Một số vấn đề lý luận về CPH doanh nghiệp Nhà nước - Pdf 12

Lời mở đầu
Lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua những bớc thăng trầm khác
nhau song có thể nói cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp Nhà nớc là một nấc
thang tất yếu lịch sử trên con đờng trở thành nớc phát triển của bất cứ quốc gia
nào. Chính vì vậy cổ phần hoá là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc
biệt quan trọng đối với nớc ta, một nớc có nền kinh tế chậm phát triển so với
thế giới. Trong công cuộc đổi mới ở nớc ta, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế đặc biệt đợc coi trọng nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển
đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc. Có hiểu rõ nguồn gốc và bản chất của
cổ phần hoá cũng nh vai trò của cổ phần hoá trong nền kinh tế thị trờng chúng
ta mới khắc phục đợc tình trạng tụt hậu về kinh tế của đất nớc, nâng cao không
ngừng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vì mục tiêu dân giầu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bớc đi lên CNXH.
Vấn đề cổ phần hoá không phải đến bây giờ mới đợc đề cập mà đã đợc
Đảng đề ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Và luôn coi trọng đó là
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Song chỉ mới vài
năm gần đây vấn đề CPH mới đợc đa lên tầm cao mới, chiều sâu mới nhằm
từng bớc tạo ra thế và lực mới cho đất nớc. Chính vì hiểu đợc tầm quan trọng
và tính cấp thiết của vấn đề CPH mà em đã chọn đề tài này với hy vọng phản
ánh đợc phần nào thực tế sôi động và bức xúc của công cuộc CPH hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Mai Hữu
Thực giáo viên hớng dẫn bộ môn Kinh tế chính trị trờng Đại học Kinh tế Quốc
dân để em hoàn thành tốt đề án này. Vì đây là lần đầu tiên em viết một bài đề
án có tính chất quan trọng và do thời gian có hạn nên không tránh khỏi những
thiếu xót và hạn chế nhất định, rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của thầy giáo
cùng các bạn để đề án đợc hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
A- Phần mở đầu
1
Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nớc theo

dung quan trọng của quá trình đổi mới sắp xếp doanh nghiệp Nhà nớc. Chủ tr-
ơng CPH doanh nghiệp Nhà nớc lần đầu tiên đợc nêu tại nghị quyết hội nghị
lần thứ hai BCH Trung ơng khoá VII (tháng 11/1991) và tiếp tục đợc cụ thể
hoá tại nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1/1994), nghị quyết
10/NQ - Trung ơngcủa Bộ chính trị ngày 17/3/1995 thông báo số 63/TB - TƯ
ngày 4/4/1997, và đợc khẳng định rõ hơn tại nghị quyết đại hội VIII, nghị
quyết hội nghị Trung ơng lần thứ IV (khoá VIII).
Mục tiêu nhất quán của cổ phân hoá một bộ phần doanh nghiệp Nhà n-
ớc là để huy động vốn, tạo điều kiện để ngời lao động đợc làm chủ thực sự
trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi phơng thức quản lý nhằm
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tài
sản và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp. Qua cổ phần hoá, hình thức sử hữu tại
doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu Nhà nớc duy nhất sang sở hữu hỗn hợp, và
chính từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý
2
cũng nh phơng hớng hoạt động của Công ty. Doanh nghiệp Nhà nớc sau khi
CPH sẽ trở thành Công ty cổ phần, hoạt động theo luật Công ty. Việc đa dạng
hoá các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc quản lý
kinh tế nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản trong sản xuất
kinh doanh, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng nh óc sáng tạo của ngời lao
động và ngời lãnh đạo doanh nghiệp. CPH chính là biện pháp có hiệu quả để
sử dụng đồng vốn đợc tốt nhất. Doanh nghiệp CPH sẽ thu hút đợc ngày càng
nhiều vốn nếu sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Nhất là khi đã hình thành thị
trờng chứng khoán.
