ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU THU HIỀN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
6
1.1.
Một số khái niệm cơ bản về môi trường và bồi thường thiệt
hại do làm ô nhiễm môi trường
6
1.1.1.
Môi trường
6
1.1.2.
Ô nhiễm môi trường
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật về
môi trường và thiệt hại xảy ra
25
1.3.4.
Có lỗi
26
1.4.
Sơ lược về sự hình thành và phát triển pháp luật về bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
27
1.4.1.
Giai đoạn trước năm 1995
27
1.4.2.
Giai đoạn từ 1995 đến nay
29
1.5.
Quan niệm của một số nước trên thế giới và Việt Nam về
thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
môi trường
31
1.5.1.
Quan niệm về thiệt hại do ô nhiễm môi trường
31
1.5.1.1.
Quan niệm của một số nước trên thế giới
31
1.5.1.2.
Quan niệm của Việt Nam về thiệt hại do ô nhiễm môi trường
33
55
2.4.
Thiệt hại được bồi thường và xác định thiệt hại
61
2.4.1.
Thiệt hại được bồi thường
61
2.4.2.
Xác định thiệt hại
65
2.5.
Phương thức bồi thường
71
2.6.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường
73
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG; PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
77
3.1.
Thực tiễn áp dụng pháp luật qua một số vụ việc cụ thể về
bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
77
3.1.1.
Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
77
3.1.2.
3.2.2.3.
Quy định cụ thể về xác định thiệt hại đối với từng thành phần
môi trường
90
3.2.2.4.
Xây dựng một hệ thống phương pháp để xác định mức độ
thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra
91
3.2.2.5.
Sửa đổi quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại
về môi trường
91
3.2.2.6.
Gia nhập các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
92
3.2.3.
Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
92
3.2.3.1.
Tăng cường năng lực của các thiết chế liên quan đến giải quyết
bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
92
3.2.3.2.
Xác định vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp trong quá
trình tham gia hòa giải, giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt
hại do làm ô nhiễm môi trường
93
3.2.3.3.
Xác định cụ thể các tổ chức, cá nhân có hoạt động tiềm ẩn
nhân, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Kế thừa các quy định này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã có 5
điều quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (Mục 2
Chương XIV, từ Điều 130 đến Điều 134). Một trong những nguyên tắc bảo vệ
môi trường được đưa ra trong Luật này là nguyên tắc người gây ô nhiễm, suy
thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các
trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Đây chính là sự cụ thể hóa
nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả giá" (PPP) đã được cộng đồng quốc tế
thừa nhận. Thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này không chỉ có tác dụng
trừng phạt người đã gây ô nhiễm môi trường mà còn có tác dụng răn đe các chủ
2
thể khác trong quá trình khai thác, sử dụng các thành tố của môi trường không
được gây tổn hại cho môi trường. Nói khác đi, các quy định về bồi thường thiệt
hại do làm ô nhiễm môi trường ngày càng được xem là một công cụ quan trọng
trong hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường.
Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường tại Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 1995 đã tiếp tục được kế thừa và
phát triển tại Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định tại Điều 624
thì cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt
hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp người gây
ô nhiễm môi trường không có lỗi.
Các quy định của pháp luật nêu trên, bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý
quan trọng để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường có thể yêu
cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, các quy định về bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường hiện vẫn còn dừng lại ở mức quy định
chung, mang tính nguyên tắc. Thực tiễn giải quyết các yêu cầu bồi thường
thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên trong thời gian qua tại
Việt Nam đã gặp không ít khó khăn do các quy định pháp luật chưa cụ thể, rõ
Luật Hà Nội, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, 2004;
- "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về
môi trường gây nên tại Việt Nam", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007;
- "Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường", của TS. Vũ
Thu Hạnh, đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3(40), 2007;
- "Lượng giá thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra", Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Viện Chiến lược và Chính sách tài nguyên
môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, 2008.
