Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường - Pdf 34

MỤC LỤC

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề kinh tế học pháp luật
Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
1.6.

Những vấn đề được xác lập và tuyên bố trong đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Ý nghĩa của nghiên cứu
Kết cấu báo cáo nghiên cứu

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trường
2.1. Khái niệm về thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
2.1.1. Thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
2.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
2.2. Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm
môi trường
2.2.1. Có thiệt hại xảy ra
2.2.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
2.2.3. Gây thiệt hại đối với môi trường



4.2. Dự báo một số thay đổi của pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường hiện đang là vấn đề nóng đối với nhiều quốc gia trên thế giới,
có thể đó là quốc gia đang phát triển hay quốc gia đã phát triển. Trên phạm vi


toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi
trường đã, đang và sẽ làm cho môi trường có những biến đổi bất lợi cho con
người, đặc biệt là những thay đổi đối với các yếu tố mang tính tự nhiên như
nước, đất, không khí, hệ thực vật, hệ động vật. Nguyên nhân chính của tình
trạng này là sự tác động theo chiều hướng tiêu cực của con người tới môi trường
ngày càng gia tăng.
Tổ chức Ngân hàng thế giới - WB đã đưa ra 8 mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ và một trong tám mục tiêu đó là: “Đảm bảo bền vững về môi trường”.
Hay như tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới ở Nam Phi (năm 2002) đã nói “Quá
trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt: tăng trưởng
kinh tế, cải thiện xã hội và bảo vệ môi trường (khai thác hợp lý, tiết kiệm và
môi trường sống trong lành)”. Qua đó cho ta thấy phát triển kinh tế phải đi đôi
với bảo vệ môi trường.
Năm 2007, Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức thương mại
thế giới WTO và luôn nằm trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh
trên thế giới. Các chuyên gia kinh tế đã cho rằng: “Khi Việt Nam ra nhập WTO
thì vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề hơn và đó cũng là một trong
những thách thức”. Đúng như vậy, trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt, các
doanh nghiệp đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu mà bỏ quên đi yếu tố môi
trường. Cụ thể, nhiều doanh nghiệp không xây dựng hệ thống xử lý nước thải

Xuất phát từ những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, tác giả lựa
chọn đề tài: “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường- Cơ sở pháp lý,
thực trạng và giải pháp.”
1.3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài


- Góp phần hoàn thiện lý luận khoa học pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do làm ô nhiễm môi trường trong Bộ luật Dân sự 2005, Luật Bảo vệ môi
trường 2005, các nghị định có liên quan của chính phủ.
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường.
- Đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng ở Việt Nam hiện
nay.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu theo tiến trình phát triển về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở lĩnh vực môi trường trong
Luật Bảo vệ môi trường.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phép biện
chứng của lý luận khoa học Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan
điểm của Đảng và Nhà nước về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
được thể hiện trong Bộ luật dân sự năm 2005.
Nghiên cứu được tiến hành bằng nhiều phương pháp: Phương pháp thống
kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, điều tra xã hội học; bằng các biện pháp khảo
sát, đánh giá thực trạng nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường trong Bộ luật Dân sự vào sự phát triển của Việt Nam; khảo
cứu các tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu và áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường.

Một là, thiệt hại do làm ô nhiễm chỉ bao gồm những thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên, như: đất, nước, không khí, hệ động – thực vật,… mà không bao


