Mồ mả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả - Pdf 34

LUẬT DÂN SỰ - MODULE 2 - KHÓA 35

BÀI TẬP LỚN/HỌC KÌ

Đề bài: Đề số 13: Mồ mả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm
mồ mả.

Bài làm:
I.

MỒ MẢ
Thờ cúng tổ tiên còn là hình thức tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ chức

cộng đồng trong xã hội truyền thống. Thờ cúng tổ tiên, ông bà là tín ngưỡng gốc
xuyên suốt quá trình lịch sử Việt Nam, nó là sợi dây liên kết để góp phần cột chặt
tính thống nhất toàn dân tộc và cũng là cội nguồn của các phong tục, tín ngưỡng
khác. Chúng ta coi việc thờ cúng tổ tiên cũng chính là việc cầu xin ông bà phù hộ
cho gia đình, dòng họ; cho sự trường tồn của quốc gia, cho “quốc thái dân an”.
Pháp luật thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng của công dân; việc thờ cúng tổ tiên là
tự nguyện, không hề có sự áp đặt. Trong gia đình Việt thì lo mồ mả cho những
người thân đã chết cũng là một trong những phong tục được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Việc xây cất mồ mả cho những người thân đã chết thể hiện sự
tôn trọng, tình cảm của người sống đối với người đã khuất, và mong muốn nhờ
người khuất “phù hộ độ trì” cho con cháu ăn nên làm ra.
Đa số ở các nơi đều có phong tục lập mồ mả cho người chết, theo Việt Nam
phong tục của Phan Kế Bính: “Người mất sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài
năm nữa thì con cái lo việc cải táng”, người Việt có phong tục cải táng người chết.
Tuy nhiên ở mỗi vùng miền lại có cách mai táng cho người chết khác nhau, như
tục chôn những người chết trong nhà mả ở dân tộc J’rai, tỉnh Gia Lai; tục hỏa táng
trong tang lễ của người Thái, tỉnh Yên Bái…Tuy mỗi địa phương có một phong
tục khác nhau nhưng nhìn chung đa số người Việt đều lập mồ mả cho người thân

năm mà xây mả (nếu người chết được tuổi, tức trong năm đó không kiêng kỵ về
xây dựng, trong 49 ngày đầu tiên có thể lập mộ, còn sau đó phải xem ngày tháng
năm như người sống) bằng Tứ Kim Lâu, Lục Hoang Ốc, ngày, tháng Hoàng Đạo
v.v…
Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 2


Thế đất tốt dùng cho âm trạch là nơi khô ráo, trong “Lã Giám – Tiết tang
thiên” viết : “Chôn cạn thì hay bị cầy cáo bới ăn xác, chôn sâu chạm nước mạch,
do vậy phải chôn trên gò cao, để tránh nạn cầy cáo và nạn đầm nước, xác mau
thối rửa là không thích hợp”.
Khi có tục chôn cất hình thành, người xưa (qua phát hiện các ngôi mộ cổ tại
Hà Nam và Vân Nam bên Trung Quốc) thường chôn người chết quay mặt nhìn về
hướng Nam hoặc chếch về hướng Tây. Tìm thấy ở Bán Pha, Tây An thời văn hóa
Ngưỡng Thiều – nền văn hóa cổ đại ở lưu vực sông Hoàng Hà, thời đồ đá mới – có
250 ngôi mộ đều quay mặt về hướng Tây. Tại Vân Nam, phát hiện 200 ngôi mộ
thời Xuân Thu đầu quay về hướng Nam, chân xuôi hướng Bắc. Một phát hiện khác
tại Hà Nam, có 114 ngôi mộ thời kỳ đồ đá đầu quay chệch về hướng Tây – Tây
Nam). Thời Minh – Tống bên Trung Quốc, người ta làm quan tài dầy 3 tấc để xác
bị thối rửa lâu hơn, áo liệm đến 3 lớp đủ che đậy. Khi chôn phía dưới áo quan
không có nước, phía trên không thông với mùi xú uế trên mặt đất. Thuật phong
thủy cho rằng, khi an táng đầu chếch về Tây hay Tây Nam, chôn sâu mà không
đụng mạch nước ngầm là tốt. Còn khi cải táng cho một huyệt mộ vì một lý do nào
đó, ngoài việc đi tìm đất táng, thân nhân cần có chút hiểu biết khi thực hiện phần
công việc cải táng này.
Thông thường muốn cải táng cho một ngôi mả, ít nhất cũng sau ba năm kể
từ ngày chôn cất, bởi khi ấy mùi tử khí không còn ảnh hưởng đến môi trường, và
cũng là đạo lý trong tập quán của người Việt chúng ta.
Ngày xưa rất ít người chịu cải táng phần mộ của ông bà cha mẹ, vì sợ bị
động vào long mạch, số người còn lại có những lý do khác nhau để cải táng :

