TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NHẶN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
KHỎA LUẬT
Bộ MÔN LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI
DŨI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Niền khóa (2006-2010)
Đề tài:
MỘT SỐ VẤN ĐÈ PHÁP LÝ VÈ NHƯỢNG QỤYÈN
THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ PHAP LUẬT
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướns dẫn:
Ths. Nguyễn Mai Hân
Sinh viên thưc hiên:
Đặng Xuân Mai
MSSV: 5062336
Lớp Luật Thương Mại 1- 32
Cần Thơ, Tháng 4/ 2010
21
BNQ
BNHQ
: Bên nhượng quyẻn
: Bên nhận quyền
1.................................................................................................................................... Lý do
chọn đề tài............................................................................................................7
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................8
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài.............................................................................8
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................8
5. Cơ cấu của luận vãn.......................................................................................8
CHƯƠNG 1.......!.............................................. .......................................... .........10
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ VÁN ĐỀ
PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN PHAP LUẬT CẠNH TRANH............................10
1.1. Khái quát chung về hoạt động nhượng quyền thương mại.....................10
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương
mại
trên thế giới..................................................................................................10
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động của nhượng quyền thương mạil 1
1.1.2.1............................................................................................................... Khái
niệm về nhượng quyền thương mại.........................................................11
1.1.2.2............................................................................................................... Đặc
điểm nhượng quyền thương mại..............................................................13
1.1.2.3............................................................................................................... Vai
trò của pháp luật về nhượng quyền thương mại.......................................15
1.2.
Khái hệ
quát
chung
pháp luật
cạnh
tranh mại
ở Việt
1.3. Mối quan
pháp
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC Độ PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH Ở VIỆT NAM....................’...................................................................53
3.1 Thực trạng về nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh
tranh
ở Việt Nam.......................................................................................................53
3.2. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện nhượng quyền thương mại dưới góc độ
pháp
luật cạnh tranh ở Việt Nam...............................................................................61
3.2.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong hoạt động nhượng
quyền thương mại.........................................................................................61
3.2.2..................................................................................................................... Một
số đề xuất cụ thể..........................................................................................63
6
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với vai trò tích cực của mình, nhượng quyền thương mại đã và đang được xem
là
cách thức hiệu quả để các chủ thể kinh doanh mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh
bằng cách khai thác các thương hiệu thành công qua việc chuyển giao quyền sử dụng
các quyền thương mại của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền.
Theo đánh giá của các chuyên gia, phương thức kinh doanh thông qua mô hình
nhượng quyền thương mại, là một cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp Việt
Nam, nhất là những doanh nghiệp muốn vươn xa nhưng chưa đủ sức tấn công vào thị
trường lớn nhu Mỹ, Nhật, Châu Âu. Mô hình nhượng quyền thương mại đã giúp họ
xâm nhập một cách gián tiếp vảo các thị trường với chi phí thấp nhất. Tuy nhiên đối
với các chủ doanh nghiệp vì muốn bảo vệ các quyền liên quan tới sở hữu trí tuệ nhu bí
không ít khó khăn khi tham gia hoạt động nhượng quyền như nguy cơ mất uy tín
thương
hiệu, bị một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong họp đồng nhượng quyền. Do đó
luận văn sẽ nghiên cứu lý luận chung về hoạt động nhượng quyền thương mại và liên
quan đến pháp luật cạnh tranh, làm sáng tỏ hơn vấn đề nhượng quyền thương mại dưới
góc độ pháp luật cạnh tranh ở một số nước trên thế giới và Việt Nam. Trên cơ sở đó
luận vãn sẽ đề xuất một số ý kiến để hoàn thiện những quy định về nhượng quyền
thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh. Từ đó luật cạnh tranh có thể áp dụng một
cách hiệu quả hơn trong nhượng quyền thương mại đối với nền kinh tế của Việt Nam
đang trên đường phát triển.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ luận vãn tốt nghiệp của mình, do giới hạn về thời gian nghiên
cứu nên người viết chỉ nghiên cứu các quy đinh liên quan đến pháp luật cạnh tranh
trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. Trên cơ sở liên hệ với pháp luật
một số nước trên thế giới. Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện những quy định
của pháp luật cạnh tranh về nhượng quyền thương mại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được dùng để nghiên cứu đề tài là phương pháp nghiên cứu
phân tích, tổng hợp tài liệu. Bên cạnh đó phương pháp sưu tầm và tổng họp các bài
nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, nhả luật học.v.v... Kết họp với phân tích, đối chiếu
với các quy định của pháp luật, nhằm tìm ra những điểm mới, điểm hạn chế để từ đó để
có một bài nghiên cứu hoàn chinh.
5. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận vãn gồm có ba
chương:
Chương 1: Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và vấn đề pháp lý liên
quan đến pháp luật cạnh tranh
8
thế giới thứ hai, khi hàng loạt thương hiệu trong các ngành dịch vụ, bán lẻ, chuỗi khách
sạn, nhà hàng, thức ăn nhanh ra đời, mô hình kinh doanh NQTM sau đó ngày càng phát
triển và phổ biến khắp thế giới.
Ngày nay, NQTM đã có mặt hầu nhu tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ thực
phẩm, nhà hàng, khách sạn, giải trí, dịch vụ thuê xe,.. .và phát triển với tốc độ cao trên
phạm vi toàn cầu với các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới như: Mc Donald’s, Lotteria, KFC,
Burger King,.. ..Theo số liệu thống kê tại Hoa kỳ hiện có hơn 500.000 họp đồng NQTM
với doanh thu lên đến 1.350 tỷ USD trong một năm; còn lại khu vực Bắc Mỹ, hiện có
hơn 750.000 ngàn họp đồng được ký kết. Riêng tại Châu Âu, thì sự tăng trưởng của
hoạt động này cũng rất lớn, năml988 toàn Châu Âu có tổng cộng 3.338 hệ thống
nhượng quyền với 167.432 cửa hàng kinh doanh khác nhau1.
Hoạt động nhượng quyền thương mại tại khu vực Châu Á cũng đang rất phát
triển và đạt được nhiều thành công, theo báo cáo của Hiệp hội nhượng quyền thương
mại thế giới vào năm 1988, thì hàng năm khu vực này có mức tăng trưởng trên 7% về
NQTM và đóng góp vào nền kinh tế khoảng 150 tỷ USD. Những lợi ích mà hoạt động
này mang lại cho các quốc gia là rất lớn, chính vì thế mà các quốc gia đã có những
chính sách khuyến khích phát triển Franchise, Hoa Kỳ được xem là quốc gia đầu tiên
đã
luật hóa hoạt động này và có chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh nghiệp kinh
10
2 Ts. Lý Quý Trung-Franchise- Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh-Nxb Trẻ
2006 Trang 30
Franchise tại Mỹ với số vốn đầu tư từ 500.000 đến 1.000.000 USD và thuê ít nhất 10
nhân công tại địa phương thì sẽ được cấp thị thực thường trú (Green Card) tại Mỹ.2 Tại
một số quốc gia còn đầu tư xây dựng các trung tâm học thuật, nghiên cứu chính sách về
Franchise, và ở các trường đại học cũng có riêng chuyên ngành về íranchisc để đào tạo,
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Ngày nay nhiều tổ chức phi chính phủ đã được thành
3 htlp;//www.saga.vn/vicw.aspx?icM579/ 03/02/2007
xuất hiện gàn như khắp thế giới và được các quốc gia đều đã luật hóa các quy định điều
chinh hoạt động nhượng quyền. Vì vậy, hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về
NQTM.
Theo Hiệp hội nhượng quyền thưong mại quốc tế (The International Franchise
Association) thì “nhượng quyền thưong mại (NQTM) là mối quan hệ theo họp đồng,
giữa bên giao và bên nhận quyền, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan
tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như: Bí quyết kinh
doanh, đào tạo nhân viên, bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phưong thức,
phương pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và bên nhận dạng, hoặc sẽ
tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”3. Theo
định nghĩa này thì vai trò của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều
hành doanh nghiệp được đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên giao
quyền.
Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng nhượng quyền thương mại là cách
thức
tiếp thị và phân phối sản phẩm, dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai đối tác; một bên
gọi là bên nhượng quyền (Franchisor) với một bên gọi là bên nhận quyền (Franchisee)
thông qua họp đồng NQTM.
Ở Việt Nam thì hoạt động NQTM có xu hướng phát triển với tốc độ cao trong
giai đoạn hiện nay. Nhưng xét một cách tổng quan thì chưa xứng với tiềm năng hiện có
trong nước, một phần là do khung pháp lý quy định về vấn đề này còn hạn chế, có thể
thấy hoạt động này chỉ được quy định một cách chi tiết trong luật thương mại 2005, từ
điều 284 đến 291, đây cũng được xem là một bước tiến lớn trong Luật thương mại Việt
Nam góp phần rút ngắn khoảng cách trong hoạt động thương mại so với các quốc gia
khác trên thế giới. Tuy nhiên trong Luật thương mại 2005 đã không đưa ra khái niệm
hoạt động NQTM một cách chi tiết mà chỉ được ghi nhận tại điều 284 của Luật thương
mại 2005 như sau:
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền
Từ những khái niệm trên cho ta thấy sự cần thiết của một hành lang pháp lý rõ
ràng và đầy đủ để điều chỉnh hoạt động này là rất quan trọng. Thực tiễn hoạt động
NQTM đang diễn ra hết sức sôi nổi, đầy tiềm năng, tuy nhiên đây là một phương thức
kinh doanh thương mại đặc biệt có liên quan đến cả hệ thống kinh doanh bao gồm:
nhiều chủ thể khác nhau và hên quan đén cả nền kinh tế, lại chứa đựng nhiều khả năng
gây ra tranh chấp. Vỉ thế việc ban hành các qui đinh của pháp luật điều chinh hoạt động
nhượng quyền, đảm bảo cho hoạt động này phát triển trong khuôn khổ của pháp luật
góp phần tạo sự thông thoáng trong kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế vả
các chủ thể. Ngoài ra, thì các yếu tố hình thành quan hệ pháp luật về NQTM đã tồn tại
và hoàn thiện hơn là rất càn thiết.
1.1.2.2. Đặc điểm nhượng quyền thương mại
Từ khái niệm trên cho ta thấy NQTM ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản
sau:
13
4 Theo khỏan 1, điều 3, Luật thương mai 2005
5 Theo khỏan 1, khỏan 2, điều 3, nghị định số 3 5 hướng dẫn chi tiet một số họat đông nhượng quyền thương
mai
6 Theo khỏan 3, khỏan 4, khoản 5, điều 3, nghị định số 35 hướng dẫn chi tiet một số họat đông nhượng
quyền
thương mai
Thứ nhất đây là một hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời4. Hoạt động
này được thực hiện dựa trên thỏa thuận giữa các bên tham gia nhằm mục đích là, thu
được lợi nhuận trong kinh doanh. Theo đó một bên sẽ trao quyền sử dụng các đối tượng
sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại của mình gọi chung là các quyền thương mại
như: tên thương mại, bí quyêt kinh doanh, biểu tượng kinh doanh... Và một bên phải
bỏ vốn ra đầu tư cơ sở kinh doanh cùng với việc trả phí cho việc sử dụng các quyền
thương mại đó, đồng thời cũng phải tuân thủ theo các quy định do BNQ đặc ra trong
Cũng nhu các quan hệ pháp luật khác thì quan hệ pháp luật về hoạt động
nhượng
quyền luôn tồn tại các mối quan hệ sau: đó là quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các
chủ thể tham gia kinh doanh và mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau. Còn
về mặt khách thể chính là hoạt động nhượng quyền và nội dung là quyền và nghĩa vụ
của các bên tham gia. Trong pháp luật về nhượng quyền có các quy định sau:
+ Quy định về tư cách chủ thể giữa các bên tham gia quan hệ nhượng quyền bao
gồm BNQ và BNHQ, quyền và nghĩa vụ các bên.