B- Nội dung
I- Một số vấn đề lý luận về CPH doanh nghiệp Nhà
nớc
CPH là loại Công ty đợc thành lập do nhiều ngời bỏ vốn ra (cổ đông)
tiền vốn đợc chia thành các cổ phần bằng nhau, ngời hùn vốn với t cách là cổ
đông sẽ mua đợc một số cổ phần đó.

với nhiều cấp trung gian. Nguồn tài chính đợc sử dụng hoàn toàn theo kể
hoạch đợc duyệt đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng
hợp lý nguồn vốn và cũng không đợc chuyển sang cho năm sau. Điều này làm
cho các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm, vì
vậy không hợp lý hoá dợc sản xuất và giá thành luôn phải cộng nhiều chi phí
so với các doanh nghiệp t nhân.
+ Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp Nhà nớc, do đó gây ra nhữnh yếu tố làm cản trở đến hoạt động
có hiệu quả của doanh nghiệp.
+ Tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nớc trên thị trờng
pháp luật của Nhà nớc củng cố đã đánh mất những động lực nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp này, đa đến tình trạng xã hội buộc phải chấp
nhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ do chúng sản xuất ra với chất lợng ít
đợc cải tiến nhng giá cả ngày càng tăng không hợp lý và nếu không tăng giá
thì Nhà nớc phải chịu những gánh nặng trợ cấp ngày càng lớn.
+ Các doanh nghiệp Nhà nớc đợc thành lập nguồn vốn của Nhà nớc
không đợc phép phá sản và đợc trợ cấp từ ngân sách họăc đợc sử dụng các
nguồn vốn nội bộ với lãi suất thấp hoặc đợc u tiên tiếp cận đợc với các nguồn
tài chính nớc ngoài. Vì vậy, các doanh nghiệp Nhà nớc không có các yếu tố
kích thích phải nâng cao hiệu quả để tồn tại trong cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp t nhân.
+ Động cơ của các doanh nghiệp Nhà nớc chỉ nhằm cố gắng tránh né sự
thẩm xét của các cơ quan cấp trên trớc những sản phẩm và dịch vụ đối với ng-
ời tiêu dùng, cũng nh tránh né sự xung đột trong nội bộ, tránh né sự cải tổ, đổi
mới tổ chức quản lý để nâng cao hiệu quả, đảm bảo cho xí nghiệp có điều kiện
hoạt động dễ chịu và ổn định. Do đó mua sắm trang bị ngày càng d thừa, biên
chế ngày càng phình to dẫn đến chi phí quá mức so với nguồn thu.
Thâm hụt ngân sách và nợ nớc ngoài. Đây cũng là một nguyên nhân
quan trọng thúc đẩy các nớc phải tiến hành CPH vì các khoản trợ cấp ngày
càng lớn cho khu vực kinh tế quốc doanh dể đảm bảo Nhà nớc kiểm soát giá

và đáp ứng đợc yêu cầu của kinh doanh hiện đại.
- Mục tiêu của CPH doanh nghiệp Nhà nớc.
Chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần nhằm đạt các
mục tiêu sau.
+ Huy động vốn cho toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm
việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu
doanh nghiệp Nhà nớc.
+ Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và
những ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý tạo
động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc,
nâng cao thu nhập của ngời lao động, góp phần tăng lợng kinh tế đất nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng thực thụ (tức là cái "Rốn" bao cấp của Nhà
nớc đã đợc cắt bỏ hoàn toàn) thì xu hớng cổ phần hoá một bộ phận các doanh
nghiệp Nhà nớc đã diễn ra nh là một quy luật.
- Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh quá trình cổ phần hoá
diễn ra nh sau:
+ Các doanh nghiệp nhỏ, nếu không muốn bị phá sản thì phải góp vốn
(Góp cổ phần) để tạo ra một doanh nghiệp lớn (công ty cổ phần) có sức cạnh
tranh lớn hơn. Bởi vì doanh nghiệp lớn thờng có lợi thế hơn doanh nghiệp nhỏ
trong việc nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành, đổi mới quy trình công
nghệ .... để cuối cùng hoặc là có giá bán rẻ hơn hoặc là tuy giá không hạ nhng
chất lợng mẫu mã tốt hơn, tiêu thụ nhanh và nhiều hơn đối với một sản phảm
cùng loại.