4
Ngoài ra, còn có một số bài viết, bài nghiên cứu của các tác giả làm
công tác giảng dạy, nghiên cứu, xây dựng pháp luật về vấn đề này và một số
lĩnh vực liên quan cũng là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả
lựa chọn tham khảo khi thực hiện luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
a. Mục đích
- Luận giải cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn về bồi thường thiệt hại
do làm ô nhiễm môi trường;
- Phân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành
về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường;
- Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường.
b. Nhiệm vụ
- Góp phần xây dựng các khái niệm cơ bản về bồi thường thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trường;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trường;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường;
6
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MÔI TRƢỜNG VÀ BỒI THƢỜNG
THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
1.1.1. Môi trƣờng
Môi trường thường được hiểu là không gian sống của con người và
các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên, vật chất cần thiết cho cuộc sống
và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng các chất phế thải do
con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Môi trường
cũng là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Khái niệm "môi
trường" có thể được hiểu theo nhiều nghĩa.
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng hòa tất cả các nhân tố tự nhiên và
xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên
thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội [31].
Theo nghĩa thông thường, môi trường được cho là "toàn bộ nói chung
những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay sinh vật tồn tại, phát
triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy" [32, tr. 618]. Môi trường
cũng có thể là "tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con
người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con
người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể
chế" [30].
Các khái niệm về môi trường như trên là khái niệm đã được mở rộng,
không thể hiện tính pháp lý và khó đánh giá, nghiên cứu trong thực tiễn. Trong
luận văn này, tác giả chỉ có ý định nghiên cứu môi trường trong phạm vi cụ
thể hơn, có ý nghĩa thực tiễn và mang tính pháp lý chặt chẽ nhất.
8
Môi trường hiện đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối với Việt Nam
mà đối với nhiều quốc gia trên thế giới, dù đó là quốc gia đang phát triển hay
quốc gia đã phát triển. Trong những năm vừa qua, ở Việt Nam đã phát hiện
nhiều vụ việc tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật làm ô nhiễm môi
trường làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là
những thay đổi đối với các yếu tố mang tính tự nhiên như nước, đất, không khí
1.1.2. Ô nhiễm môi trƣờng
Trong quá trình sản xuất, sinh hoạt con người có những hoạt động tương
tác với môi trường và do cố ý hoặc bất cẩn có thể gây ra ô nhiễm môi trường
(như thải chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, tràn dầu trên biển, nổ nhà
máy điện hạt nhân ) làm xuất hiện các chất hoặc yếu tố vật lý làm cho môi
trường bị biến đổi hoặc trong các chất thải do con người thải ra môi trường có
chứa chất tác động không tốt đến môi trường, làm cho chất lượng môi trường
xấu đi, gây hại cho con người.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa "ô nhiễm" là "nhiễm bẩn tới mức có thể
gây độc hại" [32, tr. 728].
Dưới góc độ sinh học, khái niệm "ô nhiễm môi trường" chỉ tình trạng
của môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của môi trường bị
thay đổi theo chiều hướng xấu đi có ảnh hưởng đến đời sống của con người
và sinh vật. Dưới góc độ kinh tế học, "ô nhiễm môi trường" là sự thay đổi
không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học,
mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người và
sinh vật [28, tr. 59].
"Ô nhiễm môi trường" cũng được cho là hiện tượng thay đổi tính chất
của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí…) theo hướng tiêu cực
và vi phạm các tiêu chuẩn môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành. Ví dụ: đất bị nhiễm kim loại nặng, nước bị nhiễm axit, không khí bị
nhiễm bụi,… vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường cho phép.
10
Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982 định nghĩa "ô nhiễm
môi trường biển" là việc "con người đưa các chất hoặc năng lượng vào môi
trường biển, bao gồm cả các cửa sông, một cách trực tiếp hay gián tiếp gây ra
hoặc sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt gây tác hại tới các nguồn sống và
đời sống đại dương, gây nguy hiểm đối với sức khỏe con người, gây cản trở
đối với các hoạt động trên biển kể cả việc khai thác hải sản và các hoạt động
sử dụng biển hợp pháp khác, gây hạn chế chất lượng sử dụng nước biển và
làm suy giảm việc thưởng thức cảnh quan biển" [34].
