Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường - Pdf 34

Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………….....2
I. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………..2
II. Cơ sở pháp lý…………………………………………………………..3
B. PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………..3
I. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng..3
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?..........................3
2. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng…………....4
3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại…………………………………...…….6
II. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường….…7
1. Hành vi làm ô nhiễm môi trường…………………………………..…....7
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường….………8
III. Thực trạng về bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi
trường ở Việt Nam hiện nay……………………………………………….15
1. Thực trạng về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt
Nam……………………………………………………………………….…15
2. Nguyên nhân của những bất cập về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
môi trường ở Việt Nam……………………………………………..……….17
3. Một số kiến nghị, đề xuất……………………………………..………..17
C. PHẦN KẾT LUẬN………………………………………...…………19
 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………...…………20

1


Bài tập lớn học kì


2


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2005,
có hiệu từ ngày 01/7/2006 là văn bản pháp luật chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường, thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993.
- Nghị định 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về
việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi
trường.
- Ngày 31/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số
117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2010 và thay thế Nghị
định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghị định quy định
hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức, mức
xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền va thủ tục xử phạt…
- Điều 624 Bộ Luật dân sự 2005 quy định “Cá nhân, pháp nhân và các
chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường
không có lỗi.
- Ngày 17/6/2004 Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt
hại do ô nhiễm dầu 1992 có hiệu lực tại Việt Nam - Ngoài các căn cứ pháp lý
nói trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường còn
được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác như Bộ luật Hàng hải
2005, Luật khoáng sản 1996 (các điều 64, 65), Luật tài nguyên nước 1998

thần.
- Thiệt hại về vật chất bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy
định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại
khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại
Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy
định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.
- Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm
4


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

phạm mà người thân thích, gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương,
buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc uy tín, bị bạn bè xa lánh do
hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà
họ phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không
phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị
xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị
hiểu nhầm và phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải
chịu.
2.2. Phải có hành vi trái pháp luật:
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện
thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp
luật.
Người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật thì người đó phải bồi
thường. Pháp luật loại trừ những hành vi sau tuy có gây ra thiệt hại nhưng

hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm
pháp luật đó.
3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
3.1. Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,
cần phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều
605 BLDS. Cần phải tôn trọng thoả thuận của các bên về mức bồi thường,
hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thoả thuận đó không
trái pháp luật, đạo đức xã hội.
3.2. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì khi giải quyết
tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý:
a. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải
quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS
quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và
thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây
thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.
b. Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Toà án phải giải quyết
nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong
trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm

6


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của
đương sự.
c. Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ


Luật dân sự Việt Nam module 2

là nhân tố gây ra ô nhiễm môi trường: Trong quá trình sản xuất, kinh doanh,
sinh hoạt, dịch vụ và các hoạt động khác đã thải ra chất thải ở dạng rắn, khí,
lỏng hoặc các dạng khác mà các chất đó là những nhân tố làm cho môi trường
trở nên độc hại. Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi làm thay đổi tính
chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn của môi trường. Trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh, trong sinh hoạt, hành vi của con người đã làm ô nhiễm môi
trường dẫn đến suy thoái môi trường, làm thay đổi chất lượng và số lượng của
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và
thiên nhiên.
Như vậy, hành vi gây ô nhiễm môi trường là nguyên nhân làm ảnh
hưởng xấu đến đời sống của con người và thiên nhiên. Người có hành vi gây
ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
2.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường:
Căn cứ vào điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và điều 624 Bộ
luật Dân sự 2005, chúng ta có thể hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là những cá nhân, tổ chức.
Các tổ chức từ khi thành lập đã có năng lực pháp luật, có năng lực chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Khi các tổ chức khi tham gia vào các quan
hệ pháp luật môi trường mà có hành vi làm ô nhiễm môi trường dẫn tới gây
thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình.
Các tổ chức có thể là pháp nhân (chẳng hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các viện nghiên cứu…) hoặc tổ chức
khác không phải là pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân…)
Đối với cá nhân, những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy
đủ thì tự mình phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến

hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường cần có đủ 3 điều kiện. Thứ nhất, có
hành vi gây ô nhiễm môi trường. Hành vi đó đã tác động đến các yếu tố của
môi trường gây ra ô nhiễm. Thứ hai, hành vi gây ô nhiễm môi trường có mối
quan hệ nhân quả với môi trường bị gây ô nhiễm xác định được và thiệt hại
do ô nhiễm môi trường gây ra. Thứ ba, những thiệt hại về môi trường do hành
vi xâm phạm môi trường gây ra xác định được dựa trên những thiệt hại đã xảy
ra và thiệt hại chắc chắn xảy ra cho môi trường, môi trường bị gây thiệt hại là
cầu nối dẫn đến thiệt hại khác.
9


