Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
Bộ môn Luật Thƣơng mại
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHOÁ 35 (2009-2013)
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TĂNG VÀ
GIẢM VỐN ĐIỀU LỆ CỦA DOANH NGHIỆP
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
NĂM 2005
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Cao Nhất Linh
Bộ môn: Luật Thƣơng mại
Dƣơng Kim Yến
MSSV: 5095492
Lớp: Luật Thƣơng mại 2
Cần Thơ, tháng 11/2012
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 1
2.1.1. Tăng và giảm vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên ............... 32
2.1.1.1. Vấn đề tăng vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên ............. 32
2.1.1.2. Vấn đề giảm vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên ............ 36
2.1.2. Vấn đề tăng và giảm vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên ............... 38
2.1.2.1. Vấn đề tăng vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên........................ 39
2.1.2.2. Vấn đề giảm vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên ....................... 40
2.1.3. Vấn đề tăng và giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần ....................................... 41
2.1.3.1. Vấn đề tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần .............................................. 42
2.1.3.2. Vấn đề giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần ............................................. 51
2.1.4. Vấn đề tăng và giảm vốn điều lệ của công ty hợp danh..................................... 54
2.1.4.1. Vấn đề tăng vốn điều lệ của công ty hợp danh ............................................ 55
2.1.4.2. Vấn đề giảm vốn điều lệ của công ty hợp danh ........................................... 57
2.2. Trình tự, thủ tục đăng ký tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp ............... 57
CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VÀ GIẢM VỐN ĐIỀU LỆ CỦA
DOANH NGHIỆP................................................................................................................. 61
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 2
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
3.1. Các vấn đề về vốn điều lệ và việc tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp ....... 61
3.1.1. Vấn đề góp vốn điều lệ của doanh nghiệp .......................................................... 61
3.1.1.1. Vốn điều lệ trong các loại hình công ty TNHH ........................................... 61
3.1.1.2. Vốn điều lệ của công ty cổ phần .................................................................. 64
3.1.1.3. Vốn điều lệ của công ty hợp danh................................................................ 70
3.1.2. Hạn chế trong các quy định về tăng và giảm vốn điều lệ .................................. 71
phát triển. Bên cạnh đó, sức ép cạnh tranh cũng ngày càng gia tăng, những biến động
của kinh tế thế giới cũng tác động nhanh hơn, mạnh hơn đến nền kinh tế trong nước,
mặc dù vậy, sau năm năm gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ
trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Trong tình hình đó,
các văn bản quy phạm pháp luật chính là hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Với mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiến gần hơn với pháp luật của các nền
kinh tế phát triển trên thế giới, trong những năm gần đây, Nhà nước ta rất quan tâm
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2005 ra
đời đã mang theo nhiều tiến bộ mới, việc xây dựng các mô hình kinh doanh ngày
càng hoàn thiện hơn, thêm vào đó là sự phát triển về lượng và chất của các doanh
nghiệp trên cả nước, mang lại sự tăng trưởng rõ rệt cho nền kinh tế nước nhà. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn còn có nhiều bất cập, vướng mắc xuất
phát từ chính bản thân Luật doanh nghiệp cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành
đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp. Trong đó, vấn đề về vốn
điều lệ, đặc biệt là tăng và giảm vốn điều lệ đã và đang là mối quan tâm hàng đầu đối
với các nhà kinh doanh và cả các cơ quan Nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật là mục tiêu lý tưởng nhằm đạt được một hệ thống pháp
luật phù hợp với thực tiễn các quan hệ xã hội, đáp ứng được những đòi hỏi của xã
hội. Để góp phần vào hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp, việc nghiên cứu về tăng,
giảm vốn điều lệ và các vấn đề có liên quan là một vấn đề đặt ra hết sức cần thiết,
nhằm tìm ra những hạn chế, bất cập và vướng mắc trong quá trình thực thi để có
hướng khắc phục hợp lý, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các loại hình doanh
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 4
SVTH: Dương Kim Yến
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các giáo trình, sách báo, tạp chí tham khảo được, người viết sử
dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, phương pháp tổng hợp,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp liệt kê để hoàn
thành nội dung của đề tài.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 5
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
5. Kết cấu của luận văn
Với tên đề tài “Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh
nghiệp theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005”, luận văn bao gồm phần mở
đầu, phần nội dung và kết luận. Nội dung luận văn được chia thành ba chương như
sau:
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về vốn và vốn điều lệ của doanh
nghiệp
Nội dung cơ bản của chương này là các vấn đề liên quan đến vốn của doanh
nghiệp, khái niệm và phân loại vốn, ý nghĩa của vốn và sơ lược về sự phát triển của
các quy định về vốn điều lệ của doanh nghiệp ở nước ta.