+ Các doanh nghiệp lớn, nếu không muốn bị phá sản, cũng phải hoặc là
đầu t vốn của mình vào nhiều doanh nghiệp khác bàng cách mua cổ phiếu của
5
các công ty cổ phần hoặc là phân tán sự rủi ro cho nhiều ngời khác bằng cách
bán cổ phần cho nhiều doanh nghiệp. Thức chất cách làm này là phân chia sự
rủi ro cho nhiều doanh nghiệp để hởng lợi bình quân ổn định về toàn bộ vốn

độ khác nhau với các biện pháp không hoàn toàn giống nhau, các nớc dang tìm
cách cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh mà CPH đợc coi là 1 giả pháp quan
trọng và phổ biến.
2- Tầm quan trọng của việc CPH doanh nghiệp Nhà nớc.
Qua thực tiễn tiến hành công tác CPH ở nớc ta và qua kinh nghiệm của
một số nớc xung quanh, chúng ta thấy việc CPH đáp ứng đợc yêu cầu bức thiết
của công cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nớc trong việc giải quyết một số
vấn đề gay cấn nh:
- Khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp, xoá bỏ
tình trạng "vô chủ" của doanh nghiệp. Mặc dù chủ trơng giao quyền tự quản
cho các doanh nghiệp Nhà nớc la giải pháp đạt kết quả nhất định, nhng mới
chỉ đẩy lùi đợc chế độ bao cấp của Nhà nớc đối với doanh nghiệp Nhà nớc,
6
còn về nhận thức thì tài sản của doanh nghiệp Nhà nớc vẫn là "tài sản chung",
cho nên tình trạng vô trách nhiệm, lãng phí của công vẫn cha đợc khắc phục.
Khi doanh nghiệp Nhà nớc trở thành Công ty cổ phần thì mặc nhiên điều này
sẽ không còn tồn tại.
- Huy động đợc nguồn vốn trong xã hội. Cung cấp cho mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh và đầu t phát triển của doanh nghiệp, một mặt, vừa góp
phần tháo gỡ đợc khó khăn cho ngân sách Nhà nớc không phải chu cấp cho
doanh nghiệp. Mặt khác, vốn và tài sản doanh nghiệp Nhà nớc, nhờ CPH, thu
hồi lại sẽ đợc đầu t, mở rộng sản xuất, tăng thêm tài sản cố định, góp phần
thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Tác động lực mới trong quản lý doanh nghiệp ở Công ty cổ phần quyền
lợi của những ngời chủ mới của doanh nghiệp gắn chặt với sự thành bại của
hoạt động sản xuất kinh doanh, vì thế họ rất đoàn kết gắn bó và thống nhất
trong việc tìm kiếm và đa ra phơng hớng hoạt động phù hợp nhất của doanh
nghiệp, nhằm củng cố tăng cờng sức cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất
ra, quan tâm, đến công việc của Công ty và lao động tích cực với tinh thần
trách nhiệm cao.

một vấn đề đợc coi là hoá búa nhất trong c cấu lại doanh nghiệp Nhà nớc - vấn
đề thất nghiệp - cũng đợc giải quyết thoả đáng. Các DNNN không những
không sa thải công nhân khi CPH, ngợc lại, trên thực tế, còn tuyển thêm nhiều
lao động mới vì hiệu quả kinh tế tăng lên, thị trờng mở rộng...
