BỘ
B GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
----------o0o----------
KHÓA LUẬN
LU
TỐT NGHIỆ
ỆP
ĐỀ TÀI: TRÁCH NHI
NHIỆM BỒI THƯỜNG
NG THI
THIỆT HẠI
DOLÀM Ô NHIỄM
NHI
MÔI TRƯỜNG
NG THEO
QUY ĐỊNH
NH CỦA
C
PHÁP LUẬT
T DÂN S
SỰ
VI
VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
Sinh viên th
thực hiện : TRẦN THỊ NGUY
NGUYỆT ANH
Lớp
ĐỊNH
NH CỦA
C
PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VI
VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
Người hướ
ớng dẫn
: ThS. Phạm
m Hùng Cư
Cường
Sinh viên th
thực hiện
: Trần Thị Nguyệtt Anh
Lớp
: LKT 12-04
Ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 12A51010256
TRẦN THỊ NGUYỆT ANH
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận với đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” là
công trình nghiên cứu của cá nhân em dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Hùng
Cường thuộc Khoa Luật – Viện Đại học Mở Hà Nội.
Các số liệu cũng như ví dụ trong bài viết đều trung thực và chính xác, những
trích dẫn từ các tác giả khác đều được chú thích cẩn thận trong Danh mục tài liệu
tham khảo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Giáo viên hướng dẫn
Tác giả khóa luận
ThS. Phạm Hùng Cường
Trần Thị Nguyệt Anh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 2
5. Kết cấu khóa luận ............................................................................................. 3
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................ 4
CHƯƠNG 2:TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG ....................................................................................... 8
2.1.
Khái quát chung về ô nhiễm môi trường và bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường .................................................................................................... 8
2.1.1.
Khái quát chung về ô nhiễm môi trường ..................................................... 8
2.1.2.
Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường………………………………………………………………………………16
2.2.
2.2.1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường...................... 22
Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường………………………………………………………………………………22
2.2.2.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường24
2.2.3.
Xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường................................................. 28
3.2.
Một số kiến nghị, đề xuất. ............................................................................ 43
PHẦN KẾT LUẬN .............................................................................................. 46
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu, ô nhiễm môi trường là cụm từ được người dân quan tâm như một
vấn đề trọng điểm.Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự ô nhiễm, suy
thoái và những sự cố môi trường đang làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi
cho con người, đặc biệt là những thay đổi đối với các yếu tố mang tính tự nhiên như
nước, đất, không khí, hệ thực vật, hệ động vật.Tình trạng môi trường hiện nay đang
ở mức báo động về sự ô nhiễm và suy thoái do sự thiếu hiểu biết cuả con người. Vì
lợi ích trước mắt mà con người đã khai thác thiên nhiên một cách bừa bãi, tùy ý, lực
lượng sản xuất không gắn liền với những giá trị đạo đức và nhân văn đã đặt con
người ngày càng đối lập với tự nhiên. Tại Việt Nam, để bảo vệ môi trường, ngăn
chặn, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trườngNhà nước đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của con người, đồng thời Luật Bảo vệ môi
trường cũng đã có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và khắc phục ô
nhiễm, phục hồi môi trường đối với từng đối tượng vi phạm cụ thể nhằm bảo vệ sức
khỏe, tính mạng, tài sản của tổ chức, cá nhân không bị xâm phạm, đảm bảo quyền
con người được sống trong môi trường trong lành và tiện ích. Thế nhưng nhìn lại
thực tế hiện nay giữa hiện trạng môi trường và pháp luật thì vẫn còn rất nhiều điều
nan giải, thiệt hại xảy ra nhiều, môi trường ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
Nguyên nhân một phần do các quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường hiện vẫn còn dừng lại ở mức quy định chung, mang tính nguyên tắc, gây khó
khăn cho việc giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm
dung chính: Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường từ hành vi vi phạm
pháp luật; và bồi thường thiệt hại về môi trường do sự cố môi trường gây nên.Trong
phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật làm ô nhiễm môi trường gây nên.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn, bài viết chỉ tập trung nghiên cứu những quy định
của pháp luật hiện hành điều chỉnh về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
như Bộ luật dân sự 2005, Luật Bảo vệ môi trường 2014 và một số nghị quyết, nghị
định có liên quan để rút ra những định hướng, đề xuất giải quyết bồi thường thiệt
hại trong lĩnh vực môi trường ở nước ta hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống phương pháp luận triết học Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ
Chí Minh, em đã áp dụng kết hợp các phương phápnghiên cứu khoa học khác nhau
nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, kết
hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp sưu tầm, tổng hợp bài nghiên cứu và một số
phương phápnghiên cứu khoa học phù hợp khác để giải quyết vấn đề trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường.