Chƣơng 2. Pháp luật về tăng và giảm vốn điều lệ của các loại hình doanh
nghiệp theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
Trong chương 2, người viết tập trung tìm hiểu quy định của pháp luật hiện
hành về tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp và trình tự, thủ tục của việc tăng,
phải đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, sự
biến động của vốn là cơ sở và dấu hiệu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Như vậy, vốn có vị trí then chốt tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp, và xuất phát từ
đó, những vấn đề về vốn của doanh nghiệp đã được đặt ra.
1.1.1. Khái niệm vốn của doanh nghiệp
Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “capital” có nghĩa là “tư
bản”. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về định
nghĩa chính xác của vốn. Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều
kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá
trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản
xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục
suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp. Một cách thông dụng nhất, vốn được hiểu là
các nguồn tiền được tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn này được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau và tại các thời điểm
khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá. Nó giống
các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người chủ
sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Chi phí sử
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 7
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên
vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh để sinh lời1.
website: />[ngày truy cập: 12/7/2012]
2
Võ Đình Toàn (Chủ biên), Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an
nhân dân, 2004, trang 247
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 8
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
1.1.2. Phân loại vốn của doanh nghiệp
Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang
quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp. Để có thể quản lý và sử dụng vốn một cách có
hiệu quả, doanh nghiệp cần phải phân loại vốn.
1.1.2.1. Phân loại theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này thì vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả.
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Nó bao gồm vốn
do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra và phần vốn bổ sung được hình thành từ kết quả kinh
doanh. Vốn chủ sở hữu là loại vốn nhận được sự quan tâm đặc biệt của hầu hết các
chủ thể liên quan đến doanh nghiệp, bởi nó phản ánh được tiềm lực kinh tế của doanh
nghiệp, đồng thời nó chính là số vốn thực chất mà doanh nghiệp đang có được.
Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm = Giá trị tổng tài sản – Tổng nợ phải trả3.
Trong đó, vốn chủ sở hữu sẽ bao gồm các khoản sau: Đối với công ty trách
nhiệm hữu hạn (sau đây gọi tắt là công ty TNHH), công ty cổ phần, công ty hợp danh
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
nghiệp khác nhau thì có nguồn vốn chủ sở hữu khác nhau5. Nguồn vốn chủ sở hữu là
số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán và nguồn
vốn này do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả
kinh doanh, do đó, nó không phải là một khoản nợ6.
Các khoản nợ phải trả là phần vốn không thuộc chủ sở hữu, do doanh nghiệp
khai thác, huy động từ các chủ thể khác qua vay nợ, thuê mua, ứng trước tiền hàng…
Doanh nghiệp được quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian sau đó phải hoàn trả
cho chủ nợ. Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả bao gồm nợ
ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác. Trong đó, nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh
nghiệp phải trả cho chủ nợ trong một thời gian ngắn, bao gồm các khoản như: vay
ngắn hạn; phải trả cho người bán, người nhận thầu; người mua trả tiền trước; thuế và
các khoản nợ phải nộp cho Nhà nước, các khoản phải trả, phải nộp khác… Nợ dài
hạn là khoản vốn mà doanh nghiệp nợ các chủ thể khác trên một năm mới phải trả
hoàn toàn, bao gồm vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển, nợ thuê mua tài sản cố
định, phát hành trái phiếu… Nợ khác có thể là các khoản phải trả như nhận ký quỹ,
ký cược dài hạn, các khoản chi phí phải trả khác. Việc huy động các loại vốn này rất
quan trọng đối với doanh nghiệp để đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho sản
xuất kinh doanh. Với sức ép về chi phí sử dụng vốn vay, thời hạn hoàn trả vốn sẽ thúc
đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Mặt khác, việc tranh thủ chiếm
dụng sử dụng các khoản nợ phải trả trong thời hạn cho phép cũng tạo điều kiện cho
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh7.
