BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
BTTH
Bồi thường thiệt hại
BVMT
Bảo vệ môi trường
ÔNMT
Ô nhiễm môi trường
XĐTH
Xác định thiệt hại
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................................ 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ................................................................... 9
1.1. Ô nhiễm môi trường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường .................................................................................................................... 9
1.1.1. Ô nhiễm môi trường và thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ................. 9
1.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ............. 13
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
môi trường .................................................................................................................................... 13
1.1.2.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
môi trường ........................................................................................................ 18
1.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với trách nhiệm bồi thường
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM ....................................................................................... 63
3.1. Một số vụ việc bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi tường trong thực tế.... 63
3.1.1. Một số vụ việc bồi thường thiệt hại trong thực tế ........................................ 63
3.1.1.1. Vụ việc Nhà máy Vedan ........................................................................................ 63
3.1.1.2. Vụ việc Nhà máy mía đường Hòa Bình .......................................................... 63
3.1.1.3. Vụ việc Công ty DAPsố 2 – Vinachem – Lào Cai ...................................... 64
3.1.1.4. Vụ việc Công ty Formosa – Hà Tĩnh .............................................................. 65
3.1.1.5. Vụ việc Công ty Nicotex Thanh Thái – Thanh Hóa ................................... 65
3.1.2. Đánh giá thực trạng trên ....................................................................................... 66
3.2. Các giải pháp pháp lý ................................................................................................. 70
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về xác định thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường ................................................................................................................... 70
3.1.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền yêu cầu, quyền khởi kiện
đòi bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường .............................................. 71
3.1.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về phương thức, trình tự, thủ tục
giải quyết về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ........................... 72
3.3. Các giải pháp khác ........................................................................................................ 73
3.3.1. Hoàn thiện bộ máy tổ chức ..................................................................................... 73
3.3.2. Kiện toàn hệ thống cơ quan tư pháp ................................................................. 74
3.3.3. Nâng cao năng lực cho Thẩm phán và cán bộ Tòa án .............................. 75
3.3.4. Nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương ................76
Kết luận Chương 3 .................................................................................................................78
KẾT LUẬN ................................................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nước ta hiện đang bước vào công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước và đương nhiên đi kèm với sự phát triển là sự ô nhiễm môi trường. Ô
nhiễm môi trường ảnh hưởng đã và đang trực tiếp đến cuộc sống của con
người, nhưng vấn đề BTTH do làm ÔNMT đang là một vấn đề đòi hỏi nhiều
sự quan tâm để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho chủ thể chịu thiệt hại và
đây cũng là một bài toán khó và không rõ ràng.
Cũng từ đây, nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đã được triển khai để
giải quyết vấn đề này. Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có nhiều công trình
nghiên cứu về nội dung này hoặc liên quan đến trách nhiệm BTTH nói chung,
được thể hiện ở các cấp độ khác nhau như: sách chuyên khảo “BTTH ngoài
hợp đồng về tài sản, sức khoẻ và tính mạng” của TS. Phùng Trung Tập, Nhà
xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2009 ; Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Thị Mai
Anh về đề tài “Những vấn đề cơ bản của trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng”; Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thị Thu Hiền về đề tài “Những
nguyên tắc BTTH trong luật dân sự Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật học của
Lê Kim Loan về đề tài “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo BLDS Việt
Nam”; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Quỳnh Anh “Trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra theo BLDS năm
2005”;bài viết “BTTH do tính mạng bị xâm phạm” của Nguyễn Đức Mai,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/1997; bài viết “Trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm” của Vũ Thành Long, Tạp chí Toà án
nhân dân số 8/1999; bài viết “XĐTH do sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định
của BLDS” của Vũ Hồng Thiêm, Tạp chí Toà án nhân dân số 7/2003; bài viết
“Một số nhận xét và chú ý đối với việc BTTH do tính mạng, sức khoẻ bị xâm
3
trong lĩnh vực môi trường” do Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư
pháp thực hiện năm 2002; nghiên cứu khoa học của TS. Vũ Thu Hạnh và