gồm thiệt hại đến con người, như: tính mạng, sức khỏe, tài sản… Thiệt hại về
môi trường có thể được nhận dạng theo nhiều cách phân tầng khác nhau, từ rộng
đến hẹp, từ tổng hợp đến từng phần, từ môi trường chung đến từng thành phần
môi trường cụ thể, song cho dù là bất kì tiếp cận nào thì thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường đều không bao gồm thiệt hại đối với con người hoặc tài sản,
mặc dù chúng có thể là hậu quả trực tiếp của thiệt hại về môi trường.
Hai là, thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường không chỉ bao gồm các thiệt
hại đến môi trường mà còn cả thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng của con người,
tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do ô nhiễm môi trường gây nên.
Tại Việt Nam, tính từ thời điểm Luật bảo vệ môi trường (2005) được ban
hành, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được xác định theo quan niệm
thứ hai. Theo quy định tại Điều 131 Luật bảo vệ môi trường (2005), có 2 loại
thiệt hại:
Thứ nhất, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. Đó là sự suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường, trong đó chức năng, tính hữu ích của môi
trường được thể hiện qua ba phương diện chính như sau: môi trường là không
gian sinh tồn của con người; môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và đa dạng sinh học (kể cả vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết
cho cuộc sống và hoạt động của con người); môi trường là nơi chứa đựng và
tiêu hủy chất thải do con người thải ra trong các hoạt động của mình. Như vậy,
có thể hiểu sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra khi: chất
lượng của các yếu tố môi trường sau khi bị tác động thấp hơn so với tiêu chuẩn
về chất lượng môi trường; lượng tài nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng
lớn hơn lượng được khôi phục (đối với tài nguyên tái tạo) hoặc lớn hơn lượng
thay thế (đối với tài nguyên không tái tạo được); lượng chất thải thải vào môi
trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự làm sạch của chúng.


trường được tiếp cận và được pháp luật ghi nhận với những nội dung chủ yếu
sau:
Thứ nhất, môi trường là một loại tài sản đồng nhất, được xác định bởi các
giá trị khoa học, kinh tế và môi sinh. Tác hại của việc gây ra đối với môi trường
tự nhiên không khác gì so với tác hại gây ra đối với con người hay tài sản của
con người, vì thế chất lượng môi trường bị suy giảm, bị xâm hại cũng phải được
bồi thường một cách thỏa đáng. Người gây thiệt hại buộc phải có trách nhiệm
bồi thường những tổn thất gây ra đối với môi trường. Trách nhiệm này trước hết
phải là trách nhiệm đối với xã hội của vì họ đã xâm hại tới các điều kiện sống
chung của con người. Tiếp đến mới là trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân,
cụ thể là nạn nhân của sự xâm hại đó, thể hiện qua việc bồi thường thiệt hại đối
với tính mạng, sức khỏe, tài sản,… của người bị hại. Hai khía cạnh trên của
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường được xác định bởi yếu tố khách
thể của quan hệ pháp luật môi trường. Trong các quan hệ pháp luật môi trường,
lợi ích mà các bên tham gia quan hệ hướng tới vừa có tính lợi ích cộng đồng
vừa có tính lợi cá nhân. Trong mọi trường hợp, lợi ích cộng đồng phải được ưu
tiên bảo vệ. Điều này cũng có nghĩa là cần phải có sự phân định giữa trách
nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên với trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản con người. Sự phân định
này nên được thể hiện qua các quy định về mức bồi thường, hình thức và
phương thức bồi thường. Chẳng hạn như đối với những thiệt hại về sức khỏe,
tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do ô
nhiễm, suy thoái môi trường gây ra, có thể cùng thỏa thuận về mức bồi thường,
hình thức bồi thường và phương thức bồi thường giữa hai bên. Còn thiệt hại đối
với môi trường tự nhiên, người gây thiệt hại chỉ được lựa chọn các mức bồi
thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Thứ hai, do quan hệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường có thể phát sinh



