MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP - Pdf 11

Lời nói đầu
Cách đây 10 - 15 năm một hoạt động nào đó mang tính chất quốc tế,
hay khu vực diễn ra tại nớc ta đã trở thành sự kiện bất ngờ, lạ lẫm đối với ng-
ời dân Việt Nam thì ngày nay, qua báo chí, truyền thanh truyền hình hàng
ngày chúng ta có thể thấy các tổ chức quốc tế, khu vực, các hoạt động văn
hoá thể thao, chính trị, đặc biệt là kinh tế diễn ra tại Việt Nam.
Chính trị ngoại giao có sự kiện: Tổng thống Mỹ Biclintơn và gia đình
đến Việt Nam vào tháng 4 - 2001 (bây giờ là cựu tổng thống).
Văn hoá thể thao có: Liên hoan quốc tế tại Việt Nam, thể thao Việt
Nam quen thuộc với các huy chơng vàng, bạc ngang tầm với khu vực quốc tế.
năm 2002 Seagame 22 diễn ra tại nớc ta...
Nổi bật nhất là kinh tế: Các Hội nghị khu vực, quốc tế tại Việt Nam,
đó là hội nghị EMM - 3 và ASM - 33, Việt Nam là thành viên của ASEAN,
Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ ký kết...
Đồng thời nhìn ra thế giới ta cũng có thể thấy các quốc gia ngày càng
gần nhau hơn: ta có ASEAN 10 thành viên đầy đủ, các quốc gia Châu Âu
hình thành đồng tiền chung ERO. Trung Quốc gia nhập WTO,... toàn cầu
hoá hay hội nhập quốc tế không còn xa lạ với chúng ta nữa. Và hơn bao giờ
hết, bài toán hội nhập kinh tế quốc tế đã làm đau đầu không chỉ Chính phủ
mà đối với mỗi một doanh nghiệp, mỗi một chủ thể tham gia vào nền kinh tế
nớc ta. Chúng ta không thể không hội nhập kinh tế quốc tế nhng chung ta hội
nhập nh thế nào, chúng ta đang có những thuận lợi và phải khắc phục khó
khăn nào để hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế.
Đảng và Nhà nớc ta đã và đang từng bớc đề ra phù hợp đúng đắn cho
vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.
Năm 1997 Luật Đầu t nớc ngoài ra đời cũng thể hiển chủ trơng của
Đảng đợc xác định qua đại hội VIII (1996) "đẩy nhanh quốc tế hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới". Đại hội Đảng (4/2001) vừa qua cũng đã xác định bối
cảnh quốc tế trong giai đoạn 2000 - 2010, đó là "Toàn cầu hoá kinh tế là xu
1
thế khách quan, lôi cuốn các nớc... vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép

những khác biệt về tiền lơng về mức thu nhập đang ngày càng tăng lên ở
những nớc phát triển nhất, sự thay đổi của vai trò Chính phủ....
Để có cái nhìn rõ ràng hơn ta có thể hiểu quá trình toàn cầu hoá bao gồm:
Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vợt khỏi các đờng biên giới quốc
gia tới quy mô quốc tế, của các luồng giao lu hàng hoá, dịch vụ thơng mại,
đầu t, tài chính, công nghệ, công nghệ nhân lực.
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trờng thống nhất trên
phạm vi toàn cầu và khu vực, cũng nh sự hình thành và phát triển các định
chế và các cơ chế điều tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh
tế quốc tế.
3
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và
phát triển, mà nó đã có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử. Có ngời cho rằng
những tiền đề này đã có từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa t bản, trên cơ sở quá
trình xã hội hoá của lực lợng sản xuất trên qui mô thế giới. Chính vì thế phải
khẳng định lại rằng toàn cầu hoá là một quá trình. Hơn nữa, đây là một xu
thế khách quan là quy luật tất yếu trong sự phát triển của xã hội loài ngời.
Khẳng định trên dựa vào những căn cứ, cơ sở thực tế sau:
Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp : lần thứ I: từ thế
kỷ XVIII, lần thứ II từ cuối thế kỷ XIX và lần thứ III từ nửa cuối thế kỷ XX
trở lại đây. Những tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và công nghệ của ba cuộc
cách mạng này đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và
giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống vài trăm lần; đã có tác động cực kỳ
quá trình đến toàn bộ quan hệ kinh tế quốc tế, đã biến các công nghiệp
mang tính quốc gia thành công nghiệp toàn cầu. Lấy công nghiệp may mặc
làm ví dụ. Trớc đây với một máy may dù có hiện đại đến đâu thì sản phẩm
cũng chỉ bán trong một địa phơng, một quốc gia hay một khu vực chi phí vận
chuyển liên lạc quá cao đã làm mất hết lợi thế so sánh nếu đa sản phẩm này
đến thị trờng xa xôi. Nhng ngày nay, Công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng
tạo, thiết kế và phân phối toàn cầu, còn sản xuất do Công ty các nớc thực

