐQT độc lập . Sƣ̣ cầ n
thiết của thành viên HĐQT độc lập đƣơ ̣c lý giải bởi nhiề u nguyên nhân khác
nhau.
1.1.2.1 Đảm bảo tính khách quan trong các quyết định liên quan đến hoạt
động của công ty
21
Các quyết định mang tính chiến lƣợc có thể đƣợc đƣa ra từ sự lạc quan
(hoặc bi quan) quá mức, dẫn đến vội vàng, liều lĩnh, không tính hết các yếu tố
rủi ro, và dễ dẫn đến thất bại. Khi đó, với góc nhìn của ngƣời ngoài, thành viên
HĐQT độc lập có thể có nhiều thông tin hơn về thị trƣờng, môi trƣờng kinh
doanh để đƣa ra những phân tích, nhận định sáng suốt hơn, giúp cho HĐQT
“tỉnh táo” lại để đƣa ra các quyết định đúng đắn.
1.1.2.3 Yêu cầu cần thêm kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và quản lý
Các thành viên HĐQT bên trong có thể rất giỏi, nhƣng không thể giỏi hết
mọi mặt. Đó là chƣa kể, trong nhiều trƣờng hợp, các thành viên HĐQT bên trong
chỉ quen với cách làm ăn đơn giản ở quy mô nhỏ, không có đủ kiến thức, kinh
nghiệm để tổ chức quản lý công ty ở giai đoạn phát triển lớn mạnh. Nếu có thành
viên độc lập thì sẽ tập hợp đƣợc nhiều kinh nghiệm của các thành viên đến từ các
ngành, lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Khi đó, việc đƣa những thành viên độc
lập có năng lực, kinh nghiệm từ bên ngoài vào để giúp lèo lái công ty là điều hết
sức cần thiết.
1.1.2.4 Đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động của công ty
Những công ty đại chúng và công ty niêm yết rất cần chứng tỏ sự minh
bạch của mình để làm an lòng cổ đông và thu hút thêm các nhà đầu tƣ. Một trong
những cách thể hiện sự công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh của
công ty là sự có mặt của ít nhất một phần ba số thành viên độc lập trong cơ cấu
của HĐQT. Các thành viên độc lập thƣờng có những quan điểm rõ ràng và
chuyên nghiệp về một lĩnh vực nào đó và có thể phát hiện ra các vấn đề trong
quản lý một cách chính xác hơn. Họ thƣờng có những phản biện lại các vấn đề
nhằm bảo đảm doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật. Nhƣ vậy, ngoài việc
đóng góp kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và quản lý và đƣa ra những ý kiến
cung cách làm việc hiện tại.
Ở công ty niêm yết, yêu cầu cần có thành viên độc lập sẽ cao hơn do một
số cổ đông nhỏ không có điều kiện có tiếng nói trong các quyết định. Chính nhờ
tính chất độc lập mà các thành viên độc lập thường được coi là những người
được trang bị tốt hơn để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông này trước những cám
dỗ lạm dụng quyền hành của các cổ đông đa số”.
Từ những yêu cầu cấp thiết đó, thành viên Hội đồng quản trị độc lập là một
chế định cần đƣợc các quốc gia trên thế giới tiến tới xây dựng và hoàn thiện.
1.2 Khái niệm và đặc điểm của thành viên Hội đồng quản trị độc lập
1.2.1. Sự ra đời của khái niệm “thành viên Hội đồng quản trị độc lập”
Khái niệm về thành viên HĐQT độc lập đƣợc đề cập nhiều trong khoảng hai
mƣơi năm trở lại đây. Tại Trung Quốc, thuật ngữ này đƣợc xuất hiện trong bản
“Hướng dẫn việc thiết lập các điều khoản của Công ty niêm yết” do Ủy ban
Quản lý Chứng khoán Trung Quốc (CSRS) ban hành ngày 26 tháng 12 năm
1997. Trong Điều 112 của bản Hƣớng dẫn này, CSRC đã đề xuất các công ty
niêm yết có thể có thành viên độc lập trong hoạt động của các công ty đó. Cho
đến năm 2002, sau sự sụp đổ của tập đoàn năng lƣợng lớn nhất nƣớc Mỹ - Enron
do những gian lận về kế toán, thị trƣờng chứng khoán nhiều nƣớc đã phải
nghiêm túc nhìn nhận lại hệ thống Corporate Governance ở các công ty niêm yết.
Hai vấn đề chính đƣợc xem xét là: (i) vấn đề về thành viên HĐQT độc lập và (ii)
vấn đề về kiểm toán viên độc lập.
Vấn đề thành viên HĐQT độc lập đƣợc cân nhắc về tỉ lệ, tiêu chuẩn, quyền
và nghĩa vụ. Tháng 6 năm 2002, đã có một Bản kiến nghị đƣợc trình lên Sở
Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE) trong đó đưa ra những yêu cầu định
24
HĐQT độc lập.
(v)
Gia tăng quyền lực và trách nhiệm của Ủy ban kiểm toán, kể cả giao
cho họ quyền quyết định thuê mƣớn hay sa thải các kiểm toán viên
độc lập, và phê duyệt bất kỳ quan hệ phi kiểm toán đáng kể nào với
các kiểm toán viên độc lập.
25