Khi thực hiện phần gom hài cốt, nhặt lấy xương xếp vào một tiểu sành rồi
rẩy nước hoa vào, lúc hoàn tất phải hàn nắp cho kín không cho ánh sáng lọt vào.
Sử dụng tiểu sành là đi gửi chùa, hay đem về nhà thờ. Nếu hài cốt đưa đi cải táng
chôn nơi khác, thì dùng áo quan nhỏ, gắn hài cốt như hình người và tẩm liệm thật
kỹ như lúc mới chết.
Người mới chết đắp mộ theo chiều dài thân, người cải táng đắp mộ theo hình
tròn. Quan tài cũ không dùng phải bỏ, một số người ở nông thôn thường lấy về làm
chuồng nuôi súc vật cho không bị sâu chân. Số khác lấy những mảnh gỗ làm bàn
cầu cơ bói toán, hoặc bị đau nhức lấy đốt lên để dưới gầm giường cho cơn đau
thuyên giảm. Những nơi đất cao ráo, độ ẩm thấp, còn làm cho thân xác người chết
ít bị thối rửa hơn những nơi ẩm thấp.
Hiện nay, ở nước ta có nhiều cách thức táng người chết khác nhau như: mai
táng, hỏa táng, hung táng và các hình thức khác. Tuy nhiên cần làm rõ khái niệm
mồ mả bởi mỗi địa phương có cách thức mai táng khác nhau, có nơi chôn cất thi
hài vĩnh viễn trong long đất như: Nghệ An, dân tộc Xơ-đăng huyện Kon Plông,
Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 4


tỉnh Kon Tum, người Thái ở Tương Dương… và hình thức cải táng ở một số địa
phương khác, sau khi chôn người chết xuống đất, sau một thời gian nhất định sẽ
chuyển xương cốt từ hình thức mộ hung cát sang hình thức táng khác. Với các
cách táng khác nhau trên, một số người dễ bị nhầm lẫn và quan niệm mồ mả bao
gồm cả xương cốt, hài cốt bên trong, đặc biệt là phương thức hỏa táng người đã
chết mà ngày nay vẫn nhiều người áp dụng.
Tuy nhiên, mồ mả chỉ là vật chất bên ngoài chứa đựng hài cốt, thi thể của
người chết ở bên trong. Mồ mả và thi thể có mối liên hệ mật thết với nhau, nhưng
không thể đồng nhất hai khái niệm này. Mồ mả là vật chất chứa đựng thi thể, hài
cốt. Ngược lại, một vật chất chỉ được coi là mồ mả khi nó chứa đựng thi thể, hài
cốt. Nhưng cũng có rất nhiều các chiến sĩ hy sinh, không tìm được thi thể hài cốt
thì người thân thường lập nên nơi gọi là “mồ mả” như một hình thức trấn an tâm lí,

