A. Phần mở đầu:...............................................................................................................................1
I. Tính cấp thiết của đề tài:...........................................................................................................1
B. Phần nội dung:.............................................................................................................................3
I/ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG:..........................................................................................................................................4
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?....................................................4
2. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng..............................................4
3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:.........................................................................................6
II. TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG:.......7
1. Hành vi làm ô nhiễm môi trường:........................................................................................7
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường:..........................................8
1. Thực trạng về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam:.................17
2. Nguyên nhân của những bất cập về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở
Việt Nam................................................................................................................................19
3. Một số kiến nghị, đề xuất...................................................................................................19
A. Phần mở đầu:
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong đời sống xã hội hằng ngày, chúng ta có thể gặp rất nhiều hành vi
xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác… mà giữa họ không có một giao kết
1
hợp đồng nào hoặc có hợp đồng nhưng việc xâm phạm đó lại không thuộc phạm
vi của hợp đồng. Và khi có thiệt hại xảy ra thì người gây thiệt hại phải có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Trường hợp này được gọi là
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng không do những hành vi trái pháp luật gây ra, mà còn là trách nhiệm do súc
vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được pháp luật ghi
nhận lần đầu tiên tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 1993, theo đó
“tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Nhưng phải đến khi Luật BVMT (2005)
- Ngoài các căn cứ pháp lý nói trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô
nhiễm môi trường còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác như Bộ
luật Hàng hải 2005, Luật Khoáng sản 1996 (các điều 64, 65), Luật Tài nguyên
nước 1998 ( điều 71)
B. Phần nội dung:
3
I/ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG:
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn gọi là là trách nhiệm
dân sự do gây thiệt hại. Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm được
hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người
bị thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các
quyền và lợi ích hợp pháp mà giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại
không có giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không
thuộc phạm vi của hợp đồng.
2. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung
và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có 4 điều
kiện được quy định tại Nghị quyết số 03/2006/HĐTP – TANDTC ngày
08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồi thường thiệt
hại:
2.1. Phải có thiệt hại xảy ra:
Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích của người xác định được
trên thực tế.
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
a/ Thiệt hại về vật chất bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy
định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản
1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại Điều 610
5
a/ Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
b/ Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi
của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt
hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng
cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường
thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại
trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp
luật đó.
3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
3.1. Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần
phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 605
BLDS. Cần phải tôn trọng thoả thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức
bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật,
đạo đức xã hội.
3.2. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì khi giải quyết
tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý:
a/ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải
quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS quy định
trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã
xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi
thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.
6
b/ Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Toà án phải giải quyết
nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong
trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm
gây ra ô nhiễm môi trường: Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, dịch
vụ và các hoạt động khác đã thải ra chất thải ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng
khác mà các chất đó là những nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại. Hành
vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi làm thay đổi tính chất của môi trường, vi
phạm tiêu chuẩn của môi trường. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong
sinh hoạt, hành vi của con người đã làm ô nhiễm môi trường dẫn đến suy thoái
môi trường, làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây
ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên.
Như vậy, hành vi gây ô nhiễm môi trường là nguyên nhân làm ảnh hưởng
xấu đến đời sống của con người và thiên nhiên. Người có hành vi gây ô nhiễm
môi trường phải bồi thường thiệt hại.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường:
2.1. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường:
Căn cứ vào điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và điều 624 Bộ luật
Dân sự 2005, chúng ta có thể hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do làm ô nhiễm môi trường là những cá nhân, tổ chức.
8