Như vậy, dù là vốn chủ sở hữu hay nợ phải trả đều tạo thành vốn kinh doanh
cho doanh nghiệp, người ta còn gọi đó là cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp có được cấu trúc vốn tối ưu sẽ phát huy được hiệu quả cao nhất trong hoạt
động tài chính của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển
Dựa vào đặc điểm luân chuyển hay còn gọi là phương thức chu chuyển thì vốn
quyền tác giả, thị quyền, nhãn hiệu thương mại… Vốn cố định thường chiếm một tỷ
trọng lớn và quyết định đến tốc độ tăng trưởng, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp9.
Vốn lưu động là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản lưu động của doanh
nghiệp. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian sử dụng ngắn, chỉ tham gia vào
một chu kỳ sản xuất và thường có giá trị nhỏ và hình thái vật chất của nó chủ yếu
thuộc về đối tượng lao động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh tài sản lưu động
không ngừng vận động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên
tục và thuận lợi10.
1.1.2.3. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn thì vốn của doanh nghiệp gồm có
vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Vốn ngắn hạn là vốn có thời hạn đến một năm, vốn trung hạn là vốn có thời
hạn trên một năm đến năm năm, còn vốn dài hạn là vốn có thời hạn từ năm năm trở
lên11. Ngoài ra còn có quan điểm vốn trung hạn có thời hạn từ trên một năm đến ba
năm và từ ba năm trở lên là vốn dài hạn12. Thời gian sử dụng vốn cũng có sự ảnh
hưởng khá lớn đến việc sử dụng hiệu quả đồng vốn của doanh nghiệp vì trong thời
gian sử dụng vốn, doanh nghiệp phải phát huy năng lực, tạo ra nhiều lợi nhuận để chi
trả chi phí sử dụng vốn.
1.1.2.4. Phân loại về mặt pháp lý
Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định hai loại vốn là vốn pháp định và vốn
điều lệ được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật và cơ quan chức năng.
Vốn có vai trò cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào trên thế giới
khi ra thương trường. Có thể nói, vốn là yêu cầu quan trọng hàng đầu mà các quốc
8
Lê Thị Mận, Lý thuyết tài chính – tiền tệ, Nxb Lao động – xã hội, 2010, trang 86
Võ Đình Toàn (Chủ biên), Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an
nhân dân, 2004, trang 254
10
Trong nền kinh tế thị trường, nhà kinh doanh có nhiều quyền tự do hơn trong
việc lựa chọn hình thức, quy mô kinh doanh nhưng vẫn trong khuôn khổ của pháp
luật. Và đối với vấn đề vốn của doanh nghiệp thì Nhà nước đặt ra mức vốn tối thiểu
bắt buộc phải có, là một điều kiện khi nhà kinh doanh thành lập doanh nghiệp hoạt
động trong một số ngành, nghề nhất định như kinh doanh tiền tệ, tín dụng, kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, vận chuyển hàng không, dịch vụ đòi nợ
thuê, sản xuất phim, kinh doanh bất động sản... Trong suốt quá trình kinh doanh, vốn
sở hữu, vốn đầu tư ban đầu và vốn điều lệ của doanh nghiệp không được thấp hơn số
vốn pháp định. Vốn pháp định là một quy định mang tính bắt buộc khi thành lập
doanh nghiệp. Nhà nước kiểm soát hoạt động đầu tư, kinh doanh và đặc biệt là năng
lực tài chính của doanh nghiệp dựa trên vốn pháp định, đây là biện pháp để đánh giá
đúng thực thực lực và quy mô, hạn chế tình trạng nhà đầu tư ra thương trường bằng
“tay không” gây rủi ro cho nền kinh tế nói chung và đối tác của họ nói riêng14. Hơn
nữa, quy định về vốn pháp định là việc làm cần thiết nhằm tạo sự an toàn cho xã hội,
bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và chủ nợ của các doanh nghiệp hoạt động trong
các ngành, nghề đó. Bởi đó là những lĩnh vực đòi hỏi mức độ vốn lớn để đảm bảo
hiệu quả kinh doanh và cũng là những lĩnh vực nhạy cảm, dễ tác động lây lan đến các
13