CƠ SỞ PHÁP LÍ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM MỒ
MẢ
Lần đầu tiên ở nước ta, Bộ luật Dân sự 2005 qui định về bồi thường thiệt hại

do xâm phạm mồ mả tại Điều 629:
“Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến mồ mả của người khác
phải bồi thường thiệt hại. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn
chế, khắc phục thiệt hại.”
Quy định trên thật sự phù hợp với đời sống thực tế. Trong điều kiện nền kinh
tế thị trường khuyến khích bảo hộ phát triển ở nước ta, kinh tế đất nước ngày một
phát triển, việc mở rộng những khu công nghiệp mới, khu nhà chung cư, mở rộng
đô thị, mở rộng hệ thống đường giao thông, sân bay, bến cảng, các khu công
nghiệp…, cùng với việc giải phóng mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ
cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh sự phát triển của
kinh tế tư bản tư nhân, các công ty liên doanh, hợp danh và kinh tế của hộ gia đình,
của cá nhân cũng không ngừng phát triển theo. Nhu cầu mở rộng nhà ở, mở rộng
sinh hoạt, mở rộng mặt bằng kinh doanh, làm kinh tế cá thể, tiểu chủ cũng rất phát
triển ở nước ta. Từ những điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh và giải phóng
mặt bằng xây dựng cơ sở hạ tầng không hẳn là không có những trường hợp chủ thể
đầu tư, xây dựng đã vô tình hay hữu ý xâm phạm đến mồ mả của người khác.
Những trường hợp xâm phạm mồ mả của người khác thường phát sinh trong đời
sống thực tế không phải là cá biệt, hãn hữu, mà thậm chí ở nơi này, nơi khác xảy ra
khá phổ biến. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả, là trách nhiệm pháp lí đặc

Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 6


biệt vì hành vi xâm phạm mồ mả, đồng thời xâm phạm về nhân thân và xâm phạm
về tài sản.
Việc làm rõ những quyền nhân thân và quyền tài sản của một người bị xâm

Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 7


 Điều kiện thứ hai: Người có hành vi xâm phạm mồ mả cho dù có lỗi cố ý
hay vô ý đều phải chịu trách nhiệm dân sự (xem xét về hậu quả của hành vi xâm
phạm mồ mả);
 Điều kiện thứ ba: Hành vi xâm phạm mồ mả có mối quan hệ nhân quả với
thiệt hại về tài sản của những người thân thích của cá nhân có mồ mả, đồng thời
cũng có hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân gắn liền với cá nhân có mồ mả.
Hành vi xâm phạm mồ mả thỏa mãn 3 điều kiện trên thì người xâm phạm có
trách nhiệm dân sự về tài sản và thân nhân đối với những người thân thích của
người có mồ mả.
Mặt khác, hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi xâm phạm đến vị trí mai
táng xác, hài cốt, tro hài cốt của người chết theo phong tục, theo nghi lễ, tôn giáo,
tín ngưỡng của cộng đồng dân cư. Hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi trái pháp
luật, cho dù hành vi đó không gây ra bất kỳ thiệt hại nào về tài sản, nhưng nếu
hành vi đó được xác định là hành vi xâm phạm đến nơi an nghỉ cuối cùng của cá
nhân người chết, đều bị coi là hành vi xâm phạm mồ mả. Việc xác định hành vi
xâm phạm mồ mả là một việc rât quan trọng vì việc xác định hành vi đó là căn cứ
pháp lý để xác định trách nhiệm dân sự của người có hành vi xâm phạm hay không
bị coi là xâm phạm mồ mả của cá nhân. Các dấu hiệu của hành vi xâm phạm mồ
mả:
- Một người có hành vi cho dù với bất kì mục đích gì mà xâm phạm trực tiếp
đến xác, hài cốt, tro hài cốt dưới mộ, gây ra sự nhầm lẫn đối với người thân thích
của người chết đó.
- Người có hành vi di chuyển vị trí chôn cất xác, chôn hài cốt, tro hài cốt của
cá nhân trái với ý chí của những người thân thích của người chết (ngoại trừ trường
hợp phải di rời mồ mả theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
- Người có hành vi thay đổi tấm bia ghi tên của người chết có xác, hài cốt, tro
hài cốt dưới mộ, gây ra sự nhầm lẫn đối với người thân thích của người chết đó.