Từ những phân tích trên có thể thấy "ô nhiễm môi trường" là hiện
tượng thay đổi của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí…) theo
hướng tiêu cực, không phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định và gây ảnh hưởng xấu đối với con người và
sinh vật. Trong một số trường hợp "ô nhiễm môi trường" dẫn đến sự suy thoái
môi trường khi mà hậu quả của sự ô nhiễm dẫn đến sự thay đổi theo chiều
hướng xấu đi về chất lượng và số lượng của các thành phần môi trường gây ra
những thiệt hại cho con người.
1.1.3. Thiệt hại do ô nhiễm môi trƣờng
Ô nhiễm môi trường có thể dẫn đến những thiệt hại cho con người và tự
nhiên.Thiệt hại được hiểu là "bị tổn thất,, hư hao về người và của" [32, tr. 910].
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội
thì thiệt hại là "tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá
nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ" [27, tr. 118]. Bộ luật Dân sự Việt Nam
năm 2005 quy định tại Điều 307: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp
tổn thất về tinh thần." Như vậy, về mặt khoa học và luật thực định thì quan
điểm phổ biến hiện nay đều cho rằng thiệt hại bao gồm cả thiệt hại về vật chất
và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về tinh thần bao gồm "tổn thất về danh dự,
uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân" và thiệt hại
12
của môi trường; 2. Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường gây ra" [20, Điều 131].
Thiệt hại là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường có
thể được hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của môi trường
sau khi chịu sự tác động từ bên ngoài, thiệt hại này phải tính được thành
tiền.Ví dụ, sự thay đổi môi trường của một khu vực cụ thể hoặc toàn bộ môi
trường mà sự thay đổi này có tác động xấu đến đặc tính của môi trường hoặc
đến khả năng hỗ trợ và duy trì ở mức có thể chấp nhận được đối với tính bền
vững của sự cân bằng sinh thái và/hoặc chất lượng sống của con người. Từ
thiệt hại là "suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường" có thể dẫn tới
những thiệt hại thực tế về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản hay lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là những thiệt hại bắt nguồn từ sự
biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường - sự suy giảm chức năng,
tính hữu ích của môi trường. Chức năng, tính hữu ích của môi trường là tổng
hợp những tính năng vốn có của môi trường mà những tính năng này có thể tạo
những điều kiện thuận lợi, có ích cho sự tồn tại phát triển của con người và sinh
vật. Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là sự biến đổi theo
chiều hướng xấu của môi trường mà những biến đổi này làm giảm đi những
tính năng vốn có của môi trường - những tính năng có thể tạo những điều kiện
thuận lợi, có ích cho sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật. Đây là
những tính năng không thể thiếu cho sự tồn tại phát triển chung của cả cộng
đồng. Vì thế, khi nó bị giảm sút, nó sẽ tạo ra những ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn
tại và phát triển chung của cả cộng đồng. Điều đó có nghĩa là đã có thiệt hại xảy
ra và đó là những thiệt hại mà cả cộng đồng phải gánh chịu. Khi thiệt hại này
xảy ra, người bị thiệt hại phải chịu tổn thất về vật chất, chi phí cho các biện pháp
phòng ngừa nhằm ngăn ngừa và hạn chế các thiệt hại; chi phí cho việc làm sạch
và khôi phục môi trường; bồi thường cho việc giảm giá trị của môi trường tức
là làm mất đi giá trị sử dụng vốn có của môi trường đối với cộng đồng.
14
Về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự phát
sinh do gây thiệt hại. Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền
bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì
vậy bồi thường thiệt hại là "hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có
hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn
thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại" [27, tr. 31]. Với
quan niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật
sau khi chịu sự tác động bên ngoài, vì vậy bồi thường thiệt hại có thể hiểu là
trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật, hiện tượng. Về mặt
pháp lý, thiệt hại là những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe,
uy tín, danh dự, nhân phẩm; vì vậy, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại những
tổn thất trên bằng những cách thức và tiêu chí, biện pháp do pháp luật đặt ra.
