Luận văn: “Một số vấn đề huy động vốn trong nước cho sự nghiệp công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” - Pdf 11



1 Luận văn:
“Một số vấn đề huy động vốn trong nước cho
sự nghiệp công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt
Nam hiện nay”
2
Lời mở đầu

Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng cho
mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề cấp
bách. Đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, để
thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
cần đến một lượng vốn lớn.
Vốn cho phát triển kinh tế- xãhội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách
trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta. Đương nhiên để duy trì
những thành quả đãđạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừa qua, giữ
vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạng lạc
“tụt hậu” so với nhiều nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới. Trong giai
đoạn hiện nay nước ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từ
bản thân nhân dân và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đãcó tại các cơ sở
quốc doanh. Nguồn nước ngoài từ ODA, NGO và từ đầu tư trực tiếp nước ngoài

kinh tế, nó bao gồm những nguồn vật tư và tài sản trong các doanh nghiệp,
nguồn tiền mặt hoặc các tài sản khác dự trữ trong dân. Vì vậy, chính sách tạo
vốn cơ bản phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích của người có vốn và do đó, việc sử
dụng vốn nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết và chủ yếu là tạo ra môi trường
kinh tế và tiền đề pháp lý để biến mọi nguồn tiền tệ thành tư bản sinh lợi và tăng
trưởng trong quá trình tái sản xuất xãhôị. Các nguồn chủ yếu bao gồm :vốn đầu
tư kinh tế của nhà nước, vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền và tiền
nhàn rỗi của dân cư và vốn của các doanh nghiệp và tổ choc tài chính quốc tế.
Trong giai đoạn hiện nay vốn là yếu tố vật chất quan trọng nhất cho tăng
trưởng. Để tao ra tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7-8% thì cần tích luỹ một lượng
vốn từ 20- 25% GDP. Nếu trong những năm tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế là 4
hai con số trong vài thập niên tới thì cần thì tỷ lệ tích luỹ vốn phải lên tới trên
30% GDP. Đây là một nhu cầu lớn cần phải giải quyết để khai thác nguồn vốn
đặc biệt là nguồn vốn trong nước.
Vốn ngân sách nhà nước một thời gian giảm xuống nay đãbắt đầu tăng
lên. năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đãtăng lên là 44% ngân sách. Để đạt
được kết quả đó thì nguyên nhân cơ bản là chính sách thuế đãđược cải cách một
cách toàn diện và thu được nhiều kết quả cho ngân sách. Năm1990 thu ngân
sách từ thuế phí chiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó là 93,8%. Nếu so với
GDP thì các tỷ trọng tương tự là 17,3% và 17,06% vốn huy động từ các nguồn
khác cũng có xu hướng tăng do chính sách khuyến khích đầu tư, tư nhân và tạo
dựng được môi trường đầu tư cho mọi thành phần kinh tế phát triển. Điều mà ai
cũng có thể đồng ý với nhau là một nền kinh tế kém phát triển có thể cất cánh
được nếu không có sự tham gia của các nguồn vốn từ nước ngoài. Vai trò của
nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa quan trọng nhằm hỗ trợ khai thông những cản
ngại, tạo sức bật cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy chúng ta nên nỗ lực huy động

trong việc duy trì và phát triển nền kinh tế, nếu không có vốn thì mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh không thể thực hiện được.
. Vốn đầu tư:
- Khái niệm: Vốn đầu tư là những chi phí để tái sản xuất tài sản cố định
bao gồm các chi phí để thay thế những tài sản cố định bị thải loại để tăng mới
các tài sản cố định và để gia tăng các tài sản cố định tồn kho.
- Các hình thức đầu tư:
+ Đầu tư trực tiếp.
+ Đầu tư gián tiếp.
. Cơ cấu vốn đầu tư:
a. Nguồn vốn trong nước bao gồm các loại vốn chủ yếu sau: 6
- Vốn huy động từ ngân sách nhà nước.
- Vốn huy động trong dân cư.
- Vốn huy động từ tiết kiệm của các doanh nghiệp.
b. Nguồn vốn ngoài nước bao gồm:
- Vốn đầu tư trực tiếp
- Vốn đầu tư gián tiếp
- Vốn hỗ trợ và phát triển chính thức.
2/ Các bộ phận cấu thành vốn trong nước.
2.1/ Vốn huy động từ ngân sách nhà nước
Là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư, nó có vị trí rất
quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thúc đẩy mạnh
đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch. Chính
sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh
vực quan trọng của nền kinh tế đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và
quy hoạch phát triển kinh tế- xãhội.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nước và nguồn thu bổ sung