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

Người gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại theo trách
nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, người đó còn phải chịu trách nhiệm hình sự
trong những trường hợp gây ô nhiễm về không khí, nguồn nước, đất theo quy
định tại Điều 182 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009.
Hành vi gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất là “thải vào không khí,
nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ
vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng
hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng
khác, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thuộc loại
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo pháp luật dân sự, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phát sinh khi có các điều kiện sau
đây:

Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng,
tính hữu ích của môi trường gây ra. Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con
người được thể hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục
hồi các chức năng bị mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị
mất, bị giảm sút do bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô
nhiễm, suy thoái môi trường. Ví dụ: khi môi trường sống bị ô nhiễm (ô nhiễm
nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất…) sức khoẻ con người bị giảm sút, bị
mắc các bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hoá… Thiệt hại do tài sản bị xâm
phạm. Đó có thể là: tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng, thiệt hại gắn liền với
việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền với việc không sử dụng, không
khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản;
những chi phí để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại. Ví dụ: nguồn nước và
không khí bị ô nhiễm, đồng cỏ bị nhiễm độc do các chất thải của các cơ sở
công nghiệp làm cho các gia súc, gia cầm bị ốm, bị chết gây thiệt hại cho
nhân dân. Các khu du lịch do bị ô nhiễm mà phải đóng cửa dẫn đến bị thất thu
và nguồn lợi nhuận bị suy giảm…Còn thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân được thể hiện qua sự tổn hại về lợi ích vật chất, sự giảm sút về
thu nhập chính đáng mà nguyên nhân là do sự suy giảm chức năng, tính hữu
ích của môi trường.
11


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

Những thiệt hại do hành vi làm cho môi trường bị ô nhiễm đã dẫn đến
những thiệt hại không những về mặt thực tế, mà còn là những nguy cơ tiềm
ẩn lâu dài tồn tại trong không gian và thời gian nhất định, có thể gây thiệt hại


Luật dân sự Việt Nam module 2

nguồn nước khiến cho nhiều diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị ảnh hưởng
nặng nề, sản lượng đánh bắt thuỷ sản của bà con ngư dân trên dòng sông
này giảm dần từ năm 2002.
b. Hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường.
Người có hành vi gây ô nhiễm môi trường đã thực hiện các hành vi trái
pháp luật hoặc hành vi trái pháp luật hoặc hành vi trong sản xuất kinh doanh,
làm dịch vụ hợp pháp nhưng đã gây ô nhiễm môi trường gây thiệt hại cho
chính môi trường và gây thiệt hại cho người khác. Hành vi gây thiệt hại về
môi trường là hành vi làm biến dạng sinh thái vốn có tự nhiên của môi trường,
làm cho nguồn nước không thể sử dụng được hoặc làm cạn kệt nguồn nước tự
nhiên dẫn đến nhiễm bẩn nguồn nước, sa mạc hoá một nguồn nước nguyên
thuỷ như đầm, ao, hồ, dòng sông, suối…đã gây những khó khăn cho người
khác trong sinh hoạt, trong sản xuất, kinh doanh hoặc gây cho nguồn không
khí trong lành một không gian nhất định bị nhiễm độc, là nguy cơ trực tiếp
gây tổn hại đến sức khoả của con người, vật nuôi, cây trồng và cảnh quan
thiên nhiên, cảnh quan nhân tạo khác.
c. Có lỗi của chủ thể gây thiệt hại
Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất đa dạng phong
phú. Hành vi có lỗi hay không có lỗi của con người xâm hại môi trường vừa
là nguyên nhân trực tiếp, vừa là nguyên nhân gián sâu xa gây thiệt hại. Hành
vi xâm hại môi trường là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho môi trường,
môi trường bị thiệt hại đã tác động trực tiếp đến sự sống và gây thiệt hại cho
sự sống của muôn loài.
Ví dụ : hành vi đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây
thiệt hại đến môi trường, làm mất cân bằng sinh thái; thải khói, bụi, khí độc,
mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho
phép vào môi trường xung quanh; chôn vùi, thải vào đất các chất thải độc hại

nhân dân, tổ chức khu vực xung quanh.
d. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm pháp luật
bảo vệ môi trường.
Thiệt hại thực tế xảy ra là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật. Hoặc
nói một cách khác, hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại
xảy ra. Trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường cần làm sáng tỏ mối quan hệ này.

14


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

Là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường có một số điểm khác với trách nhiệm
phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng như sau:
- Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là
các quy định của pháp luật về hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật của chủ
thể, không cần có sự thỏa thuận trước của các bên.
- Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường việc
thực hiện bồi thường thiệt hại sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ còn trong nghĩa vụ
hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại không làm cho người có nghĩa vụ được
giải phóng khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ một cách thực tế như giao vật,
thực hiện công việc…
- Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường chỉ có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại chứ không có hình thức vi phạm.
- Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường có
trường hợp không có lỗi vẫn phải chụi trách nhiệm, nếu pháp luật có quy