bản chất chính trị nhiều hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết
kinh tế giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật và Hội đồng tơng trợ kinh tế SEV giữa các
quốc gia xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay lại hình thành nên các tổ chức nh
APEC, AFTA, NAFTA,... Đặc biệt quá trình quốc tế hoá về tài chính đẩy
mạnh nhanh chóng: hình thành nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB), Liên nớc kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần 11 nớc thành viên với
đồng tiền chung là đồng EURO. Cùng với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra
đời các cam kết này đã, đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các bức tờng
thành quốc gia, rào cản quốc gia. Các nớc thành viên của tổ chức thơng mại
thế giới (WTO) cũng đã cam kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào. Ngay cả đối
với Mỹ, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay gây sức ép thơng mại đối với các
5
nớc có vẻ nh đã mất hiệu lực, với dấu hiệu là Mỹ đã ký tối huệ quốc (MFN)
đối với Trung Quốc.
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên
bức xúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó
khăn gì để có thể nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu.
Môi trờng ngày càng bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt;
dân số thế giới tăng nhanh đến mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng
vốn toàn cầu vận động tự do không có sự điều tiết là nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến các cuộc khủng hoàng liên tiếp Châu Âu, Châu Mỹ, Châu á trong
thời gian vừa qua; chiến tranh lạnh chấm dứt, đồng nghĩa với nó là kết thúc
sự đối đầu giữa các siêu cờng, mở ra thời kỳ hợp tác, hoà bình, phát triển
mới...
Những vấn đề này đã trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu
hoá kinh tế với những đặc trng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế
và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa
phơng và toàn cầu, tức là các biên giới quốc gia về thơng mại đầu t đang tiên
vong. Thứ hai là, các Công ty của các quốc gia có quyền kinh doanh tự do ở
mọi quốc gia, trên các lĩnh vực cam kết, không phân biệt đối xử; thực chất là

các nớc khu vực và thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Việt Nam đang phải
cạnh tranh với những u thế của ngời bạn láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ,
mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng và với cả tâm lý "thích dùng đồ ngoại" của
ngời dân nớc ta. Với những khó khăn đang phải đối mặt liệu các doanh
nghiệp Việt Nam có đứng bên bờ "phá sản" hay không?
Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến.
Có thể nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nớc đang phát
triển và chậm phát triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phơng
pháp quản lý tiên tiến từ các nớc phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho
các nớc nhận rút ngắn khoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai
đoạn từ nghiên cứu cho đến khi triển khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho
các nớc đang phát triển có điều kiện đi tắt, đơn đầu mọi phơng tiện. Nhng
cũng chính dòng chảy vốn, công nghệ, kinh tế, phơng pháp quản lý tiên tiến
7
này tạo ra một thế lực cạnh tranh đối với các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém
hiệu quả. Trong một giới hạn nào đó, dòng di chuyển này là nguyên nhân
đẩy các doanh nghiệp Nhà nớc vào tình trạng phá sản, đi kèm là tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng loạt vấn đề cho xã hội Chính phủ cần giải
quyết.
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên
kết kinh tế cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan.
Đây là điều kiện quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt
đối xử trong kinh tế trong các quan hệ mua bán và giao lu quốc tế. Không
những thế các nớc chậm phát triển đợc hởng u đãi đặc biệt, chế độ tối huệ
quốc, đợc cung cấp thông tin tự do mậu dịch, liên minh thuế quan, đợc bảo
đảm các quyền thông qua các tổ chức quám sát, giám định quốc tế. Chính vì
vậy, các nớc chậm phát triển có điều kiện cải thiện quốc tế hoá không, liệu
các chính sách tài chính có bắt kịp yêu cầu của xu thế thời đại? Các cuộc
khủng hoảng Đông Nam á, Brazin, Nga, trong những năm 1997 - 1998 vẫn
còn là những bài học sâu sắc cảnh báo cho các nớc có tình hình tơng tự.