- Ngân sách nhà nước không còn bao cấp cho các xí nghiệp nhà nước
thông qua cổ phần hoá và tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp-
lâm nghiệp.
Mục tiêu của huy động vốn ngân sách nhà nước phải dành khoảng từ 20-
25% tổng số chi ngân sách cho đầu tư phát triển hàng năm. Khai thác có hiệu
quả tín dụng nhà nước đầu tư phát triển, đồng thời phải đẩy mạnh hình thức vay
vốn trong nhân dân, cho đầu tư phát triển kinh tế là quốc sách hàng đầu. Muốn
đạt được các hiệu quả trên cần phải thực các biện pháp sau: 8
Hình thành nguồn vốn đầu tư trong ngân sách: Các biện pháp quan trọng
nhất để tăng thu là thu đúng, thu đủ các khoản vay trong nước.
Thu ngân sách nhà nước trong sự phát triển bền vững, tức là thu nhưng
không làm suy yếu các nguồn thu quan trọng mà phải bổi dưỡng phát triển và
mở rộng các nguồn thu một cách vững chắc, lâu bền. Điều đó nghĩa là cần xác
định mức thu hợp lý vừa đảm bảo NSNN có nguồn thu cao, vừa đảm bảo để các
đối tượng NSNN có đủ điều kiện tài chính tiếp tục phát triển. Xác định mức thu
tại diểm “giới hạn tối ưu”này không đơn giản mà cần phân tích, cân nhắc nhiều
nhân tố khác nhau. Những nguồn thu thuộc khu vực kinh tế quốc doanh và có ý
nghĩa đặc biệt thì cần chú ý bồi dưỡng thông qua các biện pháp hỗ trợ đầu tư, trợ
giúp về khoa học kỹ thuật, công nghệ và nhân lực trong một chừng mực không
bao cấp.
Không tận thu NSNN quá mức để bao cấp trong cấp phát mà chỉ thu trong
chừng mực tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu chi của Nhà nước. Đối với những
ngành , những địa phương có thất thu lớn thì cần tăng cường thu và tận thu,
nhưng quan điểm bao trùm thì không phải là tận thu-Vì điều đó sẽ ảnh hưởng
đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.
+ Cải tiến các hệ thống thuế, làm cho diện thu thuế tăng lên, nhưng thuế
xuất đơn giản hoá. Kết quả là: giảm được tỷ lệ trốn lậu thuế, tăng nguồn thu cho

rõ “ chính sách tài chính quốc gia hướng vào việc huy động vốn và sử dụng vốn
có hiệu quả trong toàn xãhội, tăng nhanh sản phẩm xãhội và thu nhập quốc dân”
. Tạo vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả là một vấn đề mà Đảng và các
doanh nghiệp nhà nước luôn quan tâm. Bởi có huy động được vốn mới tiến hành
được quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. 10