Trần Huỳnh Thanh Nghị, Quy định về vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam – dưới một góc
nhìn so sánh, tham khảo tại website: [ngày truy cập: 20/6/2012]
14
Trần Huỳnh Thanh Nghị, Quy định về vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam – dưới một góc
nhìn so sánh, tài liệu đã dẫn.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 12
theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà pháp luật quy định một quy
chế riêng về vốn điều lệ, tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số điểm tạo nên đặc trưng
cho vốn điều lệ của doanh nghiệp. Sau đây là một số nét đặc trưng cơ bản nhất:
Thứ nhất, vốn điều lệ được xác định bởi con số mà các thành viên góp hoặc
cam kết góp vốn. Việc thực góp và cam kết góp chỉ khác nhau ở yếu tố thời gian 18.
15
Trương Trọng Hiếu, Ý nghĩa của vốn và lý do tháo bỏ quy định về vốn pháp định, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 24, tháng 12/2010, trang 54
16
Trần Huỳnh Thanh Nghị, Quy định về vốn pháp định trong thành lập và hoạt động của doanh nghiệp,
website: [ngày truy cập:
20/6/2012]
17
Dương Đăng Chinh (Chủ biên), Giáo trình lý thuyết tài chính, tài liệu đã dẫn, trang 134
18
Phạm Hoài Huấn, Vốn điều lệ của công ty từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 02/2011, website: [ngày truy cập: 25/6/2012]
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 13
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
Trong thời gian thành viên chưa góp đủ vốn thì doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm
về mặt pháp lý. Vốn điều lệ hiện nay không quy định mức tối thiểu, còn vốn pháp
định thì được pháp luật quy định khá chặt chẽ về mức tối thiểu cũng như các vấn đề
có liên quan như văn bản xác nhận.
19
Bộ phận Tư vấn và Phân tích, CTCK Hà Nội, Vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu, tài liệu đã dẫn.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 14
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
So với vốn chủ sở hữu, vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ thường không bằng
nhau, vốn chủ sở hữu có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo tình hình hoạt động
của doanh nghiệp. Trường hợp vốn điều lệ lớn hơn vốn chủ sở hữu có thể bắt nguồn
từ việc chưa góp đủ vốn hoặc do vốn chủ sở hữu giảm đi do phần lỗ trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro có thể xảy ra là doanh nghiệp có thể thiếu vốn
để vận hành sản xuất kinh doanh. Về mặt pháp lý, thông tin về vốn được sử dụng làm
căn cứ pháp lý khi doanh nghiệp phát sinh các vấn đề tranh chấp, giải thể hay đơn
giản chỉ để biết được rằng một doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ góp đủ vốn hay
chưa. Chẳng hạn đối với công ty cổ phần, người ta thường căn cứ vào vốn điều lệ để
biết được số cổ phần mà công ty đã phát hành, số cổ phần được quyền phát hành. Nếu
phát sinh các vấn đề tranh chấp, hay phải bồi thường, các cổ đông có nghĩa vụ góp đủ
số vốn đã đăng ký. Đây là yêu cầu pháp luật để bảo đảm quyền lợi các bên liên quan,
đặc biệt là chủ nợ của công ty. Việc chưa góp đủ vốn hoặc lỗ làm giảm hiệu quả kinh
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
hiện nay quy định về vốn pháp định chỉ còn áp dụng đối với một số ngành nghề
nhưng không quy định về mức vốn tối thiểu không có nghĩa là khi đăng ký thành lập
không cần phải có vốn. Có thể nói vốn được xem là một trong những cơ sở quan
trọng nhất để đảm bảo cho sự tồn tại tư cách pháp lý của doanh nghiệp trước pháp
luật21. Hơn nữa, các doanh nghiệp luôn là lực lượng đi đầu trong việc ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội
và chấp hành pháp luật. Nên nguồn vốn xuất phát từ đó có vai trò hữu hiệu hỗ trợ cho
sự định hướng điều tiết vĩ mô nền kinh tế22.