Trần Anh Tuấn về “Quyền khởi kiện BTTH do hành vi vi phạm pháp luật môi
trường ở Việt Nam - Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện”; đề tài của Nguyễn
Thị Tố Uyên về “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực
BVMT ở Việt Nam”;các bài viết “BTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường”,
“Một số bất cập trong quy định pháp luật về giải quyết BTTH do ÔNMT” của
TS. Vũ Thu Hạnh, “Căn cứ XĐTH về môi trường” của Nguyễn Ngọc Anh
Đào trên Tạp chí Khoa học và pháp lý; “Xâm phạm môi trường và trách
nhiệm BTTH” của TS. Phùng Trung Tập; “Trách nhiệm BTTH trong lĩnh vực
môi trường” của Phạm Hữu Nghị, “Các quy định pháp luật về thiệt hại,
XĐTH do hành vi làm ÔNMT gây ra và định hướng xây dựng, hoàn thiện”
của Phạm Hữu Nghị và Bùi Đức Hiển trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật…
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực
trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT như: “Những vấn đề pháp lý về XĐTH do
hành vi làm ÔNMT ở Việt Nam hiện nay” của Bùi Đức Hiển; “Bước đầu
nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam” do Cục
Môi trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên
và Môi trường) phối hợp với Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ Tư pháp thực
hiện năm 2000;“Trách nhiệm BTTH do hành vi vi phạm pháp luật về môi
trường gây nên tại Việt Nam” - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007;các báo cáo tổng kết công tác thực tiễn
giải quyết đòi BTTH do làm ÔNMT gây nên của Phòng quản lý môi trường
các tỉnh, thanh tra môi trường các địa phương, Tổng cục môi trường, Cục Bảo
vệ môi trường,...
Có thể thấy các công trình nghiên cứu và bài viết đã đề cập đến nhiều
khía cạnh khác nhau và ở nhiều mức độ khác nhau của pháp luật về trách
6
+ Luận giải về sự cần thiết và yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện
pháp luật về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT trong nền kinh tế thị trường
và từng bước hội nhập quốc tế hiện nay ở Việt Nam;
+ Đề xuất các ý kiến sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật hiện hành
về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp
luật đã nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện và đảm bảo tính phù hợp, khả
thi trên thực tế tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tài liệu mang tính lý luận và thực tiễn về
trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT; hệ thống văn bản pháp luật thực định của
Việt Nam về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT; các lý thuyết về khoa học
môi trường và kinh nghiệm thế giới về xây dựng pháp luật về trách nhiệm
BTTH do làm ÔNMT.
- Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT
có thể được phân tích ở nhiều mức độ, góc độ khác nhau nhưng khó có thể
phân tích hết các vấn đề đó trong phạm vi một bản luận văn. Với mục đích,
nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu trên thì ngoài việc đưa ra nhận thức chung về
pháp luật về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT thì luận văn tập trung nghiên
cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trách
nhiệm BTTH do làm ÔNMT hiện hành ở Việt Nam, các quy định của pháp
luật về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT ở một số quốc gia trên thế giới để
làm cơ sở kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm
BTTH do làm ÔNMT ở Việt nam hiện nay.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn đi sâu nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT theo
quy định của pháp luật Việt Nam; tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống các
quy định trong các văn bản pháp luật,… Luận văn tập trung nghiên cứu nội
8
1, các nhận định trong các nội dung ở Chương 2 và đặc biệt là các ý kiến,
quan điểm về sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH
do hành vi làm ÔNMT gây ra trong Chương 3 của luận văn.
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra
những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn.
+ Phương pháp dự báo khoa học được sử dụng trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài và chủ yếu được sử dụng trong quá trình phân tích những
điểm hợp lý cũng như bất cập trong các quy định, thực tiễn thực hiện pháp
luật về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT gây ra ở Chương 2, trong việc đề
xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền trách nhiệm BTTH do làm
ÔNMT trong Chương 3 của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những kết luận, đề xuất, kiến
nghị có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về
trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT. Kết quả nghiên cứu này cũng là dữ liệu để
các cơ quan chức năng tham khảo khi thực tiễn giải quyết các vấn đề liên
quan đến trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường
Chương 2: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường tại Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam.
1
Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.168
Cục Cảnh sát môi trường (2013) – Cẩm nang Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường –
tập 2, NXB Công an nhân dân, tr. 321
3
Theo khoản 8, Điều 3 Luật BVMT năm 2014
2
10
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm
thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần
xã sống trong đất. Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các
sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp
và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử
dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn
cung cấp lương thực thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng
dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay
thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị
suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm. Riêng chỉ với ở Việt Nam,
thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.