phạm được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế. Những thiệt hại về tài sản khi mồ
mả bị xâm phạm là những chi phí mua vật liệu xây dựng và những chi phí khác
cho việc xây dựng mồ mả (chi phí về tiền công xây dựng mồ mả…). Những vật
liệu xây dựng mồ mả thông thường gồm gạch, đá hoa, cát, xi măng, vôi, sắt thép,
sơn, bia đá, bia đồng, gỗ, tấm lợp, ngói…, đã bị người xâm phạm mồ mả gây ra
thiệt hại, xác định được bằng một khoản tiền vào thời điểm bồi thường thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại về mồ mả do phần tài sản (vật chất) bị xâm phạm cũng theo
nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì người gây thiệt hại phải bồi thường bấy
nhiêu (bồi thường toàn bộ thiệt hại). Như vậy, bồi thường thiệt hại về mồ mả (phần
tài sản) cũng tuân theo nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,
do hành vi xâm phạm mồ mả mà gây thiệt hại về tài sản. Những chi phí trả cho
thầy bói, cô đồng và những chi phí khác liên quan đến điều cấm của pháp luật như
gọi hồn người chết, yểm bùa, liên hoan nhân dịp khánh thành ngôi mộ được khắc
phục lại…, thì người xâm phạm mồ mả không phải bồi thường.
Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 9


Một số vấn đề thực tế cần phải được giải quyết trong trường hợp có hành vi
xâm lấn mồ mả: Hành vi xâm lấn mồ mả của người khác nhưng không gây thiệt
hại về vật chất, người có hành vi xâm lấn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
không? Hiện nay pháp luật dân sự và pháp luật đất đai không điều chỉnh diện tích
dành riêng cho ngôi mộ chôn cất, mai táng người chết là bao nhiêu mét vuông. Vì
vậy, tùy vào điều kiện thực tế của từng địa phương, khu nghĩa trang nhân dân được
qui hoạch trên một diện tích đất thường là xa nơi dân cư để đảm bảo vệ sinh, còn
diện tích nghĩa trang đó rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào địa hình, vốn quĩ đất của
địa phương dùng vào việc mai táng người của địa phương khi qua đời. Nhưng cũng
không ít trường hợp người dân địa phương bán diện tích đất thuộc quyền sử dụng
của mình cho người khác làm địa điểm mai táng. Tại nhiều địa phương vẫn còn
thực trạng là không có những qui hoạch một diện tích đất cụ thể để làm nghĩa địa
và trên thực tế vẫn còn những địa phương không mấy quan tâm đúng mức đến vấn

quyền hạn của mình để giải quyết.
2. Người xâm phạm mồ mả không những xâm phạm đến quyền nhân thân
bất khả chuyển dịch của cá nhân có mồ mả, mà còn xâm phạm đến tinh thần
người thân thích của cá nhân có mồ mả
Thi thể hay hài cốt của người chết không phải là tài sản, do vậy người xâm
phạm mồ mả của người khác thì ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản
là những khoản chi phí để hạn chế, khắc phục thiệt hại thực tế đã xảy ra theo
nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại, người xâm phạm mồ mả còn phải bồi
thường bù đắp tổn thât về tinh thần cho người thân thích của người có mồ mả bị
xâm phạm. Vì hành vi xâm phạm mồ mả không những đã gây hại về phần tài sản
như đã xác định trên đây, mà hành vi xâm phạm mồ mả còn xâm phạm đến quyền
nhân thân của chính người có mồ mả đó. Đồng thời cũng gây ra những tổn thất về
tinh thần đối với những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm.
Nhận định này được dựa trên những căn cứ sau:
2.1. Quyền nhân thân của người có mồ mả
Quyền nhân thân gắn với mồ mả của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Năng
lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi có người chết. Những quyền nhân
thân gắn liền với mồ mả của cá nhân được pháp luật bảo đảm sự toàn vẹn và cấm
mọi hành vi xâm phạm đến mồ mả của cá nhân.
2.2. Danh dự của người thân thích
Danh dự của những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm
được xác định theo quy định của pháp luật dân sự là tổn thất về mặt tinh thần. Về
người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm có được coi tương tự như
Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 11


trong trường hợp thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm theo quy định tại Điều
611 Bộ luật Dân sự không? Điều 611 Bộ luật Dân sự chỉ quy định thiệt hại cho
người sống mà danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó bị xâm phạm, nhưng lại
không có quy định về quyền nhân thân gắn liền với cá nhân có mồ mả bị xâm


không trái với quy định chung của pháp luật dân sự về bồi thường tổn thất về tinh
thần cho người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm.
2.3.