+ Quy định về chế độ pháp lý của họp đồng. Đó là cách thức xác lập họp đồng,
đối tượng, hình thức, thời hạn của họp đồng, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
tham gia khi thực hiện họp đồng và những điều kiện khi chấm dứt họp đồng và hậu quả
pháp lý khi giải quyết.
+ Các quy đinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối vói hoạt động nhượng
quyền thương mại: nghĩa vụ đãng ký hoạt động nhượng quyền giữa các bên tham gia,
cơ quan có thẩm quyền đăng ký, thủ tục đăng ký,... đồng thời quy đinh về các hành vi
vi phạm pháp luật, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm.
Hoạt động NQTM là hình thức kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho các bên
tham gia: Như hệ thống kinh doanh được mở rộng, thương hiệu được quảng bá rộng rãi,
đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp xâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng và chi
phí thấp. Riêng đối với các bên lần đầu kinh doanh nhượng quyền thì đây là cách lựa
chọn tốt nhằm giảm thiểu rủi ro, vì không cần phải trãi qua giai đoạn xây dựng và phát
triển ban đầu. Tuy nhiên hoạt động này càng được khuyến khích và mở rộng thì càng
chứa đựng khả năng tranh chấp cao. Bản thân quyền thương mại đã liên quan trực tiếp
tới lợi ích của một nhà kinh doanh, việc phát triển “quyền thương mại” đồng nghĩa với
việc nâng cao vị thế cạnh tranh của nhà kinh doanh đó trên thị trường và quyết định
mức tăng doanh thu, lợi nhuận. Việc nhượng lại quyền này cho một chủ thể khác để
cùng kinh doanh chia sẻ lợi ích nên dễ gây ra tranh chấp. Chính vì thế mà hoạt động
NQTM là một hoạt động đặc biệt, cần sự điều chỉnh của pháp luật nhằm giảm thiểu
những kẻ hở trong quá trình kinh doanh. Và đây cũng là công cụ hữu hiệu để BNQ duy
trì uy tín của nhãn hiệu, cũng như sự phát triển đồng bộ của cả hệ thống bằng những
hội một diện mạo mới, linh hoạt đa dạng và ngày càng phát triển, đồng thời cũng nảy
sinh nhiều vấn đề xã hội như: phá sản, kinh doanh gian dối cạnh tranh không lành
mạnh... Qua nhiều năm phát triển của nền kinh tế thị trường cạnh tranh không còn lả
khái niệm mới mẻ trong đời sống kinh tế -xã hội, và trong khoa học pháp lý của Việt
Nam. Cho đến nay các nhà khoa học trong nước và nước ngoài dường như chưa thỏa
mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi vì cạnh tranh là một hiện tượng của
nền kinh tể thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mỗi lĩnh vực. Mọi công đoạn của quá
trình kinh doanh và với bất cứ chủ thể nào đang tồn tại trên thị trường. Do đó nó được
nhìn nhận ở nhiều gốc độ khác nhau, tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các
16
7 TS. Lê Danh Vĩnh, Ths. Nguyễn Ngọc San, Hoàng Xuân Bắc: Pháp luật cạnh tranh tại ViệtNam. Nxb Tư
Pháp,
2006, tr. 9
8 Luật cạnh tranh cùa Pháp và Liên Minh Châu Âu, Nguyễn Hữu Huyên, Nxb. Tư pháp, HàNội, 2004, tr.l 1
nhà khoa học.Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh
tranh được cuốn Black’s law dictionary diễn tả là sự nổ lực hoặc hành vi của hai hay
nhiều thương nhân nhằm tranh giành lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba7.
Theo từ điển Comu của Pháp thì cạnh tranh được hiểu là “hành vi của doanh nghiệp
độc lập với nhau và đối thủ của nhau về cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc bị
mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”8.
Như vậy cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình mà các chủ thể tìm mọi biện
pháp để vượt lên so với các đối thủ về một lĩnh vực nhất định. Và còn nhiều các khái
niệm khác về cạnh tranh.