2
5. Kết cấu khóa luận
Nội dung luận văn tốt nghiệp ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo thì nội dung chính gồm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chương II: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường.
Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật dân sự về bồi thường
thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay.
3
dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Ngoài ra
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn phát sinh ngay cả khi hai bên
có giao kết hợp đồng trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc
các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực
hiên nghĩa vụ theo hợp đồng.
4
Ngoài những đặc điểm chung của một loại trách nhiệm dân sự, trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thỏa mãn những điều kiện nhất định
do pháp luật quy định, giữa các bên không có quan hệ hợp đồng. Thiệt hại xảy ra
không thuộc phạm vi hợp đồng, do đó thiệt hại xảy ra rất đa dạng. Có thể là thiệt hại
về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách
nhiệm tài sản, hậu quả pháp lý mà người gây thiệt hại phải gánh chịu là hậu quả bất
lợi về tài sản.Người gây thiệt hại phải bồi thường ngay cả trong một số trường hợp
không có lỗi.
1.2. Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và
luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện
được quy định tại Nghị quyết số 03/2006/HĐTP – TANDTC ngày 08/7/2006 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại:
1.2.1. Có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích của người xác định được trên
thực tế. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
Thiệt hại về vật chất bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại
Điều 608 BLDS 2005; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều
609 BLDS 2005; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại Điều 610 BLDS
2005; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1
người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải
biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn
chặn được. Người gây thiệt hại không bị coi là có lỗi trong các trường hợp bất khả
kháng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ và người bị thiệt hại có lỗi.
Trong một số trường hợp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi (khoản 3 Điều 623, Điều 624
BLDS 2005).Lỗi không phải là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1.3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải
thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 605 BLDS
2005.Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận
về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện
một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu
do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
mình. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc
người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
6
khác thay đổi mức bồi thường. Cần phải tôn trọng thoả thuận của các bên về mức
bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thoả thuận đó
không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì khi giải quyết tranh chấp
về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý các điểm sau: Thứ nhất, thiệt hại
phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt
hại do tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải
căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS 2005 quy định trong trường hợp cụ
TRƯỜNG
2.1. Khái quát chung về ô nhiễm môi trường và bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường
2.1.1. Khái quát chung về ô nhiễm môi trường
2.1.1.1. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường
Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường( sau đây viết tắt là Luật BVMT) năm
2014 đưa ra khái niệm "môi trường" như sau: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản
xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật". Mỗi cơ thế sống dù là cá
nhân con người hay bất kỳ một loài sinh vật nào tồn tại trên trái đất, ở trong mọi
trạng thái đều bị bao quanh và chi phối bởi môi trường. Cùng với sự phát triển của
xã hội loài người, môi trường cũng ngày một thay đổi. Môi trường chứa đựng các
yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu, sông ngòi, ánh sáng, cây cối... tác động trực
tiếp đến sự sống của con người. Do nhu cầu cuộc sống và sự phát triển con người đã
không ngừng cải tạo thiên nhiên, tạo ra các yếu tố vật chất nhân tạo như các công
trình đường sá, giao thông, cầu cống, trường học, bệnh viện, công viên, khu công
nghiệp, khu chế xuất, cải tạo thiên nhiên phục vụ cho lợi ích con người. Song song
với sự phát triển không ngừng đó môi trường cũng dần dần trở thành nơi chứa đựng
và tiêu thụ hầu hết chất thải do con người thải ra từ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày đến
trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất kinh doanh, khai thác khoáng sản... Chính vì thế môi
trường đang đứng trước vấn nạn ô nhiễm nghiêm trọng.Việc ô nhiễm môi trường,
suy thoái môi trường đã mang lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng đang hàng
ngày, hàng giờ thách thức với con người.