Trách nhiệm của người do bị nhầm lẫn mà xâm phạm mồ mả của cá

nhân
Trên thực tế, hành vi nhầm lẫn có thể xảy ra trong trường hợp người ta khai
quạt nhầm mồ mả của cá nhân do thiếu cẩn trọng hoặc xác định sai vị trí mồ mả.
Hành vi đào nhầm mồ mả của cá nhân có phải là hành vi xâm phạm không? Nếu
xét theo hình thức lỗi, hành vi đào nhầm mồ mả là hành vi vô ý (do thiếu cẩn trọng
mà xác định sai vị trí mồ mả của người thân) mà gây thiệt hại đến mồ mả của
người khác. Nếu xét theo hậu quả của hành vi đào nhầm mồ mả của cá nhân, thì
hành vi đào nhầm cũng là hành vi xâm phạm mồ mả. Những thiệt hại về mồ mả
cho dù xuất pháp từ hành vi vô ý hay cố ý, thì cũng đều gây ra những thiệt hại nhất
định về tài sản và nhân thân hoặc gây tổn thất về tinh thần của những người thân
thích của cá nhân có mồ mả đó. Hành vi xâm phạm mồ mả bao giờ cũng làm phát
sinh thiệt hại hoặc về vật chất hoặc thiệt hại cả vật chất và tinh thần của người còn
sống, người thân thích của cá nhân có mồ mả. Từ những nhận định trên, người
xâm phạm mồ mả luôn luôn phải chịu trách nhiệm dân sự trước những người thân
thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm. Hành vi xâm phạm mồ mả được xác
định dưới hình thức lỗi vô ý hoặc cố ý, chỉ có ý nghĩa trong việc xác định có hay
không có hành vi phạm tội của người xâm phạm mồ mả mà thôi. Trách nhiệm dân
sự không thay đổi trong mọi trường hợp khi có hành vi xâm phạm mồ mả của cá
nhân. Người gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại vật chất và tinh thần cho
những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm.
Xác định trách nhiệm dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt
hại đến mồ mả của người khác, là thật sự cần thiết. Chỉ khi nào xác định rõ hành vi
xâm phạm mồ mả và hậu quả của hành vi đó, tòa án nhân dân mới có cơ sở pháp lý

Mới đây, TAND tỉnh Phú Yên đã xử phúc thẩm một vụ kiện khá lạ: Ông B.
kiện ông S. đòi bồi thường thiệt hại ba triệu đồng vì cho rằng ông S. đã làm mộ vợ
ông bị sạt lở, phải mất công sức, tiền bạc để di dời đi chỗ khác.
Sơ thẩm: Vô can
Theo đơn kiện của ông B., năm 1985 vợ ông chết, được an táng tại khoảnh
đất đồi nằm ở thôn Phước Lý (Sông Cầu). Ông S. có một mảnh đất cạnh đó. Cách
đây khoảng vài năm, ông S. thuê xe đào múc đất phía dưới chân mộ vợ ông để lấy
mặt bằng và có xây một bờ tường chắn phía dưới chân mộ. Mùa mưa năm 2007,
mưa lũ kéo dài làm sạt lở bờ tường, hư hỏng mộ vợ ông nên ông phải di dời mộ đi
nơi khác.

Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 14


Ông B. cho rằng nguyên nhân mộ vợ ông bị hư hỏng là do ông S. đào múc
đất sâu, cách mộ chỉ khoảng một mét nên khi mưa lớn đã gây ra sạt lở. Ông B. đã
nhiều lần yêu cầu ông S. cùng với mình khắc phục chi phí di dời mộ đi nơi khác
nhưng ông S. không chịu. Do đó, ông B. đành phải khởi kiện ra tòa, yêu cầu tòa
buộc ông S. phải bồi thường ba triệu đồng thiệt hại do xâm phạm mồ mả.
Ông S. thì trình bày cách đây bảy năm, ông được cha mẹ cho một diện tích
đất nằm giáp quốc lộ 1A, phía trên cao có mộ vợ ông B. và một số mộ khác. Phần
đất này qua nhiều thời kỳ làm quốc lộ 1A nên đã đào múc đất còn cách mộ vợ ông
B. khoảng hai mét. Mặt đất phía chân mộ vợ ông B. lồi lõm nên ông đã thuê xe đào
san lấp cho bằng phẳng để xây nhà. Vì sợ đất trên núi hàng năm hay sạt lở nên ông
đã xây một bờ tường, móng đá chẻ chắn ngang phía dưới chân các ngôi mộ. Mùa
mưa năm 2007, mưa kéo dài ngày, nước trên núi đổ xuống làm sạt lở đất, sụp bờ
tường và sạt lở gần hết mộ vợ ông B. Việc mộ bị sạt lở là do mưa lũ gây ra, là lý
do khách quan nên ông không đồng ý bồi thường.
Ngày 3-6, TAND huyện Sông Cầu xử sơ thẩm đã nhận định việc mộ vợ ông
B. bị sạt lở không phải do lỗi của ông S. Từ đó, tòa đã bác yêu cầu đòi bồi thường

qua đó đã tìm thấy ba ngôi mộ nằm sâu dưới đất cát san lấp của công trình.
Ngang nhiên lấp mộ
Trước đó, anh Nguyễn Văn Vàng (36 tuổi, ngụ ấp Đông, xã Vĩnh Phú,
huyện Thuận An) phát hiện gần 5.000 m2 đất của gia đình, trong đó có khu mộ gia
tộc bị san bằng, chuẩn bị mặt bằng thi công dự án nhà ở tại địa phương. Điều đáng
nói là anh Vàng cùng nhiều hộ dân khác chưa thỏa thuận mức đền bù với chủ đầu
tư.
Bà Phạm Thị Cất (75 tuổi, mẹ anh Vàng) nhớ lại: “Tôi sống ở đây gần trọn
đời người, khu thổ mộ gia đình do tôi chăm lo hương khói. Rồi một đêm cuối năm
2003, phía Công ty Tân Vũ Minh bơm cát san lấp cả khu đất rộng lớn, chôn vùi hết
mồ mả dòng tộc của tôi. Tôi ngăn cản, xáng hút cát tạm ngưng nhưng đến tối lại
tiếp tục bơm cát lấp. Sáng hôm sau toàn bộ khu thổ mộ đã nằm sâu dưới cát”.
Từ đó, gia đình anh Vàng không xác định được vị trí khu mộ gia tộc nằm ở
đâu trong khu dự án rộng hàng chục ha. Mỗi lần đến ngày giỗ, anh Vàng cứ thắp
nhang vái tứ phương.
Công an vào cuộc
Đầu năm 2008, anh Vàng làm đơn tố cáo việc mồ mả ông bà bị xâm hại gửi
Công an huyện Thuận An.
Công an huyện Thuận An triệu tập hai bên làm rõ. Tại buổi làm việc, anh
Vàng cho biết khu mộ có nguồn gốc hàng chục năm, có bốn ngôi mộ nhưng Công
Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 16


ty Tân Vũ Minh đã ngang nhiên lấp mộ làm mất vết tích. Tuy nhiên, ông Nguyễn
Hoàng Vũ, Giám đốc Công ty Tân Vũ Minh, cho rằng do chưa thỏa thuận đền bù
với gia đình anh Vàng nên công ty đã “khoanh vùng”, chỉ bơm cát san lấp các thửa
đất xung quanh, có thể lâu ngày các vật chắn hư hỏng, cát tràn sang phần đất nhà
anh Vàng. Phía chủ dự án cũng không xác định được phần đất trên có mộ hay
không.
Người dân nói có mộ, còn chủ đầu tư nói không, công an huyện đã xác minh