Từ những khái niệm trên về cạnh tranh và từ quá trình tìm hiểu mà người viết đã
có một quan niệm khác về cạnh tranh đó là “cạnh tranh là một động lực nhằm thúc đẩy
các chủ thể tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, có thể sáng tạo, vả linh
đẩy của lợi nhuận, thì các doanh nghiệp đã lợi dụng nhiều cách thức cạnh tranh khác
nhau trong thị trường để tối đa quá lợi nhuận. Để làm được điều đó thì các doanh
nghiệp phải thu hút được khách hàng, người tiêu dùng mua hàng hóa, dịch vụ của
doanh nghiệp mình.
Thứ tư, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành
thị trường mua hoặc bán sản phẩm. Cũng chính lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh
nghiệp, các nhà kinh doanh khi tham gia thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành
và tận dụng những cơ hội tốt nhằm mở rộng thị trường để mua hoặc bán sản phẩm. Kết
quả của cuộc cạnh tranh trên thị tường là người có thế mạnh sẽ được mở rộng được thị
phàn, còn người yếu hơn sẽ bị thu hẹp hoặc sẽ bị mất đi thị trường. Và doanh nghiệp đó
sẽ rời khỏi thị trường hoặc tìm cho mình một hướng đi khác phù họp hơn.
1.2.3. Vai trò của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt của vật chất, giá
cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường9. Nhờ có cạnh tranh, với sự
thay
đổi hên tục về nhu cầu cùng với bản tính tham lam của con người mà nền kinh tế thị
trường đã đem lại những bước nhảy vọt mà loài người chưa từng có được trong các
hình thái kinh tế trước đó. Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi nhuận của nhà
kinh doanh đã mau chống trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo không mệt mỏi làm
cho cạnh tranh được nhìn nhận là động lực của sự phát triển. Do đó cạnh tranh có
những vai trò cơ bản sau đây:
Một là, cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Trong môi trường cạnh
tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm mả ở đó họ được phục vụ bởi các bên tham
gia cạnh tranh. Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốt nhất mà thị trường có thể
cung ứng, vì chính họ là những người bỏ phiếu bằng chính đồng tiền để quyết định ai
tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi.
Hai là, cạnh tranh với vai trò điều phối. Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên,
cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực tập trung vào tay các doanh
18
1.2.4. Phân loại hành vi cạnh tranh
Theo Luật cạnh tranh 2004 thì hành vi cạnh tranh được chia thành hành vi
cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh10.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi xâm hại trực tiếp đến lợi
ích
của đối thủ cạnh tranh, cụ thể là xâm hại đếm trực tự lành mạnh của thị trường bằng
19
Hành vi hạn chế cạnh tranh cũng được thực hiện bằng những phương thức bất
chính nhưng lại xâm hại đến cơ cấu và thiết chế của thị trường, làm giảm thiểu hoặc thủ
tiêu cạnh tranh trên thị trường, so với cạnh tranh không lành mạnh hành vi hạn chế
cạnh
tranh có khả năng gây thiệt hại cao hơn. Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm ba dạng:
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền để hạn chế
cạnh tranh và tập trung kinh tế.
Khi đã chọn nền kinh tế thị trường, Luật cạnh tranh là một nhu cầu tất yếu để
bảo vệ lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp và người tiêu dùng đồng thời cũng ngăn
ngừa nạn “cá lớn nuốt cá bé”.Thực tế trong môi trường kinh doanh, bên cạnh những
hoạt động cạnh tranh lành mạnh đã và đang ngày càng nhiều hành vi cạnh tranh không
lành mạnh như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường.. .tồn tại. Đối với một bộ phận doanh nghiệp, thay vì coi cạnh tranh như là môt
cơ hội để mở rộng thị trường, cải tiến kĩ thuật.. .để mình lả sự lựa chọn tốt nhất của
người tiêu dùng thì họ lại nhìn cạnh tranh như một mối hiểm họa đối với sự phát triển,
khả năng thu lợi nhuận cũng nhu sự tồn vong của doanh nghiệp. Vì vậy họ không nỗ
lực điều chỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện mới, mà họ lại chọn một
con đường dễ dàng hơn là dàn xếp, thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh với đối thủ để
duy trì thị phàn và lợi nhuận kinh doanh.
Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường hoặc phát triển kinh doanh;
-
Thỏa thuận loại bỏ thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của
thỏa thuận;
-
Thông đồng để một hoặc các bên thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp
hàng
hóa, cung ứng dịch vụ.
Những hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không chỉ làm sai lệch, cản trở
cạnh tranh trên thị trường gây hậu quả xấu tới nền kinh tế nói chung mà còn ảnh hưởng
lớn tới doanh nghiệp khác. Đặc biệt người trực tiểp gánh chịu hậu quả là người tiêu
dùng. Người tiêu dùng Việt Nam đã phải chịu nhiều thiệt thòi trong thời gian qua với
các trường họp của sản phẩm như ôtô, dược phẩm.. .Hon nữa hiện xu hướng cạnh tra nh
toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ nên việc kiểm soát các hành vi cạnh tranh xuyên biên
giới sẽ cảng khó khăn, phức tạp. Vì vậy nhả nước nào cũng cố gắng bằng nhiều cách
khác nhau tạo lập và duy trì cho mọi hoạt động kinh doanh diễn ra trong môi trường
cạnh tranh lành mạnh, họp pháp, vãn minh. Điều này thật không dễ nhất là đối với nền
kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam.
1.3. Mối quan hệ pháp luật nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh
Từ khái quát chung về NQTM và PLCT. Thì với vai trò tích cực của mình, NQTM
đã và đang được xem là cách thức hiểu quả để các bên mở rộng quy mô sản xuất, kinh
doanh bằng cách khai thác các thương hiệu thành công thông qua việc chuyển giao
quyền sử dụng các quyền thương mại của bên nhận quyền. Cũng chính vì điều đó mà
trong họp đồng NQTM có thể chứa đựng các hạn chế có khả năng tác động tiêu cực
là mức giá thống nhất đối với tất cả các cửa hàng là BNHQ. Các cửa hàng này không
được bán cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà BNQ đã đưa ra. Và với cung mức giá như
vậy các cửa hàng không được tăng đơn vị của phở lên nhiều hơn so với quy định chung
nhằm đảm bảo tính thống nhất đối với tất cả BNHQ trong toàn hệ thống.
Xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau như đảm bảo tính thống nhất của cả hệ
thống về chất lượng và giá cả hoặc xuất phát từ lợi ích của người tiêu dùng, nhằm đảm
bảo cho họ được sử dụng hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá thành thấp
nhất trên toàn hệ thống mà BNQ có thể “đề xuất” giá bán cho các BNHQ. Tuy nhiên,
điều khoản này cũng có khả năng vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh.
Thứ hai, lả điều khoản về phân chia khu vực kinh doanh, khách hảng. Trong hoạt
động NQTM, các cơ sở trong cùng hệ thống nhượng quyền sẽ cùng sử dụng một tên
thương mại để cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Trong khi đó với sự độc lập
của mỗi cơ sở sẽ làm cho các cửa hàng này phải cạnh tranh với nhau để phát triển. Vì
vậy, để cân bằng lợi ích cho các BNHQ đồng thời đảm bảo hiệu quả lợi ích kinh doanh
của hệ thống, BNQ thường quyết định số lượng cửa hàng nhượng quyền trên một khu
vực địa lý nhất định nhằm phân chia khu vực kinh doanh, khu vực khách hàng.