Từ vị trí của Nhà nước, rõ ràng nghĩa vụ bảo hộ cho các chủ thể kinh doanh
hợp pháp cần phải được nêu ra. Trong mối quan hệ giữa hai bên doanh nghiệp và chủ
nợ, khi chưa biết “ai tốt ai xấu” thì Nhà nước phải bảo toàn quyền lợi của cả hai. Và
để thực hiện điều đó, các doanh nghiệp và chủ nợ trong quá trình hoạt động đều phải
thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Nếu doanh nghiệp biết sử
dụng hiệu quả nguồn vốn vay thì sẽ mang lại nhiều giá trị cho doanh nghiệp. Được
như vậy là do doanh nghiệp đã có được “lá chắn thuế”. Thay vì phải nộp thuế thu
nhập cho Nhà nước với một tỷ suất thuế cao khi sử dụng nguồn vốn sẵn có thì doanh
nghiệp chỉ phải trả tiền lãi vay với mức tỷ suất thấp hơn. Cũng có trường hợp lãi suất
sẽ rất cao như hiện nay, lúc đó doanh nghiệp nếu muốn có lợi thì sẽ chọn phương án
tăng vốn điều lệ. Cho nên, cơ chế tự điều chỉnh hành vi sẽ hướng dẫn doanh nghiệp
có hành động hợp lý. Không phải trong trường hợp này Nhà nước không thu được
thuế, bởi doanh nghiệp đã trả tiền lãi như một khoản chi phí “thuê tài sản” thì chính
chủ nợ phải là người nộp thuế cho Nhà nước trên cơ sở doanh thu có được từ hoạt
động kinh doanh của mình - hoạt động cấp vốn. Nghĩa vụ nộp thuế của các ngân hàng
thương mại là điển hình cho tình huống này. Nguồn thu ngân sách vẫn được bảo toàn,
trong khi nền kinh tế và xã hội xuất hiện thêm nhiều giá trị tăng thêm do doanh
trả hết tiền đi thì họ không còn gì. Cả hai đều bỏ tiền vào công ty nhưng tính chất
công việc của họ là khác nhau, một bên cho vay còn một bên là đầu tư, và từ đó, sự
trông đợi của họ cũng không giống nhau, bên mong trả gốc và lãi, bên mong chia cổ
tức. Mặc dù hai quyền lợi trái ngược nhau, nhưng sự có mặt của họ đều là cần thiết
cho sự tồn tại của công ty, nên tập tục rồi luật pháp phải dàn xếp sao cho ổn thoả đối
với cả hai bên. Giải pháp được sử dụng để dung hoà hai lợi ích này chính là vốn của
công ty. Quy định này đã được cả hai bên chấp nhận, và giải pháp này đã giải quyết
được những yêu cầu sau của cả hai bên:
Chủ nợ của công ty muốn công ty có một số tài sản lớn, những ai đòi hỏi chia
tài sản đó phải có ưu tiên thấp hơn họ, và những người này chính là các cổ đông.
Ngược lại các cổ đông muốn cho tài sản của công ty dùng để trả nợ cho các chủ nợ
càng ít càng tốt; Chủ nợ không muốn có thêm chủ nợ mới vì sợ họ tranh giành số tài
sản ít ỏi của công ty. Cổ đông muốn công ty mượn thêm nợ để hưởng lợi theo kiểu
“của người phúc ta” nhất là khi vốn họ ít; Chủ nợ không muốn cổ đông nhận được bất
cứ món tiền nào từ công ty cho đến khi nợ của họ được thanh toán. Trái lại, cổ đông
muốn công ty cứ chia cổ tức cho họ khi làm ăn có lãi; Chủ nợ muốn được bảo vệ
chống lại các kiểu chia tài sản khác nhau của công ty cho cổ đông, nhất là khi Hội
đồng quản trị chỉ là một tổ chức do cổ đông lập ra. Cổ đông muốn được tự do trong
việc phân chia tài sản. Từ quy định về vốn, người ta đã đề ra cách cho các cổ đông
góp phần trả nợ và chia lời lãi của công ty với nhau24.