Từ cách hiểu về "bồi thường thiệt hại" như trên, có thể rút ra khái
niệm về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường như sau: Bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp
đồng, theo đó, chủ thể (tổ chức, cá nhân, chủ thể khác) thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật môi trường, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến sự suy giảm
chức năng, tính hữu ích của môi trường; gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do sự suy
giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thì phải trả giá về hành vi của
mình qua việc khôi phục, đền bù, bù đắp những tổn thất và khắc phục những
hậu quả do hành vi vi phạm gây ra.
Cụ thể, những thiệt hại phải bồi thường có thể bao gồm các khoản
sau đây:
- Chi phí cho các biện pháp phòng ngừa: Là các chi phí cho việc sử
dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế các thiệt hại do ô nhiễm môi
trường gây ra;
- Chi phí cho việc làm sạch và khôi phục môi trường;
nghĩa vụ trách nhiệm bồi thường do gây thiệt hại [37, tr. 232]. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên cơ sở thiệt hại đã xảy ra, lỗi chỉ là cơ
sở của trách nhiệm chứ không phải là thước đo để xác định mức độ trách
nhiệm. Việc xem xét đến mức độ lỗi được đặt ra khi thiệt hại xảy ra quá lớn so
với khả năng kinh tế trước mặt và lâu dài của người gây thiệt hại. Người có
hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có nghĩa vụ bù đắp cho người bị thiệt hại
những tổn thất vật chất, tinh thần mà họ đã gây ra. Trong trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường việc thực hiện bồi thường thiệt hại
sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ còn trong nghĩa vụ hợp đồng thì việc bồi thường
thiệt hại không làm cho người có nghĩa vụ được giải phóng khỏi trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ một cách thực tế như giao vật, thực hiện công việc…
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thường
phát sinh trên cơ sở có hành vi vi phạm pháp luật về môi trường dẫn đến thiệt
hại là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và từ đó gây thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường gây ô nhiễm môi trường gây thiệt hại phải có nghĩa vụ khắc phục hậu
quả; bù đắp tổn thất về tài sản, tính mạng, sức khỏe cho người bị thiệt hại.
Giữa các bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
thường không có quan hệ hợp đồng trước đó, do đó, trách nhiệm này được
xác định là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách
nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ theo hợp đồng (giữa hai bên có quan hệ hợp đồng và thiệt hại là do không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng
gây ra), cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường là những quy định của pháp luật, không có sự thỏa thuận trước của các
bên và chỉ phát sinh khi một bên có hành vi vi phạm pháp luật môi trường làm
ô nhiễm môi trường gây thiệt hại cho bên kia. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý
18
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, các chủ thể phải có tư cách chủ thể,
trong một số trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham
gia với tư cách là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật này.
Về khách thể, trong các quan hệ pháp luật, khách thể là "lợi ích vật
chất hoặc tinh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham
gia các quan hệ pháp luật" [36, tr. 411]. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khách
thể là "đối tượng mà các chủ thể quan tâm, hướng tới, nhằm đạt tới hoặc tác
động vào khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự" [36, tr. 411]. Trong quan hệ
pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, khách thể mà
các bên hướng tới là nhu cầu được sống trong môi trường tự nhiên trong lành;
là quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng, tài sản và các lợi ích vật chất
khác của chủ thể đã bị mất đi do ô nhiễm môi trường gây ra.
Về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết,
điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là tổng hợp các
yếu tố cấu thành nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Quan điểm chính thống
hiện nay cho rằng các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm pháp luật, có
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại đã xảy ra,
người gây thiệt hại phải có lỗi [26]. Trong quan hệ bồi thường thiệt hại do làm
ô nhiễm môi trường thì các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại bao gồm: (1) có xảy ra thiệt hại là sự suy giảm chức năng tính hữu ích của
môi trường, sức khỏe, tính mạng, tài sản và các lợi ích vật chất khác; (2) có
hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gây ô nhiễm môi trường; (3) có mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; (4) người gây
thiệt hại có lỗi hoặc ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi.
1.2.2. Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trƣờng
Trong quá trình thực hiện những hoạt động sản xuất, kinh doanh tổ chức,
cá nhân, chủ thể khác có hành vi làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại cho
nhiều lần, trong một khoảng thời gian dài.