22
11 Hằng Nga Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Nxb Tổng hợp
Thành
Phố Hồ Chí Minh, Năm 2009 trang 54
Mỗi BNHQ điều tuân thủ sự phân chia thị truờng theo quyết định của BNQ cụ
thể:
Một là, quy định về phân chia lãnh thổ, thể hiện ở “điều khoản về địa điển bán
hàng”. Quy định này cấm BNHQ bán hàng ngoài phạm vi của mình. Họp đồng NQTM
có thể quy định rằng BNHQ chỉ được khai thác hệ thống NQTM tại một cơ sở duy
nhất,
Thứ ba, điều khoản hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua
bán hàng hóa, dịch vụ. Trong nhượng quyền, để thu được lợi nhuận tối đa cũng như để
thực hiện chiến lược kinh doanh, BNQ và BNHQ có thể thỏa thuận về khối lượng hàng
hóa, dịch vụ được sản xuất phân phối như:
+ Ấn định thời gian sản xuất, cung ứng sản phẩm của hệ thống nhượng quyền
nhằm hạn chế số lượng sản phẩm được sản xuất và cung ứng ra thị trường.
+ Thống nhất về sản lượng hàng hóa sản xuất hoặc cung ứng cho thị trường giữa
BNQ vói các BNHQ trong cùng hệ thống.
+ Ắn lượng hàng hóa cung cấp của BNQ đối với các BNHQ.
Thông thường, khối lượng hàng hóa được ấn định sẽ thấp hơn so với nhu cầu của
thị trường nhằm tạo thành sự khan hiếm ảo trên thị trường làm mất cân bằng cung cầu
để đẩy giá thành cao nhằm mục đích hưởng lợi. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả
năng BNQ ấn định khối lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ cung ứng nhằm đảm bảo sự
cân bằng giữa các BNHQ và để họp lý hóa hoạt động kinh doanh.
Thứ tư, Điều khoản về duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới nhượng
quyền (bán hàng có ràng buộc). Trong họp đồng NQTM (thường là trong lĩnh vực ăn
uống, nhà hàng) thông thường sẽ có điều khoản này. Theo đó để duy trì tính đặc trưng
và uy tín của mạng lưới nhượng quyền; một mặt BNQ có trách nhiệm cung cấp cho
BNHQ bí quyết và kỹ thuật chế biến, nấu nướng thậm chí cả nghĩa vụ mua nguyên liệu
từ BNQ hoặc từ bên thứ ba do BNQ chỉ định. Việc đặt ra các tiêu chuẩn đối với hàng
hóa, dịch vụ là đối tượng của họp đồng nhượng quyền nhìn chung, là có lợi cho người
tiêu dùng và có thể làm cho thị trường hoạt động một cách hiệu quả hơn. Nó giúp cho
người tiêu dùng có nhiều thông tin, giúp họ đưa ra các quyết định chính xác hơn về sản
phẩm mà họ dự định mua đồng thời các tiêu chuẩn đó làm cho cung cầu thị trường cân
bằng nhanh hơn và lợi ích của công nghệ mới được sử dụng hiệu quả hơn nhưng điều
đó cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng gia nhập thị trường của các chủ thể không được chỉ
định bởi BNQ.
Thứ năm, điều khoản về phân phối độc quyền. Đối với nhượng quyền thương
mại, đặc biệt là đối với nhượng quyền phân phối thì BNHQ phải tuyệt đối trung thành
hàng cũ hoặc khách của cơ sở kinh doanh nhượng quyền hoặc tìm mọi cách lôi kéo bất
kỳ khách hàng từ BNQ hoặc bất kỳ BNHQ nào của BNQ.
+ Buộc mỗi người lao động khi vào lảm việc phải ký một cam kết không cạnh
tranh trước khi họ bắt đầu công việc theo mẫu của BNQ;
+ Sau khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền không được tuyển
dụng hay chảo mời bất kỳ người nào tại thời điểm đó hoặc vảo bất kỳ thời điểm nào
trong vòng hai năm tiếp theo đó đã được tuyển dụng bởi bên nhượng quyền hoặc bên
nhận quyền khác của hệ thống nhượng quyền.