Về phía Nhà nớc, cái lợi vừa mang tính chiến lợc lại vừa cụ thể: ngân
sách Nhà nớc bớt đợc các khoản bao cấp, số thu ngân sách Nhà nớc tặng cho
doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn. Mặt khác, thông qua cơ chế hoạt động của
loại hình doanh nghiệp CPH, Nhà nớc tạo ra đợc một cách quản lý mới, có
tính tập thể và hiệu quả cao. Thông qua hội đồng quản trị, từ nay, ngời lao
động cũng đợc tham gia vào quá trình quản lý và phân phối kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nhng thực tế ở các nớc thị trờng phát triển (nh Anh, Pháp...) và ở các n-
ớc Đông Âu (nh Hungari, Ba Lan, Rumani, SNG...) đã cho thấy việc CPH các
DNNN là phức tạp khó khăn
4- Những khó khăn, khi tiến hành cổ phần hoá
Tính phức tạp của cổ phần hoá DNNN bắt nguồn từ nhiều lý do:
- Một là, quan niệm thế nào là DNNN và vai trò của nó trong nền kinh
tế quốc dân của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đảng phái,...thậm chí đến mỗi ngời
dân thờng không giống nhau, có lúc khác nhau rất lớn. Từ đó dẫn đến nhận
thức về hàng loạt các vấn đề khác cũng không thống nhất nh: những doanh
nghiệp nào để lại hình thức quốc doanh, doanh nghiệp nào cần CPH; cần phải
làm nhanh hay từ từ; coi lãnh đạo công việc này là đúng, là tốt; CPH bao nhiêu
phần trăm là vừa.v.v...
- Hai là, xử lý những vấn đề có tính chất nghiệp vụ trong quá trình CPH
là không đơn giản:
+ Xác định giá trị doanh nghiệp nh thế nào là chính xác?
+ Đất có tính vào giá trị doanh nghiệp không và tính nh thế nào?
+ Giải quyết vấn đề lao động nh thế nào khi DNNN chuyển sang Công
ty cổ phần?...
Ngoài những khó khăn có tính phức tạp gây ra nh trên, có một khó khăn

nghiệp công nghiệp lớn và những xí nghiệp quốc doanh lớn thuộc các ngành
khác.
Hiện nay Liên bang Nga đang bắt đầu tiến hành 2 hớng này với tên gọi
là giai đoạn t nhân hoá hàng loạt. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tạo ra một
khu vực t nhân theo tiến trình sau: đến cuối 1993 sẽ chuyển sang khu vực t
nhân trên 30% toàn bộ giá trị tài sản sản xuất của đất nớc, đến cuối năm 1994
thêm 20% nữa, và đến cuối năm 1995 phải đạt đợc 60%. Trong số đó 80 - 85%
là chuyển cho không (sử dụng phiếu t nhân hoá và các u đãi cho tập thể lao
động).
Năm 1992 thực hiện bớc 1 là CPH các xí nghiệp lớn. Các cổ phiếu của
chúng hoặc do Nhà nớc nắm hoặc do tập thể lao động nắm. Với việc CPH này
sẽ này sinh một xu hớng ngợc lại, xu hớng đã hình thành trớc đây. Đó là xu h-
ớng giảm cơ cấu độc quyền, thiết lập các xí nghiệp nhỏ và vừa.. để thực hiện
có hiệu quả t nhân hoá "nhỏ" ngời ta dự kiến cho phép thuê thâu mặt bằng và
đất canh tác của các xí nghiệp đợc t nhân hoá, mở rộng khả năng cấp tín dụng
bằng cách đánh thuế bất động sản, tăng kích thích để mua các xí nggiệp cho
thuê thầu, không cho phép các cơ quan quản lý tài sản t nhân hoá có quyền thu
nhập nào khác ngoài một phần trích từ thu nhập do bán tài sản, chuyển phần
lớn tiền thu đợc do t nhân hoá cho ngân sách địa phơng.
Quá trình CPH phần lớn các xí nghiệp lớn của Liên bang Nga đợc tiến
hành vào tháng 7 đến tháng 10 năm 1992. Các xí nghiệp này sẽ đợc cải tạo
thành xí nghiệp cổ phần mở. Cổ phiếu của các xí nghiệp này đợc bán rộng rãi
để thu lại phiếu t nhân hoá đã phát cho nhân dân.
ở cấp xí nghiệp, để thực hiện CPH, ban giám đốc cùng với tập thể công
nhân sẽ soạn thảo ra một kế hoạch t nhân hoá, phơng án phân chia quyền lợi
cho ngời lao động, cách thức và tiến trình bán cổ phiếu, có thể bán đấu giá cổ
phiếu khống chế hoặc các nhóm cổ phiếu khác.