Mặc dù hiện nay quy định về vốn của công ty cổ phần đã ngày càng hoàn thiện
hơn, nhưng những lý luận này vẫn còn giá trị trong phân tích tính chất, vai trò, ý
nghĩa của vốn về mặt pháp lý.
Về mặt kinh tế, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển
của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải có một lượng
vốn nhất định, lượng vốn đó không những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục mà còn phải dùng để cải tiến máy móc, thiết
bị, hiện đại hoá công nghệ. Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi
24
thu được những kinh nghiệm quản lý cũng như kỹ năng, công nghệ hiện đại. Vốn còn
là cơ sở để mua sắm các trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, tạo công ăn việc làm
cho người lao động, tăng thu nhập cho lao động. Ngoài ra, vốn còn được sử dụng
trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẳn có và tạo tiềm lực lớn
hơn cho sản xuất kinh doanh.
Đặc trưng của vốn là phải vận động và sinh lời, do vậy, một khi đã được tồn
tại trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải ngày càng phát triển, tức là đồng vốn của
doanh nghiệp ngày càng tăng theo thời gian hoạt động25.
1.1.3.2. Ý nghĩa của vốn điều lệ
Vốn điều lệ không chỉ có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp sở hữu vốn mà đối
với đối tác cũng như chủ nợ của doanh nghiệp và Nhà nước cũng có ý nghĩa quan
trọng không kém.
Thứ nhất, đối với doanh nghiệp sở hữu vốn
Vốn điều lệ là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp và là cơ sở cho
hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp khi mới thành lập dù với bất kỳ hình
thức nào đều phải có một số vốn nhất định, đây là điều kiện đảm bảo cho sự hình
25
Đề tài về vốn, Đề tài Nghiên cứu khoa học sinh viên, tài liệu đã dẫn, trang 13, 14
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 18
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
bởi lẽ, đó là căn cứ xác định quy mô doanh nghiệp, nếu không thực hiện một cách
nghiêm túc thì sau khi doanh nghiệp ra đời rất dễ gặp phải những vấn đề rắc rối về tài
chính. Chẳng hạn, doanh nghiệp không đủ vốn để hoạt động, doanh nghiệp không sử
26
Dương Anh Sơn, Có cần thiết phải có cơ chế giám sát vốn điều lệ hay không? Website:
[ngày truy cập: 07/9/2012]
27
Nguyễn Quang Sơn, Vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp, tài liệu đã dẫn, trang 11
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 19
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
dụng hết tài sản dẫn đến lãng phí, chi phí làm ra sản phẩm cao, ảnh hưởng giá cả và
lợi nhuận28. Đồng thời, tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, công nghệ, phương
thức kinh doanh, phương thức tổ chức sản xuất, môi trường kinh doanh v.v… mà cần
có một quy mô cũng như cấu trúc vốn phù hợp. Và cũng từ đó, Luật doanh nghiệp
2005 cho phép doanh nghiệp tự mình xác định quy mô vốn theo nhu cầu và quy mô
kinh doanh là một điểm tiến bộ mang lại nhiều lợi ích, hạn chế được nhiều rủi ro có
thể xảy ra cho doanh nghiệp. Điều này còn thể hiện quan điểm pháp lý của các nhà
làm luật là cho phép doanh nghiệp tự chủ kinh doanh, lựa chọn ngành nghề, địa bàn,
hình thức kinh doanh, quy mô kinh doanh. Mặt khác, vốn còn giúp doanh nghiệp mở
rộng và phát triển. Khi đi vào hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp thường không
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 20
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
cách không được tước bỏ đi những cơ hội quý giá và lợi ích hoàn toàn chính đáng
cho một đội ngũ thương nhân mới, chỉ vì với một lý do giản đơn là để đề phòng cho
những rủi ro dự cảm. Bằng không, việc làm của chúng ta chỉ mang lại cơ hội cho
những người giàu có, và như nhiều người đã nói, Luật doanh nghiệp lúc ấy chỉ là đạo
luật dành cho những người giàu có kinh doanh30.