phải bồi thường những thiệt hại xảy ra trên cơ sở xác định được thiệt hại đó,
theo nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu. Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại vẫn được áp dụng dựa
trên những thiệt hại xác định được dù là thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp.
Nhưng nguyên tắc này chỉ phù hợp với những thiệt hại về vật chất đơn thuần,
mà không phù hợp trong việc áp dụng đối với hành vi xâm hại môi trường. Vì
hành vi xâm hại môi trường thì phạm vi và thời gian gây thịêt hại có thể rất
lớn và rộng hơn rất nhiều lần so với thiệt hại đơn thuần( trong mối quan hệ
không gian và thời gian). Sự tiềm ẩn của những nguy cơ do môi trường bị
xâm hại gây ra là rất lớn và lâu dài, có thể đơn vị thời gian thiệt hại đó không
thể xác định được chính xác theo ngày, tháng năm cụ thể mà còn có thể diễn
biến theo chiều hướng xấu trong nhiều năm tiếp theo.Thiệt hại mang tính chất
phản ứng dây truyền mà không bộc lộ bằng những hiện tượng dễ nhận biết
như những thiệt hại do hành vi trái pháp luật khác gây ra( một tài sản bị tiêu
huỷ, một gia súc bị làm chết hoặc bị gây thương tích…). Thiệt hại do xâm hại
môi trường gây ra vừa là những thiệt hại thực tế xác định được ngay tạo thời
điểm có thiệt hại xảy ra, và những thiệt hai chắc chắn sẽ xảy ra trong tương
lai, mà tại thời điểm xác định thiệt hại không thể nhận biết được. Như: rừng
đầu nguồn bị tàn phá, hành lang và thành luỹ chắn gió, chắn lũ bị phá vỡ là
điều kiện cho nguồn nước mưa đầu nguồn tự do lưu thong xuống hạ lưu gây
16


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

ra ngập lụt, cuốn trôi mọi thứ dưới hạ nguồn. Thiệt hại này do nguyên nhân
sâu xa gây ra là hành vi xâm hại môi trường trước đó do rừng đầu nguồn bị
tàn phá, và đa số mọi người nghĩ là do tự nhiên , do thiên tai gây ra. Hay


Luật dân sự Việt Nam module 2

mọi mặt, lớn hơn nhiều lần so với lợi ích thu được của người có hành vi xâm
hại môi trường theo phương thức tiêu cực. Tình trạng “cha chung không ai
khóc” , môi trường là một mái nhà chung, mái nhà chung bị ô nhiễm là
nguyên nhân trực tiếp và sâu xa gây ra những thiệt hại trước mắt và lâu dài
cho toàn xã hội mà chẳng mấy được quan tâm.
3. Một số kiến nghị, đề xuất
Để khắc phục thực trạng trên, giúp cho việc áp dụng pháp luật trong kĩnh
vực bồi thường thiệt hại có hiệu quả, em xin đưa ra một số kiến nghị:
Để làm cho pháp luật dân sự cần thiết phải được ban hành theo nguyên
tắc chung và đặc thù trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường gây ra theo nguyên tắc được định hướng dưới đây:
- Người có hành vi xâm phạm môi trường cho dù là cố ý hay vô ý, đều
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
+ Những chi phí làm trong sạch lại môi trường như tình trạng trước khi
môi trường chưa bị xâm phạm.
+ Có trách nhiệm bồi thường toàn bộ những thiệt hại do hành vi gây ô
nhiễm môi trường đã gây thiệt hại cho chủ thể khác;
+ Có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xác định được chắc chắn
xảy ra trong tương lai dựa trên những căn cứ khoa học chuyên ngành xác định
được;
+ Ngoài khoản bồi thường theo trách nhiệm dân sự, nguyên tắc gây thiệt
hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu, người có hành vi xâm hại môi
trường không phụ thuộc vào hình thức lỗi, còn chịu phạt vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật hiện hành. Người có hành vi xâm hại môi trường
gây hậu quả nghiêm trọng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc
xác định thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường còn phải xác định những nguy
cơ tiềm ẩn do môi trường bị ô nhiễm gây ra, phải căn cứ vào mối quan hệ


Bảo vệ môi trường không những được thể hiện trong những chính sách
và pháp luật của nhà nước, những loại chế tài cụ thể đã được quy định áp
dụng đối với người có hành vi làm ô nhiễm môi trường đồng thời bảo vệ môi
trường còn là việc không của riêng cá nhân, tổ chức, cơ quan bảo về môi
trường và những người thuộc cơ quan bảo vệ môi trường, mà còn là trách
nhiệm của toàn dân và suy rộng ra là trách nhiệm, bổn phận của mỗi một cá
nhân trên toàn thế giới. tuy nhiên cần phải xíêt chặt các hình thức bảo vệ môi
trường, các hình thức xử phạt trong lĩnh vực môi trường, cụ thể hoá trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường để hạn chế những thiệt
hại do làm ô nhiễm môi trường, để bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp.

20


Bài tập lớn học kì

Luật dân sự Việt Nam module 2

 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2009.
2. Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009.
3. Nguyễn Xuân Anh, “Một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Tạp
chí tòa án nhân dân, số 4/2005.
4. Bộ luật dân sự năm 2005.
5. Nghị định 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status