9
ở cấp Nhà nớc, chơng trình t nhân hoá có nêu một số phơng án phân
chia quyền lợi cho ngời lao động nh sau:

đầu t sẽ thu phiếu t nhân hoá và và dùng chúng để mua cổ phần của các xí
nghiệp. Nh vậy mỗi quỹ đầu t sẽ có nhiều cổ phần trong nhiều xí nghiệp khác
nhau. Họ sẽ dùng lãi cổ phần thu đợc từ các xí ngiệp để trả lãi cho những ngời
mua cổ phiếu của mình.
3- Cách thứ ba là bán phiếu t nhân hoá để lấy tiền.
Để tránh mất giá hoặc thiếu lòng tin vào phiếu t nhân hoá, Nhà nớc quy
định rằng tổng số cổ phiếu phát hành trên thị trờng sẽ nhiều hơn phiếu t nhân
hoá phát cho nhân dân (nghĩa là tạo chênh lệch cung vợt cầu để phiếu t nhân
hoá không bị mất giá: các xí nghiệp cần t nhân hoá phải bán trên 35% cổ
phiếu của mình để lấy phiếu t nhân hoá. Đồng thời Nhà nớc lập ra các cơ quan
tài chính đặc biệt để t vấn cho t nhân xử dụng phiếu có hiệu quả. Nhà nớc
cũng bảo đảm mọi mặt về thông tin để nhân dân có thể lựa chọn theo ý mình.
10
Triển vọng t nhân hoá đến năm 1995
Với tiến trình mở của nền kinh tế của liên bang Nga và với quyết tâm
thúc đẩy t nhân hoá, xây dựng kinh tế thị trờng, Chính phủ cho rằng chơng
trình t nhân hoá có thể đạt đợc kết quả khả quan. Tuy nhiên, thực tế sẽ khó đạt
đợc kết quả nh vậy, vì nh các nớc Đông Âu. Nhân dân liên bang Nga không
thể lấy đâu ra tiền để mua khối lợng tài sản khổng lồ thuộc sở hữu Nhà nớc ớc
tính khoảng 2500 tỷ rúp vốn cố định và 1100 tỷ rúp vốn lu động. Việc bán
rộng rãi cổ phiếu bao bồ 3 giai đoạn:
- Bán u đãi những ngời đầu t lớn mua cổ phần khống chế của xí nghiệp.
Nếu chọn phơng án đâu đãi thứ hai, thì chính tập thể công nhân viên xí nghiệp
đó sẽ là những ngời nắm cổ phần khống chế. Nếu chọn phơng án ba, thì chủ
một nhóm công nhân của xí nghiệp mới có khả năng khống chế xí nghiệp
trong tay. Ngoài ra, khi có đợc một lợng phiếu t nhân hoá nhất định, các quỹ
đầu t cũng có thể trở thành ngời đầu t chính của xí nghiệp.
- Bán số cổ phiếu phần còn lại thông qua đấu thầu.
Trong năm 1993 sẽ kết thúc về cơ bản quá trình t nhân hoá nhỏ. Để đẩy
nhanh t nhân hoá, Chính phủ sẽ thực hiện phân phối loạt phiếu t nhân hoá mới,

- Chế độ cổ phần hỗn hợp.
Cổ phần của các xí nghiệp là sự hỗn hợp cổ phần trong nội bộ và cổ
phần ngoài xã hội. Chúng bao gồm: Cổ phần Nhà nớc, cổ phần xí nghiệp, cổ
phần các tổ chức kinh doanh và cổ phần cá nhân.