Vào thế kỷ thứ XI đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế gần
nh toàn bộ thế giới cho đến thế kỷ XX nớc Anh kiểm soát các đờng giao
thông hàng hải quốc tế và khống chế nhiều vùng thuộc địa với 1/5 diện tích
trái đất, 428 triệu dân. Sự hội nhập của các thuộc địa vào thị trờng thế giới
đã đa đến sự biến động luồng di dân, thúc đẩy gia tăng dân số và giao lu kinh
tế. Hoạt động thơng mại phát triển mạnh mẽ, mậu dịch giữa các nớc mà trung
tâm đặt tại Luân Đôn đã trở thành một hệ thống thống nhất sau khi các quốc
gia Châu Âu thừa nhận chế độ bản vị vàng.
Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay quá trình quốc tế hóa đã trải qua ba
thời kỳ hay ba làn sóng.
Làn sóng đầu tiên diễn ra vào khoảng những 50 năm trớc chiến tranh.
Trong thời kỳ này sự trao đổi quốc tế và liên lục địa đã phát triển nhanh hơn
cả sự sản xuất trên toàn thế giới. Những dòng tài chính tăng lên nhanh hơn
nhiều trên quy thế giới. So với sự tăng trởng của việc trao đổi và sản xuất trên
toàn thế giới.
9
Làn sóng thứ hai của quốc tế hóa diễn ra vào những năm 50, 60, 70
của thế kỷ tức là thời kỳ có sự giảm bớt quan trong của các rào cản kinh tế.
Nhất là trong những nền kinh tế phát triển.
Làn sóng thứ ba vào cuối những năm 80 trở đi và lúc này khái niệm về
êôị nhập quốc tế đã trở nên quen thuộc. ở giai đoạn này ngời ta thấy có sự co
hẹp rõ rệt các hàng rào thơng mại. Sự tăng trởng mạnh mẽ về tài chính và dân
s quốc tế trên bình diện không cân bằng giữa nội bộ các nớc và các nớc khác
nhau.
Để thấy rõ sự tăng trởng của Mậu dịch quốc tế còn nhanh hơn cả sự
tăng trởng kinh tế. Ta hãy khảo sát những số liệu sau.
Trong thời gian 1900 - 1947 thơng mại thế giới tăng cha đều hai lần
thì từ sau chiến tranh thế giới II đến 1990 tăng 50 lần. Có nghĩa là tăng gấp 3
lần tốc độ tăng GDP thế giới. Năm 1950 giá trị thơng mại chiếm 7% GDP thế
giới thì nay đã là 23%.

đẩy mạnh xu hớng hội nhập quốc tế nh trên. Đồng thời sự gia tăng, tập trung
mạnh tài chính ngày càng lớn vào các Công ty đầu sỏ trong mọi lĩnh vực là
một điểm đáng chú ý của làn sóng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Các Công ty trong nền kinh tế thị trờng phát triển gắn liền với quá
trình tích tụ và tập trung t bản. Trong những làn sóng trớc đây của quốc tế
hóa không phải không có sự gia tăng tích tụ và tập trung t bản. Song từ những
năm 80 trở lại đây, nhất là những năm 90 quá trình diễn ra khá đặc trng,
11
nhiều chuyên gia kinh tế xem nh là những cơn sốt sát nhập hay hội chứng sát
nhập.
Thứ t là thị trờng lao động quốc tế đợc mở rộng do nhiều nớc chuyển
sang xây dựng nền kinh tế thị trờng, thực hiện mở cửa kêu gọi đầu t nớc
ngoài đã mở rộng dung lợng thị trờng lao động quốc tế.
Trong xu thế hội nhập kinh tế trớc đây thờng gắn liền với dòng di c lớn
của đội quân lao động. Chẳng hạn vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có
sự di c khá cao về lao động trong nền kinh tế thế giới. Tính ra có khoảng 40
triệu ngời Châu Âu chuyển tới Bắc Mỹ. Hàng triệu ngời từ các vùng ôn hòa
tới Nam bán cầu. Với làn sóng thứ ba này kinh tế thế toàn cầu ngày càng trở
nên một hệ thống gắn bó chặt chẽ. Mỗi bộ phận của nó đều phụ thuộc vào
tổng thể và ngợc lại, cái tổng thể chi phối cái bộ phận trong thời kỳ này nhiều
dịch chế toàn cầu và khu vực xuất hiện. Thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế
xuất hiện, sử dụng phổ biến thay thế cho quốc tế hóa. Nó phát ảnh bớc phát
triển cao hơn của quốc tế hóa.
2. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay mọi hoạt động kinh
tế đang đợc tự do hóa.
Trong giai đoạn quốc tế hóa trớc đây. Việc hội nhập vào nền kinh tế
quốc tế, mà thực chất là sự bành trờng của các hoạt động kinh tế vợt ra khuôn
khổ của biên giới quốc gia không gắn với việc tự do hóa các hoạt động kinh
tế. Đôi khi cùng với quá trình bành chớng của hoạt động kinh tế lại có sự gia
tăng của các biện pháp bảo hộ thị trờng.