Đối với doanh nghiệp, chính sách tài chính hướng vào các việc mở rộng
khả năng hoạt động mạnh mẽ có hiệu quả cao của các đơn vị sản xuất kinh
doanh, đó là những tế bào tài chính; làm cho các nguồn vốn chu chuyển nhanh
và linh hoạt, đồng thời tạo ra cơ sở để nhà nước có khả năng kiểm soát được nền
tài chính quốc gia.
Trong lĩnh vực đầu tư cho khu vực doanh nghiệp nhà nước cần phải thực
hiện một số giải pháp và chính sách sau:
-Các doanh nghiệp nhà nước thuần tuý kinh doanh tự huy động nguồn vốn
trong xãhội hoặc tín dụng ngân hàng để đảm bảo được điều kiện đầu tư bình
đẳng với các thành phần kinh tế của doanh nghiệp.
-Sớm sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chỉ giữ lại một số doanh nghiệp
thật cần thiết, còn cho phép chuyển đổi hình thức sở hữu, với sở hữu đan xen, cổ
phần hoá" Đồng thời trong cơ chế chính sách cần đảm bảo sự bình đẳng tối đa,
cùng loại hình hoạt động, nếu như không có các quy chế đặc biệt thì đều có cơ
chế về thuế, tín dụng và l•nh thổ.
- Cùng với quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế, cần xây dựng cơ chế
chính sách đồng bộ để tránh tình trạng thêm tầng lớp trung gian, gây khó khăn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các bộ chuyển nhanh
sang các chức năng quản lý nhà nước và chuyển nhanh về cơ chế Bộ chủ quản
để các doanh nghiệp tự chủ trong bảo bảo toàn và phát triển nguồn vốn.
- Hiện nay nguồn tích luỹ của các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Bởi

phát triển nông nghiệp, mở mang ngành nghề ở nông thôn phát triển công
nghiệp thủ công, thương mại , dịch vụ, vận tải…Vì vậy chúng ta cần phải thực
hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ, huy động vốn để cho mọi ngườ dân ở bất cứ
nơI nào cũng có đIều kiện sản xuất kinh doanh.
- Tăng l•i xuất tiết kiệm đảm bảo l•i xuất dương. 12

- Khuyến khích sử dụng tài sản cá nhân, thực hiện chế độ thanh toán
tiền gửi ở một nơi và rút ra bất cứ lúc nào, có vậy chúng ta mới đưa được nguồn
vốn dưới dạng cất giấu vào lưu thông.
- Tao môi trường đầu tư thông thoáng và thực hiện theo quy định
của luật pháp để người dân dễ dàng bỏ vốn đầu tư.
- Chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích các hộ gia đình ở
các vùng nông thôn, vốn vào sản xuất trên cơ sơ khai thác thế mạnh của từng
vùng, phát huy truyền thống hiện có của địa phương.
- Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích tư nhân trong nước
như tự đầu tư
- Thực hiện chính sách xãhội hoá dần đầu tư phát triển sự nghiệp
giáo dục và đào tạo, y tế nhằm huy động thêm nguồn lực của nhân dân.
2. 4. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài .
Nó có tầm quan trọng đặc biệt cho việc phát triển kinh tế với phần
lớn các nước đang phát triển và là điều kiện để nhang chóng thiết lập cacad quan
hệ kinh tế quốc tế, gắn thị trường nội dịa với thị trường thế giới trên cả bốn mặt
:thị trường hàng hoá, thị trường tàI chính, thị trường lao động và thị trường
thông tin. Vì vậy, phảI xây dung một chiến lược kinh tế đối ngoại đúng đắn, phù
hợp voí những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị -xãhội và khoa học hiện
nay. Cần có chính sách tàI chính thích hợp để khuyến khích đầu te nước ngoàI

mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu ấy. Việc đánh
giá đúng nguồn vốn và việc sử dụng nó trong thời gan vừa qua nó cho chúng ta
những cơ sở để tạo ra chiến lược tạo vốn nhằm khai thác mọi tiềm năng về vốn
và định hướng chính sách sử dụng nguồn vốn có hiệu
- Đối với việc huy động vồn trong nước thì đây chính là nguồn vốn
đóng vai trò quan trọng, quyết định. Trong khi đất nước nghèo nàn, khả năng
tích luỹ còn thấp thì tiết kiệm những phần chi tiêu không mang lạI hiệu quả thì
nó không những là quốc sách mà chúng ta cần có các giảI pháp để hoàn thiện 14