Như vậy, đối với doanh nghiệp sở hữu vốn, mặc dù vốn điều lệ trong nhiều
trường hợp chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh nhưng nó
chính là tiền đề, cơ sở cho nhiều vấn đề quan trọng của doanh nghiệp.
Thứ hai, đối với đối tác, chủ nợ của doanh nghiệp
Trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn của doanh nghiệp, luôn phát
sinh các quan hệ kinh tế và một trong số đó chính là quan hệ với đối tác, chủ nợ. Đây
là quan hệ được thể hiện trong việc vay vốn hoặc thanh toán đối với các hoạt động
mua bán tài sản, vật tư, hàng hoá, dịch vụ…Chính vì vậy, để mối quan hệ được tốt
đẹp thì cần tạo niềm tin cho nhau. Và vốn điều lệ chính là một trong những yếu tố
đầu tiên được sử dụng để làm điều đó hay nói cách khác vốn điều lệ là sự cam kết
mức trách nhiệm vật chất của chủ sở hữu đối với đối tác, chủ nợ của doanh nghiệp.
Chức năng chính của vốn là phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, bên cạnh đó, nó cũng là một sự bảo đảm khi doanh nghiệp giao dịch
với các đối tác, vay vốn và các hoạt động khác. Đối với các doanh nghiệp lớn mạnh
thì việc bảo đảm nợ hay là tạo niềm tin khi hợp tác làm ăn là chuyện không khó,
nhiều trong việc bảo đảm khả năng tài chính đối với chủ nợ. Nếu như doanh nghiệp
sử dụng toàn bộ tài sản của mình cho hoạt động kinh doanh, thì toàn bộ khối tài sản
đó sẽ được dùng để bảo đảm nợ đối với khách hàng, chứ không riêng gì vốn của chủ
sở hữu (tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản tự có, tài sản tạo lập thêm và cả
tiền vay). Vì vậy, có thể khi cần thanh toán nợ, doanh nghiệp chưa cần thiết phải sử
dụng vốn gốc – vốn điều lệ của mình. Và chính vì thế, đòi hỏi về một mức vốn điều
lệ đủ lớn để bảo đảm nợ là không thật sự thuyết phục và xa rời thực tiễn hoạt động
kinh doanh31.
Tuy vậy, vai trò của vốn điều lệ đối với việc bảo đảm cho đối tác, chủ nợ của
doanh nghiệp vẫn không thể phủ nhận. Trước đây, pháp luật chú trọng bảo vệ của chủ
nợ hơn là con nợ. Nhưng hiện nay, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
mới đã khiến Nhà nước trở thành người trung gian bảo vệ lợi ích của tất cả các bên.
Chủ nợ của doanh nghiệp có thể là ngân hàng cho vay tiền, nhà cung cấp bán hàng
chịu, cơ quan thuế…Việc góp vốn và cam kết góp vốn là sự bảo đảm lâu dài cho việc
đầu tư của chủ nợ, nếu doanh nghiệp bị phá sản, vốn của doanh nghiệp kể cả các tài
sản của doanh nghiệp được mua từ số vốn ban đầu cũng được đem ra trả nợ. Số vốn
càng lớn thì rủi ro của chủ nợ càng nhỏ32.
Đối với các doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã
góp và cam kết góp thì khi doanh nghiệp xảy ra vấn đề về tài chính như không thanh
toán được nợ, phải bồi thường thiệt hại cho chủ thể khác… doanh nghiệp phải lấy
vốn điều lệ ra trả và khi đó các đối tác cũng như chủ nợ chỉ trông chờ vào vốn điều lệ
mà thôi. Còn đối với các doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư
nhân và công ty hợp danh thì họ không chỉ trông chờ vào vốn điều lệ mà cả tài sản
của chủ sở hữu. Đây chính là ý nghĩa quan trọng nhất của vốn điều lệ đối với đối tác
và chủ nợ của doanh nghiệp.