phát triển sản xuất với mục tiêu lợi nhuận các tổ chức độc quyền cạnh tranh
với nhau gay gắt. Kết quả là hình thành những liên manh độc quyền không
chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế. Chúng cấu kết với
nhau chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế. Nh vậy khó có thể thay thế ngay
thời kỳ đầu quá trình quốc tế hóa đã chịu sự chi phối của CNTB.
13
Chơng II. tiến trình thực trạng hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Tiến trình hội nhập trong thời gian vừa qua của Việt Nam
Nghiên cứu vấn đề này ta mới nhận thấy rằng: chính sách mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển đất nớc không phải là một điều hoàn toàn
mới mẻ đối với Đảng và Nhà nớc ta. Nó chính là sự kế thừa, phát triển và vận
động sáng tạo và từng hoàn cảnh, từng giai đoạn của đất nớc những luận
điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ khi nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà vừa mới ra đời. Trong bài trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngày
23 tháng 10 nă, 1945, Ngời đã nói: "Chúng ta hoan nghênh những ngời Pháp
muốn đem t bản xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu cha có ai khai
thác.... Chúng ta sẽ mời những nàh chuyên môn Pháp, cũng nh Mỹ, Nga hay
Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong việc kiến thiết quốc gia..." cuối
năm 1946 trong "Lời kêu gọi Liên hiệp quốc" Ngời lại viết "Trong chính
sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc
dới đây":
1) Đối với Lào và Miên (Campuchia), nớc Việt Nam luôn tôn trọng
nền độc lập của hai nớc đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở
bình đẳng tuyệt đối giữa các nớc có chủ quyền.
2) Đối với các nớc dân chủ, nớc Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Một là nớc Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu t của nhà t
bản, nhà kỹ thuật nớc ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
Hai là, nớc Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đờng xá

Phải trải qua gần 5 năm đổi mới, nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa ở nớc ta bắt đầu vận hành có kết quả, đồng thời đứng trớc thực
tế của các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ, Liên Xô cũng đang trợt
dài tới bờ vực của sự tan rã, đại hội VII của Đảng (6 - 1991) mới đề ra các
15
luận điểm có ý nghĩa phơng châm chỉ đạo, tổng quát cho việc thị trờng chính
sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế rộng rãi ở nớc ta. "Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình
độc lập và phát triển"; "Đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ kinh tế với mọi
quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
bình đẳng và cùng có lợi".
Đại hội Đảng lần thứ VIII ( 6- 1996) tiếp tục cụ thể hoá các luận điểm
trên và quyết định "đẩy nhanh quá trình hội nhậ kinh tế khu vực và thế giới"
Nghị quyết hội nghị Trung ơng lần thứ IV khoá VIII (12 - 1997) cũng đã đa
ra nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta.
Một là, trên vấn đề phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính
sách thu hút nguồn lực bên ngoài.
Hai là, tiến hành khẩn trơng, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Th-
ơng mại Việt - Mỹ, gia nhập APEC và WTO.
Ba là, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khu
vực AFTA.
Gần đây nhất, Đại hội IX của Đảng (4 - 2001) tiếp tục vạch ra phơng
châm cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian 10 năm tới 2001
- 2010: "... nâng lên một bớc mới gắn với việc thực hiện các cam keets quốc
tế đòi hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh và khả năng
độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động
quốc tế". Nghị quyết Đại hội Đảng lần này lại nhấn mạnh thêm: "Chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hớng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status