Thứ bảy, điều khoản về hạn chế quảng cáo. Việc quảng cáo ngoài phạm vi kinh
doanh của BNHQ có thể dẫn đến việc dịch chuyển khách hàng. Nhất là đối với kiểu
NQTM dịch vụ. Thí vụ: trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn, nếu BNHQ quảng cáo cho
khách hàng của mình bằng tấm bảng quảng cáo lớn đặt trcn đường cao tốc từ sân bay
về thành phố, thì sẽ thu hút khách hàng của các BNHQ khác. Có nghĩa là khi BNQ có
25
nhiều BNHQ trong đó có một trong những BNHQ sẽ quảng cáo khách sạn của mình để
thu hút khách hàng về phía mình bằng cách cố ý đạt tấm bảng quảng cáo ngay trung
tâm đuờng vào thành phố thì sẽ làm cho những khách hàng ở xa mới đến và những
khác du lịch chú ý tới để họ có một cho nghĩ tốt và vô tình sẽ thu hút đuợc khách hàng
của cửa hàng nhận quyền khác trong cùng hệ thống nhuợng quyền nhung ở địa chỉ
khác. Do đó, BNQ phải kiểm soát hoạt động quảng cáo của BNHQ bằng các quy định:
+ BNHQ không đuợc phép quảng cáo nếu chua đuợc sự đồng ý của BNQ.
+ Hoạt động quảng cáo sẽ do BNQ thực hiện, BNHQ phải có nghĩa vụ trả chi phí
cho việc quảng cáo.
+ Không được quảng cáo về địa điểm bán hàng.
Qui định về điều này Luật thương mại 2005 ghi nhận “bên nhượng quyền có
quyền tổ chức quảng cáo cho hệ thống NQTM và mạng lưới NQTM” (khoản 2 điều
286).
trí độc quyền trong khu vực đó, cho nên điều khoản này sẽ hạn chế các doanh nghiệp
gia nhập vào thị trường ở những khu vực đã được phân chia cụ thể, đồng thời điều đó
sẽ
hạn chế khả năng lựa chọn nhà cung ứng sản phẩm, hàng hóa của người tiêu dùng trong
một khu vực địa lý nhất định và hệ qủa là có thể gây hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, với điều khoản nhằm duy trì đặc trưng của hệ thống nhượng quyền
(điều
khoản bán kèm ràng buộc) sẽ hạn chế quyền lựa chọn nguồn cung ứng hàng hóa của
bên nhận quyền, đồng thời có thể làm tăng chi phí sản xuất của bên nhận quyền. Bên
cạnh đó, với điều khoản này họp đồng nhượng quyền thương mại có thể tạo ra rào cản
nhằm ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát
triển kinh doanh bằng cách thống nhất từ chối mua hàng hoặc bán hàng cho các bên thứ
ba nếu nhận thấy việc mua, bán hàng hóa với bên thứ ba có khả năng gây ra những thiệt
hại đối với “quyền thương mại” mà các bên đang khai thác. Mặt khác, việc các bên
thỏa
thuận chỉ mua hàng hóa hoặc nguyên vật liệu từ bên nhượng quyền hoặc bên thứ ba
được xác định trước sẽ ngăn cản sự tham gia của các chủ thể khác tham gia thị trường
mà không quan tâm tới điều kiện mua hàng, chất lượng hàng hóa mà bên thứ ba này có
thể cung cấp.
Thứ ba, thông qua hoạt động nhượng quyền các bên đã tạo ra các hạn chế dọc
(Vertical restraint). Có nghĩa là khi tham gia vào hoạt động NQTM thì bên nhượng
quyền sẽ phân phối lưu thông hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho chính các bên nhận
quyền của mình kinh doanh trên thị trường và bên nhận quyền không càn phải lấy
nguyên liệu, hàng hóa từ những doanh nghiệp khác ngoài hệ thống, nhằm tạo dựng cho
các bên vị trí thống lĩnh trên thị trường. Việc lạm dụng điều đó sẽ dẫn đến hệ quả là lợi
ích của người tiêu dùng sẽ bị xâm phạm.
Thứ tư, với mục đích bảo vệ uy tín và thương hiệu, bên nhượng quyền thường
buộc bên nhận quyền chấp nhận một số hạn chế nhất định. Chính điều đó sẽ tạo ra rào
cản, ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới đặc biệt là doanh
nghiệp vừa và nhỏ.