Thứ ba, đối với Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò điều tiết của Nhà nước là vô cùng quan
trọng và đóng vai trò chủ đạo để các chủ thể khác phát huy được tiềm năng. Pháp luật
điều chỉnh hoạt động kinh doanh phải đạt được hai mục đích chính: thứ nhất là tạo ra
một môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Thứ
nghề pháp luật quy định phải có vốn pháp định. Khi doanh nghiệp tăng hoặc giảm
vốn điều lệ thì phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Đây là
quy định không chỉ bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp mà còn bảo vệ cho các chủ nợ
của doanh nghiệp.
Qua những ý nghĩa của vốn đã nêu, có thể thấy rằng, việc bắt buộc phải có vốn
điều lệ để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết nhưng
duy trì về mức vốn tối thiểu cần phải có đối với doanh nghiệp là việc làm không
mang lại nhiều lợi ích. Biện pháp hữu hiệu là để cho các quy luật và nhu cầu của thị
trường tác động đến nhà đầu tư để họ tự quyết định. Và vấn đề của Nhà nước là xây
dựng, hoàn thiện khung pháp lý và tổ chức thực hiện hiệu quả, hạn chế và đẩy lùi
những hành vi lợi dụng các quy định mở của pháp luật dành cho doanh nghiệp để tư
lợi, tác động xấu đến môi trường kinh doanh chung34.
1.2. Sơ lƣợc quá trình phát triển quy định về vốn điều lệ của doanh nghiệp
qua các thời kỳ
Ở Việt Nam, các loại hình doanh nghiệp đã trải qua một quá trình phát triển
lâu dài, đầy biến động. Thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, các ngành
sản xuất vật chất ở nước ta là nông nghiệp và công nghiệp chịu tác động nặng nề của
chế độ thực dân kiểu cũ nên nông nghiệp thì nghèo nàn, lạc hậu, công nghiệp thì nhỏ
lẻ, què quặt. Trong hơn mười năm, từ năm 1930 đến năm 1943, cả nước chỉ có
33
34
Nguyễn Hợp Toàn, Giáo trình Pháp luật kinh tế, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008
Trương Trọng Hiếu, Ý nghĩa của vốn và lý do tháo bỏ quy định về vốn pháp định, tài liệu đã dẫn, trang 54
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 23
SVTH: Dương Kim Yến
hoạt động kinh doanh, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 21 tháng 12 năm 1990 có hiệu
lực từ ngày 15 tháng 4 năm 1991. Hai đạo luật đã tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho sự
phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta, là một mốc quan trọng và có ý nghĩa
quyết định trong quá trình đổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
35
60 năm kinh tế - xã hội Việt Nam, tham khảo tại: [ngày truy cập: 05/8/2012]
36
Lê Minh Toàn, Luật Kinh doanh Việt Nam, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2009, trang 8
37
Bùi Ngọc Cường, Nguyễn Viết Tý, Hoàng Thế Liên (Đồng chủ biên), Giáo trình Luật kinh tế, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Nxb Tư Pháp Hà Nội , 2004, trang 49
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 24
SVTH: Dương Kim Yến
Một số vấn đề pháp lý về tăng và giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005
chủ nghĩa. Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân quy định ba loại hình doanh
nghiệp cho khu vực kinh tế tư nhân là: công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh
nghiệp tư nhân. Theo đó, vốn pháp định được áp dụng cho tất cả các ngành nghề kinh
doanh và tất cả các loại hình doanh nghiệp. Mức vốn pháp định cụ thể áp dụng cho
38
Quỹ dự trữ là một loại quỹ bắt buộc mà các công ty có nghĩa vụ trích 5% lãi ròng hàng năm để lập cho đến
mức bằng 10% vốn điều lệ của công ty, xem Điều 29 và Khoản 7 Điều 13 Luật Công ty năm 1990
39
Xem thêm Điều 35 và Điều 36 Luật công ty năm 1990
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 25
SVTH: Dương Kim Yến