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa.
Dưới góc độ sinh học ô nhiễm môi trường là chỉ tình trạng của môi trường trong đó
những chỉ số hóa học, lý học của nó đang thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới
góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường
về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc
mức không có sự quản lý trong một thời gian dài đã làm cho nguồn tài nguyên dần
dần suy giảm và tiêu hủy.
Nguồn tài nguyên không thể tái tạo được như các loại tài nguyên quặng sắt,
dầu mỏ, vàng, kim cương... Song song với nhu cầu phát triển ngày càng cao thì
nguồn tài nguyên này của nước ta ngày càng suy giảm một cách nhanh chóng và có
khả năng bị cạn kiệt. Hiện tượng khai thác than tràn lan ở Quảng Ninh trong một
thời gian dài đã chứng minh rất rõ cho điều này. Chính vì vậy để duy trì bền vững
nguồn tài nguyên không thể tái tạo được này thì con người cần phải tiết kiệm trong
sử dụng và khai thác, đồng thời càn phải nâng cao vai trò của pháp luật trong quản
lý và xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức có hành vi tàn phá tài nguyên môi trường.
Môi trường là nơi chứa đựng chất thải của con người trong sinh hoạt và
trong sản xuất
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi
trường. Tại đây các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường
10
khác sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt
các quá trinh sinh địa hóa phức tạp. Các chất thải nông nghiệp bao gồm nước thải,
rác thải sinh hoạt, các loại khí bụi của lò bếp.
Trong thời kỳ sơ khai khi dân số còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự
nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định trở lại trạng thái
nguyên liệu của tự nhiên. Ngày nay, sự gia tăng dân số nhanh chóng cùng với quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hàng loạt khu công nghiệp-khu chế xuất, doanh
nghiệp, cơ sở làng nghề... đã mọc lên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống cho con người
và giải quyết việc làm cho lao động. Chính vì thế mà lượng chất thải thải vào môi
trường ngày một tăng, tăng đến mức đáng kể như hiện nay. Từ các chất thải công
nghiệp được thải ra từ các xí nghiệp, nhà máy bao gồm các chất bụi khí, các loại
phế liệu như kim loại, đồ gỗ, chất dẻo, cao su, đồ thủy tinh, các loại nước thải trong
đó có hòa tan các chất hữu cơ, các hóa chất, kim loại và dầu mỡ...trong nông nghiệp
phụ thuộc vào vị trí địa lý tự nhiên và cấu tạo địa tầng của từng vùng mà đã gây ô
nhiễm môi trường với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Những trường hợp này
không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối với bất cứ
tổ chức, cá nhân nào.
Một nguyên nhân khác cũng góp phần không nhỏ vào sự ô nhiễm môi trường
là do nhu cầu sinh hoạt, hoạt động khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường hay từ
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác. Từ dây chuyền sản xuất đơn giản
như các trang trại nông nghiệp, các cơ sở làng nghề, đến những dây chuyền sản xuất
hiện đại trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, đã đồng loạt thải ra môi trường
lượng chất thải lớn làm ảnh hưởng làm thay đổi tính chất hóa học, lý học, sinh học
của môi trường, gây tác động xấu đến con người và sinh vật. Đối với những trường
hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường phát sinh khi có đủ các dấu
hiệu cấu thành trách nhiệm pháp lý dân sự.Thậm chí loại trách nhiệm này còn phát
sinh ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi. Điều 624 BLDS 2005 quy định
“Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm
môi trường không có lỗi”. Trong những năm qua, vì tập trung ưu tiên phát triển
kinh tế, hạn chế trong nhận thức về việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường mà các ngành các cấp gần như bỏ quên.Tình trạng này kéo dài làm cho môi
trường ngày càng ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng. Do mở rộng các hoạt động
kinh tế, thông qua việc phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp và đầu tư, song song
với việc đổi mới cơ chế quản lý đã mang lại cho nền kinh tế nước ta phát triển vượt
bậc, thu nhập bình quân đầu người tăng, cuộc sống ổn định, nhu cầu sinh hoạt cũng
đa dạng hơn. Thế nhưng bên cạnh những thành tựu này thì khi nhìn lại môi trường
nước ta trong những năm qua thì những tác động tiêu cực mà môi trường mang lại
cho con người là rất lớn.