Sau khi nhận được "yêu cầu" của Kỳ, Sơn đã bàn với Nguyễn Văn Đương
(độ phó đội bảo vệ) về việc cho đổ đất kiếm lời. Sơn và Đương thống nhất cho Kỳ
đổ đất bùn thải vào vị trí khu nghĩa trang Đồng Trưa (thôn Ỷ La).
Để thực hiện ý định trên, ngày 20/8/2010, Sơn và Đương cùng đến khu vực
nghĩa trang để khảo sát vị trí. Khoảng 16h chiều 21/8/2010, Sơn dẫn Kỳ ra vị trí đã
được thống nhất, sau đó thỏa thuận giá cả là 140.000 đồng mỗi xe. Sơn còn đổi
lịch trực cho một nhân viên khác để tránh bị phát hiện.
Tối 21/8, kế hoạch được thực hiện. Kỳ đã điều động 4 xe tô tô cấp tập đổ 29
chuyến bùn đất thải từ công trình xây dựng khu đô thị La Khê, Hà Đông vào khu
nghĩa trang. Tổng cộng, Kỳ đã phải thanh toán cho Sơn và Đương số tiền 4,6 triệu
đồng.
Trong lúc này, một nhân viên của công ty TNHH Trường Kỳ gọi điện hỏi
Kỳ về chỗ đổ đất. Kỳ nói có chỗ đổ, "ra đó sẽ có người đón" và giới thiệu Đương.
Sau đó, người này đã gọi cho Đương thống nhất giá cả là 150 nghìn đồng một xe.
Cơ quan công tố cáo buộc, tổng cộng đã có 49 chuyến xe bùn đổ xuống khu
nghĩa trang vùi lấp 35 ngôi mộ.
Tại tòa hôm nay, cả 3 bị cáo đều quanh co chối tội. Vị chủ tọa hỏi: "Biết là ở
dưới có mộ, tại sao bị cáo còn cho xe đổ đất vào?'. Kỳ nại ra: "Do đứng từ xa để
quan sát, thấy cỏ mọc như làn sóng, bị cáo không biết là ở đó có mộ".
Còn Sơn thì quanh co: "Bị cáo không biết là ở đó có mộ, và cũng do trời tối
nên không nhìn rõ". Vị chủ tọa phân tích: "Năm 2006, chính bị cáo đã đưa bác ruột
mình đến an táng tại đây, sao lại nói là không biết được. Hơn nữa, các bị cáo đi thị
sát vào lúc 4h chiều, sao có thể nói là không nhìn rõ". Cả 3 cùng im lặng.
Khi được hỏi về yêu cầu đền bù thiệt hại, rất nhiều những gia đình có mồ mả
bị xâm hại đã cho rằng không tiền nào có thể bù đắp những tổn thất về tinh thần
mà các bị cáo đã gây ra, hơn nữa đây lại thuộc về vấn đề tâm linh.
Chị Lan, đại diện cho người bị hại bức xúc: "Tôi rất là căm phẫn trước hành
vi của những bị cáo, hành vi của họ là không thể tha thứ được. Ai cũng có bố mẹ,
tổ tiên, tại sao họ lại dám chà đạp lên các vong hồn người đã khuất như vậy được.

6. />7. />8. />
Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 19


MỤC LỤC
Trang
I

MỒ MẢ

1



của cá nhân
3 Một số điểm hạn chế, bất cập về bồi thường thiệt hại do

14

xâm phạm mồ mả
IV

MỘT SỐ VỤ VIỆC
1 Vụ việc thứ nhất: Làm sạt lở mồ mả, phải bồi thường

15

2 Vụ việc thứ hai: Đền bù chưa xong đã san lấp đất mộ của

16

dân- Vĩnh Phú (Bình Dương)
3 Vụ việc thứ 3: 3 kẻ ‘xâm phạm mồ mả’ tại nghĩa trang

18

Đồng Trưa

Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 20


Luật Dân Sự - Module 2 - Khóa 35 - Page 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status