BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
***********
BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Môn: Luật dân sự Việt Nam, module 2
Đề bài: M t s v n v b i th ngộ ố ấ đề ề ồ ườ
thi t h i do làm ô nhi m môi tr ng.ệ ạ ễ ườ
1
M c l c:ụ ụ
I. Đặt vấn
đề………………………………………………………………2
II. Giải quyết vấn
đề……………………………………………………….2
1. Lí luận chung về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường…….2
2. Bồi thường thiệt hại về ô nhiễm môi trường theo pháp luật hiện hành..5
3. Thực trạng việc áp dụng bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường…………………………………………………………….……..16
4. Phương hướng hoàn thiện về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường……………………………………………………………………18
III. Kết thúc vấn
đề………………………………………………………..20
Danh mục tài liệu tham
khảo………………………………………………..21
2
I. Đặt vấn đề:
Đã từ lâu, ô nhiễm môi trường là cụm từ được người dân quan tâm như một
vấn đề trọng điểm. Càng ngày càng có nhiều vụ việc liên quan đến việc làm ô
nhiễm môi trường được người dân tố cáo, báo đài phanh phui. Song song với việc
phát hiện ra thủ phạm gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, vấn đề bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường cũng rất được chú ý. Bài viết sau xin trình bày
một số vấn đề về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, qua đó giúp
năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra khi: Một là, chất lượng của các yếu tố môi
trường sau khi bị tác động thấp hơn so với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; hai
là, lượng tài nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi
phục (đối với tài nguyên tái tạo) hoặc lớn hơn lượng thay thế (đối với tài nguyên
không tái tạo được); ba là, lượng chất thải thải vào môi trường lớn hơn khả năng tự
phân hủy, tự làm sạch của chúng.
Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích
của môi trường gây ra. Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể
hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị
mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Thiệt
hại về tài sản được thể hiện qua những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, những khoản
chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn chặn và phục hồi tài sản bị thiệt hại do ô
nhiễm, suy thoái môi trường gây nên. Còn thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân được thể hiện qua sự tổn hại về lợi ích vật chất, sự giảm sút về thu
nhập chính đáng mà nguyên nhân là do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của
môi trường.
4
Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được
xem là thiệt hại gián tiếp (còn gọi là thiệt hại phái sinh hay thiệt hại thứ sinh) -
thiệt hại chỉ xảy ra khi đã có loại thiệt hại thứ nhất. Tuy nhiên, cần lưu ý là giữa
thiệt hại đối với môi trường tự nhiên và thiệt hại đối với tài sản, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân không phải luôn luôn và hoàn toàn tách biệt. Trong một số
trường hợp thiệt hại về môi trường tự nhiên tại một khu vực nhất định cũng đồng
thời là thiệt hại về tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tại khu vực đó. Ví
dụ, sự suy giảm nguồn lợi thủy sinh tại một vùng biển bị ô nhiễm cũng đồng thời là
sự giảm sút về thu nhập của ngư dân ở khu vực đó. Điều này dễ dẫn đến sự trùng
lặp khi xác định các loại thiệt hại cụ thể do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên.
Xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường là vấn đề không đơn giản ngay cả ở
Trong Bộ luật Dân sự 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô
nhiễm môi trường đã được đề cập. Trước hết, đó là điều 624 với quy định: “Cá
nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại, thì phải
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô
nhiễm môi trường không có lỗi”. Tại điều 263 cũng có quy định: “Khi sử dụng, bảo
quản, từ bỏ tài sản của mình, chủ sở hữu phải tuân theo các quy định của pháp luật
về bảo vệ môi trường, nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô
nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.”
Ngoài các căn cứ pháp lý nói trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô
nhiễm môi trường còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác như Bộ
luật Hàng hải 2005, Luật Khoáng sản 1996, sửa đổi bổ sung năm 2005, Luật Tài
nguyên nước 1998… Đặc biệt, với việc dành riêng 5 điều cho các quy định về bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (từ điều 131 đến điều 135, mục
2), Luật bảo vệ môi trường 2005 đã thể hiện một bước tiến đáng kể trong quá trình
thực hiện hóa việc truy cứu trách nhiệm dân sự đối với các chủ thể có hành vi làm
ô nhiễm môi trường.
Do quan hệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường có thể phát sinh giữa các chủ
thể mà không cần đến các cơ sở pháp lý làm tiền đề (như quan hệ hợp đồng hay
quan hệ công vụ), nên bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo
vệ môi trường là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là loại
trách nhiệm phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà
6
không cần có sự thỏa thuận trước của các chủ thể. Sự trùng hợp về một số nội dung
có liên quan đến quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong các thỏa thuận hay
cam kết không làm ảnh hưởng đến căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về môi trường theo luật định. Ta có thể tiếp cận trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trên các phương diện sau:
Thứ nhất, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường:
Căn cứ vào khoản 5 điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và điều 624 Bộ
Thứ hai, nhiều người cùng gây thiệt hại cũng là tình trạng khá phổ biến trong
lĩnh vực môi trường. Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định trong trường hợp có
nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm môi trường thì cơ quan quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để làm rõ
trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi
trường. Tuy nhiên, trên thực tế không dễ dàng xác định chính xác mức độ gây hại
đến môi trường của từng đối tượng. Bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau là
giải pháp đã được pháp luật dân sự tính đến trong trường hợp này. Tuy nhiên, để
đảm bảo sự công bằng trong áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi
trường, có lẽ nếu người gây thiệt hại chứng minh được mức độ mà mình gây thiệt
hại đối với môi trường là không đáng kể thì họ chỉ phải bồi thường thiệt hại theo
phần tương ứng với mức độ gây hại đó. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đối tượng
gây thiệt hại sẽ giúp các tổ chức, cá nhân nâng cao hơn trách nhiệm bảo vệ môi
trường cũng như nâng cao năng lực tự bảo vệ mình trong lĩnh vực này. Ngoài ra,
cũng cần tính đến tình huống không áp dụng được trách nhiệm bồi thường thiệt hại
cho các đối tượng chỉ vì đơn giản thiệt hại môi trường là kết quả của hiện tượng
tích tụ và cộng dồn các ảnh hưởng tới môi trường, trong khi từng đối tượng lại tác
động không quá mức giới hạn tới môi trường.
Thứ ba là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô mhiễm
môi trường.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thuộc loại trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Môi trường có thể bị xâm hại từ 2
nhóm nguyên nhân: Một là, các nguyên nhân khách quan tác động đến môi trường
8