2.1.1.4. Các dạng biểu hiện của ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường được biểu hiện thông qua 4 yếu tố chính là nước thải,
chất thải rắn, chất thải khí, và sự suy giảm cạn kiệt tài nguyên.
khoảng từ 0,6 kg đến 0.8 kg/người/ngày,chất thải rắn trong bệnh viện là khoảng từ
50 tấn đến 70 tấn/ ngày. Biện pháp chủ yếu mà các đô thị thu gom chất thải rắn là
chôn lấp, trong đó 85% số đô thị từ thị xã trở lên sử dụng biện pháp chôn lấp không
hợp vệ sinh, đã gây ô nhiễm môi trường, làm gia tăng việc phát sinh metan, một loại
khí nhà kính gây ra biến đổi khí hậu, đồng thời tổng diện tích đất không tận dụng
được các chất thải rắn có khả năng tái chế, tái sử dụng và không phù hợp với điều
kiện tự nhiên của một số vùng, miền nước ta. Song song đó thì các khu công
nghiệp, bệnh viện cũng đã thải ra một lượng chất thải rắn như rác khá lớn ra môi
13
trường mà không qua xử lý. Dù có thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải nhưng
cũng chưa đảm bảo an toàn, do thiếu cơ sở xử lý nên loại chất thải này đang tiềm ẩn
những hiểm họa lớn, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sống và sức khỏe cộng
đồng.
Chất thải khí
Không khí là vô cùng quan trọng đối với sự sống con người và các loài sinh
vật đang tồn tại và phát triển trong môi trường, thông qua quá trình hô hấp. Nhưng
hiện nay bầu không khí trên trái đất đang bị ô nhiễm trầm trọng và đang là vấn đề
quan tâm chung của nhân loại. Việt Nam cũng không ngoại lệ, theo Bộ Tài nguyên
và môi trường tình trạng ô nhiễm môi trường không khí đặc biệt tại các đô thị như
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp đang ở mức báo động.
Tình trạng ô nhiễm được đánh giá là nghiêm trọng ở các đô thị lớn và khu công
nghiệp vì mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.Phần lớn, các nhà
máy xí nghiệp chưa có hệ thống xử lý ô nhiễm không khí, hoặc có nhưng hoạt động
không hiệu quả và nhiều khi mang tính chất đối phó. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm
không khí ở Việt Nam thì nhiều nhưng tụ chung lại do tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp của quá trình phát triển kinh tế và các hoạt động trong sinh hoạt của đời sống
dân cư. Với đặc điểm của một nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lạc hậu đã thải
vào môi trường sống một khối lượng lớn bụi, hơi khí độc... gây ảnh hưởng không
những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ
quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy
và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của
đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc
liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô
nhiễm không khí và nước. Dân số ngày càng tăng và quá trình đô thị đô thị hóa
công nghiệp hóa diễn ra ngày càng nhanh chóng đã làm cho diện tích rừng ngày
càng giảm đi nhanh hơn.Trước đây phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ,
nhưng chỉ khoảng một thế kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề.Trong thời kỳ Pháp
thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao su,
chè và một số cây công nghiệp khác.Vào khoảng giữa thế kỷ XX, độ che phủ của
rừng còn lại 43% diện tích đất tự nhiên.Ba mươi năm chiến tranh đã tiêu hủy hơn 2
triệu ha rừng nhiệt đới các loại. Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại khoảng
9,5 triệu ha, chiếm 29% diện tích cả nước. Trong thời kỳ đổi mới, để đáp ứng nhu
cầu của số dân ngày càng tăng, để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nền
kinh tế còn yếu của mình, Việt Nam vẫn phải tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ
diện tích rừng còn lại. Trong mấy năm qua, nhờ có những biện pháp tích cực về bảo
vệ rừng, vốn đầu tư về trồng rừng của chương trình PAM, chương trình 327, diện
tích rừng có tăng lên, năm 1993 tỷ lệ che phủ chiếm 27,7% lãnh thổ, 28,2% vào
năm 1995 và cuối năm 1999 thì độ che phủ rừng toàn quốc lên đến là 33,2%. Đến
năm 2014 tỷ lệ che phủ rừng là 41,5%, dù tỷ lệ có tăng nhưng sự suy thoái rừng vẫn
còn nghiêm trọng.