người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thường phải thực hiện đồng thời cả
hai biện pháp: khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm và bồi thường thiệt
hại về môi trường. Tác dụng chính của biện pháp khắc phục ô nhiễm môi
trường là hạn chế, ngăn chặn phạm vi ảnh hưởng, khả năng lây lan ô nhiễm môi
trường, đồng thời làm giảm nhẹ những thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra.
Tác dụng của bồi thường thiệt hại là bù đắp những tổn thất về người, tài sản và
những giá trị sinh thái đã bị mất. Trách nhiệm áp dụng các biện pháp khắc phục
ô nhiễm môi trường mang tính chất là một biện pháp cưỡng chế hành chính, do
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quyết định, còn bồi thường
thiệt hại lại là một loại trách nhiệm dân sự có thể thỏa thuận và xác lập theo ý
chí của các bên. Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường, hai loại trách nhiệm có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau và trong một số trường hợp có thể thay thế
(chuyển hóa) cho nhau, đặc biệt là khi chỉ xuất hiện thiệt hại đối với môi trường
tự nhiên mà không xuất hiện thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ
chức, cá nhân. Nếu việc khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm, suy thoái
do chính người bị hại tiến hành thì những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế
và khắc phục thiệt hại sẽ được tính trong tổng giá trị thiệt hại để đòi bồi thường.
Còn trong trường hợp người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã tự mình
thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm thì họ sẽ
được giải phóng hoặc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường.
Thứ năm, nhiều người cùng gây thiệt hại cũng là tình trạng khá phổ biến trong
lĩnh vực môi trường. Luật BVMT (2005) quy định trong trường hợp có nhiều tổ
chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm môi trường thì cơ quan quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để làm rõ
trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi
trường. Tuy nhiên, trên thực tế không dễ dàng xác định chính xác mức độ gây
hại đến môi trường của từng đối tượng. Bồi thường thiệt hại theo phần bằng
nhau là giải pháp đã được pháp luật dân sự tính đến trong trường hợp này. Tuy



Thứ bảy, khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường,
Việt Nam không thể không xem xét đến các cam kết quốc tế về vấn đề này.
Ngày 17/6/2004 Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô
nhiễm dầu 1992 có hiệu lực tại Việt Nam (International Convention on Civil
Liability for Oil Pollution Damage - viết tắt là CLC 92). Đây sẽ căn cứ pháp lý
quan trọng để phía Việt Nam yêu cầu các đối tượng gây ô nhiễm môi trường từ
sự cố tràn dầu phải bồi thường thiệt hại về môi trường một cách thỏa đáng.
Vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại Việt Nam còn rất
mới cả từ phương diện lý luận và thực tiễn. Việc nhận thức một cách đầy đủ về
những nội dung liên quan tới thiệt hại về môi trường, bồi thường thiệt hại về
môi trường là yếu tố quan trọng cho việc ban hành và áp dụng trách nhiệm này
trong tương lai. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng cho dù chế định này có phát
triển đến mức nào, chi phí bỏ ra để xử lý, cải tạo môi trường có lớn đến đâu
cũng không thể khắc phục được hết những hậu quả do ô nhiễm, suy thoái môi
trường gây ra. Do vậy, xác định thiệt hại đối với môi trường và áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường trong mọi trường hợp đều không phải
là mong muốn hàng đầu được áp dụng trong lĩnh vực môi trường
2.2. Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thuộc loại
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo Bộ luật dân sự, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm môi trường phát sinh khi có các điều kiện sau đây:
2.2.1. Có thiệt hại xảy ra
Đây là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt
hại, bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm này là khôi phục tình trạng tài


sản, sức khoẻ… cho người bị thiệt hại. Thiệt hại thường là tổn thất thực tế được

nhiên khác; khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện,
công cụ, phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định
của pháp luật; khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động
vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định; chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại
khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thải
chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng
xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước; thải khói, bụi, khí có chất hoặc
mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hoá vượt
quá tiêu chuẩn môi trường cho phép; gây tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn
cho phép; nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi
trường; nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức; nhập khẩu, quá cảnh
động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch, vi sinh vật ngoài danh mục cho phép;
sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh
thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt
quá tiêu chuẩn cho phép; xâm hại di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên;
xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường;
hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với
sức khỏe và tính mạng con người; che giấu hành vi huỷ hoại môi trường, cản trở
hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu
đối với môi trường; các hành vi bị nghiêm cấm khác về bảo vệ môi trường theo
quy định của pháp luật.
2.2.3. Gây thiệt hại đối với môi trường
Đối với những trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi


trường phát sinh khi có đủ các dấu hiệu cấu thành trách nhiệm pháp lý dân sự.
Thậm chí loại trách nhiệm này còn phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại
không có lỗi. Điều 624 Bộ luật Dân sự (2005) quy định “Cá nhân, pháp nhân và

