trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường - Pdf 30

Lời mở đầu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là một
trong những vấn đề đang hết sức được quan tâm hiện nay, trong bối cảnh
vấn đề môi trường đang là vấn đề nóng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn
thế giới, hàng loạt các vụ án về môi trường được phanh phui, hành loạt các
hành vi làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại nghiêm trọng được phát giác
thì vấn đề trách bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường lại càng trở
nên nóng bỏng hơn bao giờ hết, vì vậy em quyết định lựa chọn đề tài “
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường” qua đó mong
có được một cái nhìn chính xác nhất về một trong những vấn đề mang tính
chất thời sự nhất hiện nay.
I. Khái niệm về môi trường và hành vi làm ô
nhiễm môi trường
Trước khi đi vào phân tích trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường, ta cần phải xác định lại một số khái niệm có liên quan
đó chính là khái niệm môi trường và hành vi làm ô nhiễm môi trường
1. Khái niệm môi trường
Môi trường là khái niệm có nội hàm tương đối rộng, theo từ điển
tiếng Việt, môi trường được hiểu là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự
nhiên và xã hội trong đó con người hay sinh vật tồn tại, phát triển trong mối
quan hệ với con người hay sinh vật ấy” Khái niệm môi trường được sử dụng
trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong phạm vi bài viết này, về vấn đề trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, khái niệm môi
trường được xác định theo định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường 2005:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường: “Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật”. Cũng theo quy định tại khoản 3 Điều 3, Luật Bảo vệ
1
môi trường thì:“Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi
trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái

hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định.
4. Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác
không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường.
5. Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất
độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước.
6. Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát
tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hoá vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho
phép.
7. Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
8. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn
môi trường.
9. Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức.
10. Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi
sinh vật ngoài danh mục cho phép.
11. Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh
vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa
yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
12. Xâm hại di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên.
13. Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo
vệ môi trường.
14. Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về
môi trường đối với sức khỏe và tính mạng con người.
3
15. Che giấu hành vi huỷ hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ
môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi
trường.
16. Các hành vi bị nghiêm cấm khác về bảo vệ môi trường theo quy
định của pháp luật.”

động vật.
- Hành vi sử dụng chất độc, chất nổ, các hóa chất khác, dòng điện
hoặc các phương tiện ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản hoặc làm hủy
hoại nguồn lợi thủy sản. Khai thác nguồn thủy sản quý hiếm, phá hoại môi
trường sống của các loại thủy sản quý hiếm đã gây thiệt hại về môi trường
sinh thái.
- Phá hoại rừng bằng các hành vi đốt, phá rừng trái pháp luật; vi
phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm bằng các hành vi
săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm
mà pháp luật đã cấm vận chuyển, buôn bán trái phép các loại sản phẩm của
động vật đó như thịt, da, lông, xương, sừng…
- Hành vi thực hiện vi phạm hoặc không tuân theo chế độ bảo vệ đặc
biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên vì lợi ích của mình hoặc cơ quan mình
trái với quy chế bảo vệ đặc biệt khu bảo tồn đó.
II. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
gây ô nhiễm môi trường.
1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường
là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên, với những
nét đặc thù của mình, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do hành vi gây ô nhiễm môi trường có những nét riêng.
5
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường
cần có đủ ba điều kiện:
- Thứ nhất: phải có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Hành vi đó đã
tác động đến các yếu tố của môi trường gây ô nhiễm
- Thứ hai: hành vi gây ô nhiễm môi trường có mối quan hệ nhân quả
với môi trường bị gây ô nhiễm xác định được và thiệt hại do ô nhiễm môi
trường gây ra.

nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, các viện
nghiên cứu…) hoặc tổ chức khác không phải là pháp nhân (hộ gia đình, tổ
hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh…)
Đối với cá nhân, những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi
đầy đủ thì tự mình phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp người từ đủ 15
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của
mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần
còn thiếu bằng tài sản của họ. Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha
mẹ thì cha mẹ phải bồi thường thiệt hại toàn bộ. Nếu tài sản của cha mẹ
không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng đó để
bồi thường phần còn thiếu cho người bị hại.
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt
hại mà có cá nhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân đó được dùng tài sản của
người được giám hộ để bồi thường. Nếu người được giám hộ không có tài
sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường
bằng tài sản của mình. Nhưng người giám hộ chứng minh được mình
không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi
thường.
Trong thực tế đời sống, các chủ thể gây ô nhiễm môi trường chủ yếu
là các doanh nghiệp. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình do
không có thiết bị xử lý chất thải, hoặc không tuân thủ các quy định khác về
bảo vệ môi trường… các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã làm suy thoái môi
7
trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường gây thiệt hại cho tổ chức, cá
nhân khác. Như vậy, chủ thể “tiềm tàng” chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại, trước hết là các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế.
Trên thực tế, những thiệt hại về môi trường có thể do hành vi có lỗi,
có thể do hành vi không có lỗi gây ra và có thể do một sự biến pháp lý
tương đối gây ra. Môi trường có thể bị ô nhiễm do những sự cố nhật định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status