Ô nhiễm nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý
– hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm
cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa
dạng các sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng
thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. Nước bị ô nhiễm là
do sự phú dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven
hại đối với các yếu tố môi trường tự nhiên như động vật, thực vật, đất, nước,
không khí... và không có thiệt hại đối với tài sản, tính mạng con người. Cụ
thể: Tại Tuyên bố của Liên Hợp quốc về môi trường và phát triển năm 1992,
Công ước về đa dạng sinh học 1992 thì đều cho rằng thiệt hại về môi trường
chỉ có những yếu tố: Động vật, thực vật, đất, nước và các yếu tố khí hậu; Tài
sản vật chất; Cảnh quan; Mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố trên. Những
định nghĩa hợp pháp nhất về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra
nên không bao gồm con người và tài sản của họ.
4
Cục Cảnh sát môi trường (2013), Cẩm nang Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường - tập
2, Nxb Công an nhân dân, tr. 321-324.
12
Tại Phần Lan, trách nhiệm BTTH được đặt ra đối với những thiệt hại
về môi trường gây nên bởi các hoạt động trong một khu vực nhất định và là
kết quả từ ô nhiễm đất, nước, không khí. Tại Canada, thiệt hại về môi trường
gồm hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái ven bờ; không khí, đất nước do
thải các chất độc hại, hóa chất, các yếu tố vật chất khác và tràn dầu; nước
biển, hệ động vật và thực vật biển.5
Quan điểm thứ hai cho rằng, thiệt hại do làm ÔNMT là thiệt hại không
những đối với môi trường tự nhiên mà còn thiệt hại đối với tính mạng, tài sản
của con người.
Cụ thể là: Tại Cộng hòa liên bang Nga, định nghĩa thiệt hại do ô nhiễm
môi trường gồm thiệt hại về sức khỏe cá nhân bị gây ra một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp từ ô nhiễm môi trường.6
Còn theo pháp luật Việt Nam, tại Điều 163 Luật Bảo vệ môi trường
tính mạng con người phát sinh từ việc ô nhiễm môi trường dẫn đến suy giảm
về chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.”
1.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành
vi làm ô nhiễm môi trường
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Có thể thấy rằng, một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây
tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của
mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho
người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm
BTTH được BLDS 2015 quy định tại Điều 584, Điều 585 về trách nhiệm
BTTH nói chung và Mục 3 Chương XX về trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách
nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi
thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Trách nhiệm BTTH là một dạng trách nhiệm dân sự, đây là một dạng
chế tài dân sự thường được áp dụng cho chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho
chủ thể khác. Chế định trách nhiệm BTTH được thiết lập để nhằm nội sinh
14
hóa các chi phí xã hội đảm bảo nguyên tắc công bằng trong xã hội, theo đó,
chủ thể gây thiệt hại thì phải bồi thường. Chế định trách nhiệm BTTH có hai
tác dụng cơ bản là tác dụng “khôi phục thiệt hại” và tác dụng “răn đe, phòng
ngừa”. Về tác dụng khôi phục thiệt hại, chế định trách nhiệm BTTH hướng
tới việc xác định xem khi đã có thiệt hại từ hành vi làm ÔNMT gây ra, thì ai
phải đứng ra gánh chịu hậu quả đó. Về tác dụng răn đe, phòng ngừa, chế định
trách nhiệm BTTH hàm chứa một thông điệp rõ ràng trong xã hội rằng: xã hội
lợi ích chính đáng cho các chủ thể bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của
chủ thể khác. Ở các nước khác nhau thì vấn đề trách nhiệm BTTH do làm
ÔNMT được quy định khác nhau về hình thức bồi thường và cách XĐTH.
Tuy nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất là “Chủ thể gây
thiệt hại phải bồi thường”.
Ở Việt Nam, trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT gây ra được coi là một
dạng trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng. Theo đó, cũng giống như các
loại trách nhiệm pháp lý khác, trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT là một biện
pháp cưỡng chế được áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật môi trường, gây ÔNMT dẫn đến sự suy giảm chức năng, tính hữu
ích của môi trường; gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài
sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do sự suy giảm chức năng, tính
hữu ích của môi trường thì phải trả giá về hành vi của mình qua việc khôi
phục, đền bù, bù đắp những tổn thất và khác phục những hậu quả do hành vi
vi phạm pháp luật gây ra. Vậy có thể thấy, trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT
là loại trách nhiệm gắn với thiệt hại do hành vi làm ÔNMT
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ÔMNT
Vì trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT là một dạng trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng, vì vậy nó mang những đặc điểm của trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng nói chung như:
16
– Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định.