Thứ ba, trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường chỉ có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại chứ không có hình thức phạt vi phạm.
Thứ tư, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
có trường hợp không có lỗi vẫn phải chịu trách nhiệm, nếu pháp luật có quy
định.
2.3. Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Tại Việt Nam, cả từ phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy sự mờ
nhạt về mảng kiến thức này. Hiện tại, chúng ta mới chỉ đúc rút được đôi chút
kinh nghiệm từ thực tiễn tự phát giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại
về sức khỏe, tài sản do ô nhiễm môi trường gây nên. Việc xác định thiệt hại đối
với môi trường tự nhiên trong một số lần sự cố tràn dầu vẫn phải nhờ đến tư
vấn, giúp đỡ của các chuyên gia quốc tế. Để Việt Nam có thể tự chủ trong việc
xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên, đặc biệt là thiệt hại
đối với môi trường tự nhiên, những nội dung sau đây cần phải được làm sáng tỏ
trong các văn bản pháp luật hướng dẫn việc xác định thiệt hại về môi trường:
một là thành phần môi trường được xác định thiệt hại; hai là mức độ thiệt hại
được xác định; ba là các căn cứ để xác định mức độ thiệt hại.
Số lượng thành phần môi trường, loại hình hệ sinh thái, giống loài bị suy
giảm, và mức độ thiệt hại của từng loại cũng là một trong những căn cứ để xác
định mức độ thiệt hại đối với môi trường (khoản 3 Điều 131). Thực tế cho thấy
một hành vi làm ô nhiễm môi trường có thể gây thiệt hại cùng một lúc hai hoặc


nhiều thành phần môi trường. Mức độ thiệt hại đối với môi trường trong trường
hợp này sẽ phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các yếu tố môi trường bị suy
giảm. Số lượng thành phần môi trường bị xâm hại càng lớn thì thiệt hại gây ra
sẽ càng nặng nề. Tương tự, mức độ thiệt hại đối với môi trường sẽ phụ thuộc
vào giống, loài động thực vật bị thiệt hại. Nếu giống loài bị thiệt hại có mức độ
đe dọa, quí hiếm càng cao thì có nghĩa là thiệt hại gây ra đối với môi trường
càng lớn. Trong trường hợp này, danh mục các loài động, thực vật hoang dã,

PO4, SiO2… trong tiêu chuẩn chất lượng nước ven bờ).
Tuy nhiên, để xác định sơ bộ xem có bị ô nhiễm không, đầu tiên người ta
phải chú ý đến một số thông số chung, sau đó mới đến các thông số đặc thù của
nguồn thải. Cụ thể như sau: đối với môi trường nước mặt, các thông số chung
có thể là: pH, BOD5, COD, DO, SS, Coliform, màu, mùi, váng dầu mỡ; Đối với
nước biển ven bờ công bố pH, BOD5, COD, DO, SS, Coliform, màu, mùi, váng
dầu mỡ; Đối với nước ngầm là: pH, màu, mùi, độ cứng, Fecal Coli, coliform;
Đối với nước thải công nghiệp: TpH, BOD5, COD, DO, SS, Coliform tổng hoạt
động phóng xạ. Sau đó tuỳ thuộc tính đặc thù của nguồn thải mà xem xét thêm
các yếu tố khác.
Tiêu chí xác định ô nhiễm là các tiêu chuẩn môi trường. Dựa vào các tiêu
chuẩn có thể xác định mức độ ô nhiễm. Từ đó đánh giá mức độ vi phạm tiêu
chuẩn môi trường, tiêu chuẩn chất thải là bao nhiêu lần, ảnh hưởng tới con
người, loài vật và các hệ sinh thái cùng các phạm vi ảnh hưởng đó và thời gian
bị ảnh hưởng.Tuy nhiên, tại thời điểm này việc xác định thiệt hại đối với tất cả
các thành phần môi trường nêu trên là điều không hiện thực. Qua khá nhiều
cuộc tranh luận khoa học (ở cả cấp quốc gia và quốc tế), việc xác định thiệt hại
đối với môi trường tự nhiên chỉ nên bao gồm thiệt hại đối với đất, nước, không