2.2. Xác định cổ phần
Việc xác định cổ phần nhằm làm rõ vai trò sở hữu của ngời sở hữu cổ
phần. Căn cứ vào vốn đầu t để chia quyền sở hữu cổ phần. Tổng số cổ phần đ-
ợc phân làm 4 loại: Cổ phần Nhà nớc, cổ phần xí nghiệp, cổ phần xã hội và cổ
phần cá nhân. Cổ phần Nhà nớc chủ yếu là chỉ tài sản đợc hình thành do đầu t
của Nhà nớc vào những xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân bao gồm: tài sản cố
định, vốn lu động do Nhà nớc cấp. Cổ phần xí nghiệp nói chung là chỉ tài sản
đợc hình thành từ lợi nhuận để lại cho xí nghiệp. Cổ phần xã hội là cổ phần mà
các tầng lớp xã hội ở ngoài xí nghiệp đã mua. Cổ phần cá nhân mà công nhân
trong xí nghiệp và nhân dân mua bằng những thu nhập cá nhân từ nguồn vốn
nhàn rỗi cuả họ.
3.2. Về phân phối lợi nhuận
Nhìn chung có 3 cách lợi nhuận:
- Lợi nhuận hình thành trớc hết phải trả các khoản vay của ngân hàng,
sau đó căn cứ vào các luật thuế để nộp các loại thuế cho Nhà nớc. Phần lợi
nhuận còn lại phân phối cho các quỹ căn cứ vào số lợng các quỹ và tỷ lệ cụ thể
cho mỗi quỹ do hội đồng quản trị quyết định căn cứ vào những quy định có
liên quan của Nhà nớc.
- Hạ thấp mức thuế doanh thu, phần lợi nhuận còn lại sau khi nộp thuế,
trả nợ sẽ đem phân bổ cho quỹ.
- Lợi nhuận thực hiện còn lại của xí nghiệp đợc phân bổ cho các quỹ
sau khi nộp thuế, tiền phạt nếu chiếm dụng vốn của Nhà nớc hoặc của các xí
nghiệp khác, trả nợ và trả lãi ngân hàng.
2.4. Phân phối lợi tức cổ phần
Cơ bản đều căn cứ vào tỷ lệ của cổ phần để chia lợi tức đợc hởng khi
hoạt động kinh doanh có lãi và chịu thiệt hại tổn thất khi thua lỗ. Lợi tức đợc

chơng trình cổ phần hoá.
III- Doanh nghiệp Nhà nớc Việt Nam và thực trạng cổ
phân hoá
1- Thực trạng của khu vực kinh tế nớc ta
ở nớc ta cũng giống nh các nớc XHCN trớc đây thực hiện mô hình kế
hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển khu vực kinh tế Nhà nớc
bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân là mục tiêu cho công cuộc cải tạo và
xây dựng CNXH. Vì vậy khu vực kinh tế Nhà nớc đã đợc phát triển một cách
nhanh chóng, rộng khắp trong tất cả lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối
trong nền kinh tế bất kể hiệu quả đích thực mà nó mang lại, trong đó phải kể
đến sự ra đời chàn lan của các doanh nghiệp Nhà nớc do cấp địa phơng quản
lý. Theo số liệu thống kê đến ngày 1/1/1990 cả nớc có 12084 doanh nghiệp
Nhà nớc trong đó có 1695 doanh nghiệp trong trung ơng quản lý 10389 doanh
nghiệp do cấp địa phơng quản lý. Khu vực kinh tế Nhà nớc cs số vốn trị giá
khoảng 10 tỷ USD, chiếm 85% tổng số vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc,
khoảng 70% tổng giá trị tài sản toàn xã hội tạo ra khoảng từ 30% - 38% giá trị
tổng sản phẩm xã hội (GDP) và thu nhập quốc dân khoảng 23% - 30%. Trong
một vài năm gần đây phần của kinh tế Nhà nớc tăng lên nhanh là do bán
quyền thăm do và khai thác dầu, xuất khẩu gạo, than đá.
Bảng tỷ trọng khu vực kinh tế Nhà nớc trong nền kinh tế quốc dân (%)
1985 1986 1987 1988 1989 1990 199
1
199
2
199
3
13
Tỷ trọng trong
GDP
37,0 34,9 33,6 30,5 34,5 32,8 33,7 34,7 35,7

bằng 1,88 lần, sản phẩm cơ khí bằng 1,3 - 1,8 lần, phân đạm bằng 2,35 lần.