dần; Nhà nước , các doanh nghiệp, hộ gia dình, các tổ chứ tài chính…Phải gắn
tiết kiệm với tích luỹ trong sự tác động của các các nhân tố kích thích về lợi ích
kinh tế đãhuy động tối đa các nguồn vốn trong nước.
- Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn vốn trong các
khu vực: Như ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước
và các tổ chức tín dụng tư nhân.
- Vốn đầu tư từ khu vực nhà giữ vai trò quan trọng trong việc đầu tư
vào khu vực doanh nghiệp nhà nước để phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế xãhội,
các công trình công cộng, hỗ trợ các vùng chậm phát triển, vùng sâu, vùng xa,
hải đảo
Vốn đầu tư của tư nhân có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển
kinh tế nông nghiệp- nông thôn,mở mang các ngành nghề ở nông hôn phát triển,
tiểu thủ công nghiệp, vận tải, dịch vụ và thương nghiệp.
Nguồn vốn trong nước tiếp tục tăng cả về tốc độ tuyệt đối và tốc độ
tương đối trong GDP từ 10,1% năm 1991 lên tới 19% năm 1995, sau đó ổn định
ở mức 16-17% GDP và là động lực chủ yếu gia tăng tổng nguồn vốn đầu tư toàn
xãhội mà kết quả cuả nó là sự phát triển của nền kinh tế. Tổng sản phẩm trong
nước thời kỳ 1991- 1995 tăng lên với tốc độ 8,5% trong đó nông nghiệp và thuỷ

vốn huy động được thông qua tín dụng chủ yếu là vốn vay ngắn hạn không đáp
ứng được nhu cầu đầu tư phát triển và chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Vốn đầu tư
trực tiếp từ khu vực tư nhân h•y còn chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung chủ yếu (80%)
vào các lĩnh vực thương mại dịch vụ, phục vụ tiêu dùng. Một bộ phận không
nhỏ nguồn vốn huy động ở trong nước còn đang nằm ở ngân hàng thương mại
đang bị ứ đọng không trở thành nguồn vốn đầu tư được.
Theo các ý kiến dự báo thì khoảng 50- 70 nghìn tỷ đồng của nhân dân
đang cất giữ dưới dạng tiền mặt, ngoạI tệ, tàI sản có giá trị cao…Chưa chuyển
được thành nguồn vốn đầu tư và kinh doanh. Khoản tiền kiều hối hàng năm gửi
về nước khoảng từ 0,6- 1 tỷ USD chưa được khai thác và sử dụng hợp lý.
Nguyên nhân của các yếu kém trên là do: 16

- Trình độ phát triển kinh tế của nước ta vẫn còn thấp, mức độ tiền tệ hoá
nền kinh tế và các quan hệ tài chính tiền tệ mới ở giai đoạn đầu của sự phát
triển, mức độ phân tán ở trong nước vừa nhỏ vừa phân tán.
- Cơ cấu sản xuất nói chung kém hiệu quả, sau hơn 10 năm đổi mới cầu
về những sản phẩm truyền thống gần như đãb•o hoà cần phải thay bằng những
sản phẩm mới có chất lượng và hình thức cao hơn.
- Chính sách quản lý vĩ mô chưa hoàn thiện và đồng bộ, chưa khuyến
khích mọi người bỏ vốn ra mở rộng sản xuất, môi trường đầu tư chưa ổn định
còn nhiều rủi ro cho các nhà đâù tư.
- Khả năng kinh doanh sinh lợi cao hơn l•i trả ngân hàng của nhiều
doanh nghiệp còn hạn chế. Điều đó cũng kéo theo các ngân hàng cũng gặp rủi ro
khi cho vay, khó thu hồi vốn, phải sử dụng thế chấp như một công cụ chủ yếu.
Đây chính là yếu tố hạn chế phân bổ có hiệu quả nguồn vốn
Để huy động nguồn vốn một cách có hiệu quả thì chúng ta nên áp dụng
một số biện pháp sau:

Nguồn vốn đầu tư huy động toàn xãhội ngày càng tăng so với GDP.
Naawm 1989 chỉ đạt 8-9% GDP, thì đến năm 1991 đạt 15,22%, năm 1993 đạt
21%, năm 1995 đạt 26,3%, năm 1996 đạt 26,9% , nawm 1997 đạt 27,5% và năm
1998 đạt28,2%.
Nguồn vốn đầu tư toàn xãhội ngày càng đa dạng hoá, hình thức huy động
được huy động qua nhiều kênh như vốn ngân sách nhà nước, phát hành tráI
phiếu công trình. Hiện nay hình thức cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước để
tái đầu tư hoặc đầu tư xây dựng mới đang được mở rộng. Hình thức doanh
nghiệp tự vay vốn của nước ngoào để đầu tư có sự bảo l•nh của nhà nước cũng
đãđược mở rộng và hoàn thiện dần. Những năm gần đay đãtriển khai nhiều dự
án đầu tư theo hình thức BOT ( xây dựng- chuyển giao- kinh doanh), BTO ( xây
dựng – kinh doanh- chuyển giao). Đối tượng sử dụng vốn đầu tư đãcó sự thay
đổi căn bản, theo hướng xoá bỏ dần bao cấp. 18

Vốn đầu tư từ nguồn ngoài quốc doanh cos tốc độ tăng trưởng rõ rệt và
ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xãhội. Nguồn
vốn này chủi yếu tập trung trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, nhà đất, khách
sạn nhà hàng

Vốn đầu tư thực hiện toàn xãhội 1996- 1998
Nguồn vốn huy động 1996 1997 1998 1996- 1998
Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng
%
Tổng vốn đầu tư.
Vốn nhà nước
Vốn ngoài QD
Vốn dân cư

- 100
45,9
23,5
15,9
30,6
3,6 253614
107614
63733 20

43843
83200
- 100
42,43
25,19
17,28
32,80
-

Để đảm bảo đầu tư đúng định hướng, phù hợp với quy hoạch phát triển
kinh tế của vùng, l•nh thổ, nâng cao sử dụng vốn tín dụng đầu tư ưu đ•i, cần đổi
mới cơ chế quản lý và chính sách đầu tư theo chương trình dự án. Tất cả các
công trình dự án đều phải tân thủ một cách nghiêm ngặt các trình tự đầu tư xây
dựng cơ bản.
4/ Kinh nghiệm của một số nước về huy động vốn đầu tư trong nước.
Nguồn vốn luôn là một vấn đề đặt ra hàng đầu cho mọi nền kinh tế công
nghiệp hoá. Tuy nhiên do lợi thế của mỗi một quốc gia là khác nhau và do sự
khác nhau về lợi thế so sánh nên con đường để kiến tạo nguồn vốn sản xuất là

Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cách từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát
triển kinh tế xãhội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đãduy trì
được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Bình quân tốc độ tăng GDP hàng năm là
9% cao hơn rất nhiều so tốc độ tăng bình quân của thế giới. Trong cùng thời
gian công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trên 20% năm,
dịch vụ tăng trên 14%/ năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đãgiúp cho Hàn
Quốc giải quyết được nhiều vấn đề như giảm thất nghiệp, giảm tỷ lệ nghèo đói,
giảm mức chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị. 22

- Tài trợ cho các nhu cầu đầu tư trước tình hình kinh tế trong nước
kém phất triển, nguồn tích luỹ từ nội bộ ít, nguồn tài trợ bên ngoài giảm sút
chính phủ đãkhuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong công
nghiệp, khuyến khích đầu tư nước ngoài, khuyến khích du nhập công nghệ kỹ
thuật mới.
- Sử dụng công cụ thuế và tăng cường tiết kiệm của chính phủ, sử
dụng công cụ thuế như một công cụ kích thích đầu tư, tăng cường sử dụng chính
sách l•i suất thấp, chính phủ đưa ra các điều kiện để hoàn lại vốn và trả l•i cho
các nhà đầu tư. Để tập trung vốn cho phát triển các ngành mũi nhọn.
4.3/ Kinh nghiệm ở Anh.
Học thuyết Mác đãnhận định là sự tích luỹ tư bản nguyên thuỷ nhất thiết
phải diễn ra trước khi có sự phát triển kinh tế. Cơ sở thực tiễn của học thuyết
này bắt nguồn từ thực tiễn kinh nghiệm phát triển kinh tế của nước Anh, nơi mà
buôn bán, bóc lột thuộc địa và một số hình thức khác đãtạo cho nước Anh có
được nguồn vốn tích luỹ khổng lồ. Đến cuối thế kỷ XIIX nguồn vốn tích luỹ của
nước Anh biến thành tư bản đầu tư vào công nghiệp. Từ thực tiễn đó cho thấy,
trước cách mạng công nghiệp nước Anh đãtrải qua chủ nghĩa tư bản thương mại
hàng thế kỷ. Như vậy thì con đường và giải pháp cơ bản để tạo dựng vốn đầu tư