khí và đa dạng sinh học. Ngay cả việc có xem môi trường không khí là đối
tượng thiệt hại được tính bồi thường hay không cũng là vấn đề chưa hoàn toàn
đạt được sự thống nhất ý kiến. Do đặc tính khuếch tán của môi trường không
khí nên khó có thể tính toán được thiệt hại đối với yếu tố môi trường này như
các yếu tố môi trường khác. Tương tự, thiệt hại đối với đa dạng sinh học cũng
cần phải giới hạn ở những thiệt hại về hệ sinh thái, loài sinh vật do ô nhiễm, suy
thoái môi trường gây nên, để phân biệt với thiệt hại về đa dạng sinh học do hành
vi trực tiếp xâm hại đến các giống loài sinh vật, hệ sinh thái, mà về bản chất
pháp lý những thiệt hại đó là hậu quả của hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học chứ không phải là hành vi vi phạm pháp

Tương tự như vậy cũng có thể xác định các cấp độ suy giảm chức năng,
tính hữu ích của môi trường căn cứ vào các mức độ suy thoái môi trường. Do
mức độ suy thoái môi trường cũng có thể được xác định dựa trên cơ sở số lượng
của thành phần môi trường bị khai thác, sử dụng quá mức so với trữ lượng tự
nhiên của nó; dựa vào mức độ khan hiếm của thành phần môi trường trên thực
tế hay mức độ ưu tiên của Nhà nước trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển mỗi
thành phần môi trường... Tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa có các quy định để
lượng hóa các mức độ suy thoái môi trường nên việc xác định mức độ suy giảm
chức năng, tính hữu ích của môi trường do môi trường bị suy thoái mới chỉ
dừng lại ở các mức định tính.
2.4. Một số quy định của các nước trên thế giới về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Riêng về quan niệm về thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, trên thế giới
hiện đang tồn tại hai quan niệm khác nhau. Quan niệm thứ nhất cho rằng, thiệt
hại do ô nhiễm môi trường gây ra chỉ là các thiệt hại đối với môi trường tự
nhiên như thiệt hại đối với hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí… mà


không bao gồm thiệt hại về người và tài sản. Điển hình cho nhóm quan niệm
này là Cộng đồng chung Châu ÂU - EC, Canada, Hàn Quốc... Cộng đồng chung
châu Âu quan niệm thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là sự thay đổi bất lợi về
tài nguyên thiên nhiên hoặc cản trở đáng kể đến các dịch vụ môi trường có thể
xảy ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và chúng thường biểu hiện dưới các
dạng sau: Thiệt hại đối với các loài và môi trường sống tự nhiên của chúng;
Thiệt hại đối với môi trường nước; Thiệt hại về đất (tức là bất kỳ sự ô nhiễm đất
nào gây ra nguy cơ đáng kể cho sức khỏe con người, bị ảnh hưởng bất lợi do kết
quả của việc đưa trực tiếp hoặc gián tiếp các chất, sản phẩm pha chế, các sinh
vật hoặc vi sinh vật vào đất hoặc lòng đất). Quan niệm thứ hai cho rằng, thiệt
hại do ô nhiễm môi trường gây ra không chỉ bao gồm các thiệt hại liên quan đến
chất lượng môi trường nói chung mà còn bao gồm cả thiệt hại về sức khỏe của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status