Mức tiêu hao năng lợng của các doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta cũng cao hơn
so với mức trung bình của thế giới. Ví dụ trong sản xuất giầy gấp 1,26 lần, hoá
chất cơ bản bằng 1,44 lần, than bằng 1,75 lần, phân đạm 1,83 lần.
+ Chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp Nhà nớc rất thấp và không
ổn định. Trung bình trong khu vực kinh tế Nhà nớc chỉ có khoảng 15% đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu. 65% số sản phẩm đạt mức độ dới trung bình để tiêu dung nội
địa: 20% sóo sản phẩm kém chất lợng. Do đó hiện tợng hàng hoá ứ đọng với
khối lợng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lu động của toàn xã hội.
+ Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế Nhà nớc rất thấp. Ví dụ hệ số sinh
thời của vốn lu động tính chung chỉ đạt 7%/ năm, trong đó ngành giao thông
vận tải đạt 2%/năm: ngành công nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thơng nghiệp
14
đạt 22%/ năm... hệ số sinh lời của vốn lu động đạt 11%/năm trong đó các
ngành tơng ứng ở trên đạt 9,4%, 10,6% và 9,5%.
+ Hiệu quả khai thác vốn đầu t của khu vực kinh tế Nhà nớc hết sức
thấp. Cụ thể là trong mấy năm gần đây, hàng năm Nhà nớc dành hơn 70% vốn
đầu t ngân sách của toàn xã hội cho các doanh nghiệp Nhà nớc, tuy nhiên
chúng chỉ tạo ra đợc từ 34 - 35% tổng sản phẩm xã hội. Hơn nữa khu vực kinh
tế Nhà nớc lại sử dụng hầu hết lao động có trình độ đại học, công nhân kỹ
thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thơng mại quốc doanh.
+ Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn. Theo số liệu của
tổng cục thống kê năm 1990, trong số 12084 cơ sở quốc doanh thì có tới 4584
đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 30% tổng số các doanh nghiệp
Nhà nớc. Trong đó quốc doanh trung ơng có 501 cơ sở thua lỗ, bằng 29,6% số
cơ sở do trung ơng quản lý, quốc doanh địa phơng có 4083 cơ sở thua lỗ,
chiếm 39,9% số đơn vị địa phơng quản lý. Các đơn vị thua lỗ trên đây có giá
trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộ khu vực kinh tế
Nhà nớc và với 787300 lao động trong tổng số 2590000 lao động bằng 32,9%
só lao động của toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nớc. Các số liệu đó cho thấy việc

Nhà nớc cấp, vật t đợc nhận theo chỉ tiêu hoạt động, sản xuất ra đợc giao nộp
theo địa chỉ khu vực. Các điều kiện vật chất đợc Nhà nớc phân phối theo chỉ
tiêu định mức. Doanh nghiệp chỉ đơn thuần là một đơn vị "gia công" hàng hoá
cho Nhà nớc. Trong điều kiện bao cấp tràn nan nh vậy, rõ ràng doanh nghiệp
không còn là một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Vì vậy khi chuyển sang kinh tế thị trờng, cả một khu vực kinh tế
Nhà nớc đồ sộ, cồng kềnh, bộc lộ tất cả những yếu kém về hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, cơ cấu chắp vá, không đồng bộ và xơ cứng
trong việc thích ứng với cơ chế mới.
Thứ hai, các doanh nghiệp Nhà nớc đã từ lâu không đợc đặt trong môi
trờng cạnh tranh, không gắn với thị trờng, do đó chậm đổi mới công nghệ và
nâng cao chất lợng sản phẩm. Trong một nền kinh tế thiếu hụt triền miên vì bị
công hữu hoá và thi hành chính sách đóng cửa thì những sản phẩm do các
doanh nghiệp này làm ra đều buọc xã hội phải chấp nhận, mặt dù chất lợng
thấp, mẫu mã, kiểu dáng cũ kỹ lạc hậu. Thêm vào đó chế độ bao cấp bù lỗ tràn
nan đã làm cho hạch toán kinh tế trong các doanh nghiệp Nhà nớc chỉ là hình
thức giả tạo, sản xuất không tính chi phí, nhng hiện tợng lãi giả - lỗ thật lại hết
sức phổ biến. Điều tất yếu xẩy ra là vốn liếng của doanh nghiệp không đợc
quan tâm bảo toàn, thiết bị cũ kỹ. công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với
mức trung bình của thế giới.