Khác với các loại trách nhiệm pháp lý khác thì trách nhiệm dân sự có thể phát
sinh trên cơ sở sự thoả thuận của các bên.
– Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Các điều
là nhiều, giữa những chủ thể bị thiệt hại thường không có mối liên kết chặt chẽ,
tuy tổng thiệt hại những chủ thể bị thiệt hại gánh chịu có thể là rất lớn.
- Thứ ba, trong các vụ việc gây thiệt hại cho môi trường, bên cạnh thiệt
hại là các tổ chức, cá nhân cụ thể phải gánh chịu, luôn có một thứ thiệt hại mà
cộng đồng phải gánh chịu, đó là thiệt hại cho môi trường.
- Thứ tư, việc làm rõ, chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
vi phạm pháp luật và hậu quả mà chủ thể bị thiệt hại và cộng đồng phải gánh
chịu rất phức tạp và khó thực hiện.
- Thứ năm, nhiều vụ việc xử lý vi phạm pháp luật về BVMT trong thực
tế cho thấy, các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có thể gây những
thiệt hại trên một diện rất rộng, với số lượng nạn nhân rất lớn, thuộc thẩm
quyền xử lý, tài phán của nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác nhau.
Chính vì vậy, khó xác định cơ quan hay Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết
vụ việc.
- Thứ năm, việc thu thập, xác định chứng cứ chứng minh thiệt hại,
chứng minh hành vi vi phạm, việc giám định, tình trạng môi trường, giám
định thiệt hại trong các vụ việc về môi trường thường phức tạp, tốn kém, đòi
hỏi trình độ khoa học và công nghệ cao.
- Thứ sáu, chủ thể gây thiệt hại trong các vụ việc do hành vi làm
ÔNMT trong nhiều trường hợp không phải chỉ là một doanh nghiệp, một nhà
máy mà có thể là nhiều doanh nghiệp, nhiều nhà máy, nhiều cơ sở sản xuất
trong cụm công nghiệp hoặc có vị trí gần nhau trên địa phương đó. Thực tế ấy
18
cho thấy, việc xác định “tỷ lệ” gây thiệt hại, hậu quả của từng chủ thể gây ra,
để quy trách nhiệm cho công bằng, hợp lý, chuẩn xác là công việc hết sức khó
khăn, đòi hỏi hệ thống quan trắc phức tạp.
Như vậy, có thể nói rằng, trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT là hình
chủ thể đó không có lỗi” và tại khoản 8 Điều 4 Luật BVMT năm 2014: “Tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải
khắc phục, BTTH và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật”.
Theo các quy định này, việc xác định trách nhiệm BTTH do hành vi
làm ÔNMT gây ra không chỉ căn cứ vào quy định của BLDS mà còn căn cứ
vào quy định của pháp luật về BVMT và các quy định khác có liên quan.
Điều này có nghĩa là thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra không chỉ bao
gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người mà còn bao
gồm những tổn thất đối với môi trường. Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất
trong các căn cứ áp dụng trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra so
với trách nhiệm BTTH trong các trường hợp khác được quy định trong
BLDS. Nhìn chung, cách xác định các loại thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
tại Việt Nam về cơ bản là phù hợp với quan điểm pháp luật của nhiều nước
trên thế giới như: Australia, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Malaysia, Singapore,
Liên bang Nga và đặc biệt là quan điểm luật pháp của Cộng đồng châu Âu.7
Theo pháp luật của các nước này những thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây
ra thuộc phạm vi phải bồi thường bao gồm: thiệt hại về tài sản vật chất; thiệt
hại về kinh tế; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người; thiệt hại đối
với môi trường. Những thiệt hại này được phân thành thiệt hại về vật chất và
thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất thì mắt thường chúng ta cũng có
thể thấy dễ dàng thấy được, nhưng thiệt hại về tinh thần rất khó nhận biết và
“cân đong đo đếm được”.
Hà Thị Nguyên Ngọc (2002), Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 14 –
15.
7