15
2.1.2. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường
2.1.2.1.
thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường có một số điểm
khác với trách nhiệm phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng như sau:
Quan hệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường có thể phát sinh giữa các chủ thể
mà không cần đến các cơ sở pháp lý làm tiền đề (như quan hệ hợp đồng hay quan
16
hệ công vụ), nên bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi
trường là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là loại trách nhiệm
phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà không cần có sự
thỏa thuận trước của các chủ thể. Sự trùng hợp về một số nội dung có liên quan đến
quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong các thỏa thuận hay cam kết không làm
ảnh hưởng đến căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường theo
luật định. Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là
các quy định của pháp luật về hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật môi trường
của chủ thể, không cần có sự thoả thuận trước của các bên. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự. Trách
nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường chỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chứ
không có hình thức phạt vi phạm. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì
họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản
được điều chỉnh ở Điều 307 và chương XXII BLDS 2005 và các văn bản hướng dẫn
thi hành BLDS.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện nhất
định là có thiệt hại xảy ra, nhưng trong lĩnh vực môi trường thì thiệt hại này thường
rất khó xác định vì thời gian biểu hiện sự thay đổi của môi trường thường dài; có
hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, ở đây là vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng; có mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra.; yếu tố lỗi của
người gây thiệt hại tuy nhiên không phải là điều kiện bắt buộc. Đây là những điều
kiện chung để xác định trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường, suy thoái môi trường gây ra.
thường những tổn thất gây ra đối với môi trường. Trách nhiệm này trước hết được
hiểu là trách nhiệm đối với cộng đồng, với xã hội của người gây hại cho môi trường
vì họ đã xâm hại tới các điều kiện sống chung của con người. Tiếp đến mới là trách
nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể là nạn nhân của sự xâm hại đó, thể hiện
qua việc bồi thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị hại.
Hai khía cạnh trên của trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường được xác
định bởi yếu tố khách thể của quan hệ pháp luật môi trường.Trong các quan hệ pháp
luật môi trường, lợi ích mà các bên tham gia quan hệ hướng tới vừa có tính chất
công (lợi ích công) vừa có tính chất tư (lợi ích tư).Trong mọi trường hợp lợi ích
công cộng, lợi ích cộng đồng phải được ưu tiên bảo vệ.Điều này cũng có nghĩa là
cần phải có sự phân định giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường
tự nhiên với trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản
con người.Sự phân định này nên được thể hiện qua các quy định về mức bồi
thường, hình thức và phương thức bồi thường. Chẳng hạn như đối với những thiệt
hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt
hại có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi
thường. Còn thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, người gây thiệt hại chỉ được lựa
18
chọn các mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường theo
quy định của pháp luật
2.1.2.3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Ở Việt Nam, luật môi trường xuất hiện chậm, có thể nói trong hệ thống pháp
luật hiện hành của Việt Nam thì luật môi trường là lĩnh vực mới nhất.Sự chậm trễ
này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố lịch sử. Trong giai đoạn
trước 1986 hệ thống pháp luật Việt Nam chưa là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, con