Thứ ba, tổ chức bộ máy trong các doanh nghiệp Nhà nớc không phù
hợp do quan điểm về sở hữu trong các doanh nghiệp không rõ dàng. Không có
sự phân biệt đầy đủ quyền sở hữu Nhà nớc và quyền quản lý kinh doanh của
giám đốc và tập thể ngời lao động trong doanh nghiệp. Tình trạng làm chủ tập
thể chung chung kéo dài mà thực chất là vô chủ phổ biến ở hầu hết các doanh
nghiệp Nhà nớc.
Thứ t, việc phân phối về thực chất không dựa trên nguyên tắt phân phố
theo lao động mà chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội, mang nặng tính
bình quân chủ nghĩa, không kích thích ngòi quản lý và công nhân trong các
doanh nghiệp Nhà nớc nâng cao hiệu quả công tác và năng suất lao động.

ngành trung ơng quản lý là 64 tỷ đồng/năm. Các doanh nghiệp địa phơng quản
lý là 16 tỷ đồng/ năm. Trừ một số doanh nghiệp Nhà nớc mới xây dựng trong
những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp lại có kỹ thuật lạc hậu so với
thế giới tới 2 - 3 thế hệ nh ngành đờng sắt, đóng tầu, cơ khí... vì vậy sản phẩm
của các doanh nghiệp này cung cấp có chi phí sản xuất cao, chất lợng kém.
- Tình trạng chiếm dụng vốn, công nợ dây da kéo dài giữa các doanh
nghiệp Nhà nớc là hiện tợng phổ biến. Tính đến 31/12/1994 tổng số công nợ
phải thu chiếm 20% doanh thu khu vực kinh tế này, bằng 54% tổng số vốn của
doanh nghiệp và tổng số công nợ phải trả chiếm 26,4% doanh thu. Trừ một số
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nh ngân hàng thơng mại, Công ty bảo hiểm,
còn lại đại bộ phận của doanh nghiệp Nhà nớc đều có số nợ phải trả lớn hơn số
nợ phải thu, số nợ không có khả năng thanh toán rất lớn.
- Hệ thống quản lý nặng lề, kém linh hoạt, cha đáp ứng đợc yêu cầu của
cơ chế thị trờng. Các quyết định đầu t, các phơng án sản xuất kinh doanh và
tiêu thụ sản phẩm, các phơng án đổi mới kỹ thuật và công nghệ, phân phối tài
chính.. có quá nhiều quy định, thủ tục phiền hà, chế độ tập thể quyết định, trên
thực tế không ai chịu trách nhiệm, gây thất thoát lớn đối với tài sản của Nhà n-
ớc trong các doanh nghiệp.
- Hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp Nhà nớc rất thấp nhiều doanh
nghiệp Nhà nớc không bảo tồn đợc vốn, mức sử dụng lao động thấp, tốc độ
chu chuyển của vốn chậm, sức cạnh tranh yếu. Đến cuối năm 1994, riêng nó
doanh nghiệp Nhà nớc do địa phơng quản lý thua lỗ lên tới 469 doanh nghiệp,
chiếm 12% tổng số doanh nghiệp Nhà nớc và 33,2% tổng số lỗ của khu vực
kinh tế Nhà nớc. Có doanh nghiệp trớc khi có quyết định giải thế còn mắc nợ
hàng trăm tỷ đồng và hàng triệu đô la. Mặc dù Chính phủ thờng xuyên rà soát
công nợ của doanh nghiệp Nhà nớc và có chính sách phù hợp đối với số nợ tồn
đọng từ nhiều năm trớc, nhng nhiều doanh nghiệp Nhà nớc vẫn không có khả
năng trang trải công nợ bằng lợi nhuận thu đợc của các doanh nghiệp này.
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status