Thực trạng của việc huy động vốn trong nước của việt nam trong thời
gian vừa qua.
1 /Tthực trạng của việc huy động vốn trong nước.
1.1. Tình hình chung
Nền kinh tế nước ta mới bước ra khỏi cuộc chiến tranh trên mình còn
mang đầy thương tích, khủng hoảng trầm trọng. Vì thế nền kinh tế nước ta
mang nặng tính tập trung , quan liêu, bao cấp cho nên chưa tạo ra động lực kinh
doanh phát triển. Chính Phủ tiến hành đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền cũ lấy một
đồng tiền mới, mỗi người dân chỉ được đổi ở một mức độ giới hạn, nếu vượt qua
giới hạn thì bị giữ lại ở ngân hàng một thời gian khá dài sau đó mới được rút ra. 24

Bằng việc đổi tiền sẽ hy vọng sớm cải thiện được cán cân tiền tệ trong nền kinh
tế. Tuy nhiên biện pháp này chỉ cắt giảm được lượng tiền tích trữ ngoài sổ sách
của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc doanh còn trong khu vực tư
nhân và trong nhân dân kết quả thu được rất hạn chế vì phần lớn tiền tồn tại dưới
dạng vàng và đô la Mỹ. Sau khi tiến hành đổi tiền mặt thì các doanh nghiệp
quốc doanh gàn như bị tê liệt, gây nên tình trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng.
Để giải quyết vấn đề này buộc Chính phủ phải phát hành tiền để duy trì sự hoạt
động cho các doanh nghiệp quốc doanh và vì vậy làm tăng thêm mức độ lạm
phát. Trong khi đó:
- Công suất sử dụng thực tế máy móc thiết bị thấp, chỉ đạt 30%, riêng
ngành cơ khí đạt 20% công suất thiết kế.
- Chi phí năng lượng để làm ra một sản phẩm cao hơn so với tiêu
chuẩn tiên tiến của thế giới từ 1,5- 2 lần.
- Chất lượng sản phẩm thấp, so với tiêu chuẩn xuất khẩu chỉ đạt
15%. Sản phẩm sản xuất ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
- Tình trạng thua lỗ của các xí nghiệp khá phổ biến, gần 30% trong

cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ theo hướng các nước công nghiệp phát triển.
Bên cạnh nguồn vồn nước ngoài, nguồn vốn trong nước phaior được huy động
một cách tối đa, đảm bảo vai trò có ý nghĩa to lớn cho công cuộc công nghiệp
hoá- hiện đại hoá đất nước .
Nhìn vào bảng cơ cấu tốc độ nguồn vốn trong nước ta thấy cơ cấu vốn
trong nước tăng dần qua các năm, còn vốn ngoài quốc doanh và các vốn khác thì
giảm dần cả về tỷ trọng và tốc độ. Qua đó cho ta thấy được tầm quan trọng của
vốn đầu tư trong nước ngày càng quan trọng và quyết định mọi hoạt động trong
lĩnh vực sản xuất và kinh tế. Giai đoạn 1991- 1997 các chính sách về đầu tư
đãthực sự phát huy tác dụng thu hút mọi tầng lớp dân cư và mọi thành phần kinh
tế tham gia vào hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh bằng tất cả các
nguồn lực của mình, nhiều người đãbỏ cả phần của cải tích luỹ vào đầu tư phát
triển sản xuất. Tổng cộng trong 7 năm từ năm 1991- 1997 cả nước đãhuy động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status