LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế trong đó sự tự do hóa thương mại được xem là nhân tố
quan trọng thúc đầy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cho mỗi quốc gia,
đa số các quốc gia trên thế giới đều điều chỉnh nền kinh tế của mình theo hướng
mở cửa, giảm và hơn nữa là tháo rỡ các rào cản thương mại làm cho việc thay đổi,
giao lưu hàng hóa và lưu thông các nhân tố sản xuất ngày càng thuận lợi hơn, để
tránh bị rơi vào tình trạng tụt hậu hầu hết các nước trên thế giới ngày càng nỗ lực
hội nhập vào xu thế chung để tăng cường sức mạnh kinh tế.
Hiện nay xu thế hòa bình, hợp tác để cùng phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi
bức xúc của dân tộc và các nước trên thế giới, các nước ngày đều có môi trường
hòa bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa các nền kinh tế ngày càng gắn
bó, phụ thuộc lẫn nhau tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, các thể chế đa phương
trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng tăng cùng với sự phát triển của ý thức
độc lập tự chủ, tự lực của các dân tộc.
Toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ quốc
tế hiện đại, cuộc cách mạng kinh tế kỹ thuật đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá
trình chuyên môn hóa và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất
được quốc tế hóa cao độ những tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt là lĩnh vực thông
tin đã đưa các quốc gia tiến lại gần nhau hơn dần đến sự hình thành của mạng lưới
toàn cầu, trước biến đổi to lớn về khoa học công nghiệp này, tất cả các quốc gia
trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh chính sách theo
hướng mở cửa , giảm và dỡ bỏ hàng rào thuế quan làm cho việc trao đổi hàng hóa,
di chuyển vốn, lao động và các kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn,
tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế mở rộng và phát triển.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ .
1. Khái quát chung về hội nhập kinh tế quốc tế
a) Toàn cầu hóa:
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền
kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc
gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v... trên quy mô toàn
cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác
thời đại..
b) Hội nhập kinh tế quốc tế
• Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là
việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau.
Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể
chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ
động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng
nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và
thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây
dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Hội nhập kinh tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực
- tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phương - tức là có quy mô toàn thế
giới giống như những gì mà Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) đang hướng tới.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn bó 1 cách hữu cơ nền kinh tế quốc gia
với nền kinh tế thế giới góp phần khai thác các nguồn lực bên trong một cách có
hiệu quả.
• Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
- Nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế:
+ Bất kì một quốc gia nào khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực cũng
như trên thế giới đều phải tuân thủ theo nguyên tắc của các tổ chức đó nói riêng và
nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung. Sau đây là một số nguyên tắc
cơ bản của hội nhập: Không phân biệt đối xử giữa các quốc gia; tiếp cận thị trường
các nước, cạnh tranh công bằng,áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp
cần thiết,dành ưu đãi cho các nước đang và chậm phát triển
+ Đối với từng tổ chức có nguyên tắc cụ thể riêng biệt
- Nội dung của hội nhập( chủ yếu là nội dung hội nhập WTO)
Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện
thuận lợi hóa,tự do hóa thương mại và đầu tư:
+ Về thương mại hàng hóa: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như
QUOTA, giấy phép xuất khẩu…,biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm
và phương thức quản lý vĩ mô.
• Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới
cho sự phát triển của từng quốc gia cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát
triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất.+ Hội nhập kinh tế
quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong và ngoài nước,
tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm
quản lý.
3. Cơ hội đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập:
Tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực sẽ tạo điều kiện cho
Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng. Những cơ hội của hội nhập đem lại mà
Việt Nam tận dụng được một cách triệt để sẽ làm bàn đạp để nền kinh tế sớm sánh
vai với các cường quốc năm châu.
a. Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của
Việt Nam :
Nội dung của hội nhập là mở cửa thị trường cho nhau, vì vậy, khi Việt Nam
gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ mở rộng quan hệ bạn hàng. Cùng với việc
được hưởng ưu đãi về thuế quan, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi
ngộ khác đã tạo điều kiện cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập thị trường thế
giới.
b. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài,
viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế:
• Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là cơ
hội để thị trường nước ta được mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Họ sẽ
mang vốn và công nghệ vào nước ta sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của
nước ta làm ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới với các ưu đãi
mà nước ta có cơ hội mở rộng thị trường, kéo theo cơ hội thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp trong nước huy động và sử dụng vốn có
hiệu quả hơn.
• Viện trợ phát triển ODA:
Tiến hành bình thường hoá quan hệ tài chính của Việt Nam, các nước tài trợ và các
nhân lực của nước ta khai thông, giao lưu với các nước.
4. Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế:
a) Tình hình nền kinh tế đất nước:
- Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay:Việt Nam là một nước có nền kinh
tế đang phát triển. Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng về tăng trưởng
kinh tế. Song chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh của
các sản phẩm, các doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp.
- Tình trạng phổ biến hiện nay là sản xuất còn mang tính tự phát, chưa bám
sát nhu cầu thị trường. Nhiều sản phẩm làm ra chất lượng thấp, giá thành cao nên
giá trị gia tăng thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, thậm chí có nhiều sản
phẩm cung vượt quá cầu, hàng tồn kho lớn.
- Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chưa cao, tỉ lệ số
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ liên tục còn nhiều thực trạng tài chính của
nhiều doanh nghiệp thực sự đáng lo ngại: Nhìn chung thiếu vốn, nợ nần kéo
dài, tổng số nợ phải thu của các doanh nghiệp chiếm 24% doanh thu, nợ phải
trả chiếm 133% tổng số vốn nhà nước các doanh nghiệp. Chi phí sản xuất
của các doanh nghiệp còn lớn đang làm giảm sức cạnh tranh của các sản
phẩm của doanh nghiệp.
- Môi trường kinh doanh đầu tư ở Việt Nam mặc dù đang được cải tiến song
nhìn chung còn chưa thuận lợi, còn nhiều khó khăn: Khuôn khổ pháp lý chưa
đảm bảo cho cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sự độc quyền
trong một số lĩnh vực của một số tổng công ti nhà nước, hệ thống tài chính
ngân hàng còn yếu kém, sự thiếu minh bạch về cơ chế chính sách, chế độ
thương mại còn nặng về bảo hộ, thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa thông
thoáng.
- Nguồn nhân lực Việt Nam dồi dao nhưng tay nghề kém, lợi thế về lao động
rẻ có xu hướng đang mất dần:
Trước mắt, do giá nhân công còn rẻ và đang có thị trường rộng lớn nên
ngành may mặc và giầy da là hai ngành có lợi thế cạnh tranh cao nhất trong nhóm
mặt. Do đó nếu chúng ta mở rộng quan hệ với các nước đó thì nước ta khó tránh
khỏi sẽ bị lệ thuộc về kinh tế, và từ chỗ lệ thuộc về mặt kinh tế có thể đi đến không
giữ vững được quyền độc lập tự chủ. Nhưng độc lập tự chủ không có nghĩa là đóng
cửa với thế giới. Nếu đóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế chung của thời đại,
đẩy đất nước vào tình trạng chậm phát triển. Khi tình trạng chậm phát triển về kinh
tế không được sớm khắc phục thì sẽ làm xói mòn lòng tin của nhân dân, làm nảy
sinh nhiều vấn đề xã hội nan giải, tạo ra nguy cơ tư bên trong đối với trật tự an
toàn xã hội.
- Hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng tới bản sắc văn hoá dân tộc:
Xu thế toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập với quốc tế thông qua “ siêu lộ“
thông tin với mạng internet, một mặt tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có để các
dân tộc, cộng đồng ở mọi nơi có thể nhanh chóng trao đổi với nhau về hàng hoá,
dịch vụ, kiến thức... Mặt khác, quá trình trên cũng làm nảy sinh mối nguy cơ ghê
gớm về sự đồng hoá các hệ thống giá trị và tiêu chuẩn, đe doạ, làm suy kiệt khả
năng sáng tạo của nền văn hoá, nhân tố hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của
nhân loại. Nguy cơ nói trên lại càng tăng gấp bội khi một siêu cường nào đó tự
xem giá trị văn hoá của mình là ưu việt, từ đó nảy sinh thái độ ngạo mạn và ý đồ áp
đặt các giá trị của mình cho các dân tộc khác bằng một chính sách có thể gọi là
xâm lược văn hoá với nhiều biện pháp trắng trợn tinh vi. Trước tình hình đó, chúng
ta, với bản lĩnh vốn có của dân tộc: “ hoà nhập chứ không hoà tan “, tiếp thu những
yếu tố nhân bản, hợp lí, khoa học tiến bộ của văn hoá các nước để làm giàu bản sắc
văn hoá dân tộc.
II. ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI, HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ THỜI KỲ ĐỔI MỚI.
1. Các giai đoạn hình thành và phát triển đường lối
• Giai đoạn 1986 - 1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở,
đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.
- Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VI nhận định: “Xu thế mở rộng phân
công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác
nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ
nghiệm quản lý, tiếp cận thị trường thế giới trên cơ sở đảm bảo an ninh quốc
gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường, hạn chế đến mức tối thiểu những tiêu cực
phát sinh trong quá trình mở cửa.
+ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (01/1994) chủ trương
triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa
dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại, trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo là:
giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, phải
sáng tạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
của Việt Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp
với đặc điểm từng đối tượng.
• Giai đoạn 1996 - 2008: Bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại theo phương
châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VIII khẳng định: tiếp tục mở rộng quan
hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu
vực và quốc tế; đồng thời, chủ trương xây dựng nền kinh tế mở và đẩy nhanh
quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
So với Đại hội VII, chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có 3 điểm mới. Một
là, chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác; hai
là, quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ
chức phi chính phủ; ba là, lần đầu tiên trên lĩnh vực đối ngoại Đảng đưa ra chủ
trương thử nghiệm để tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài.
Hội nghị 4 khóa VIII (12/1997) chỉ rõ: trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện
nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài, Nghị quyết đề ra
chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thương
mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO.
- Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần IX: chủ trương chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực. Lần đầu tiên Đảng
nêu rõ quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ: “Xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời
có tiềm lực kinh tế đủ mạnh. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi
Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa và đa
phương hóa quan hệ quốc tế được xác lập trong mười năm đầu của thời kỳ đổi
mới. Đến Đại hội X được bổ sung, phát triển theo phương châm chủ động, tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở đa phương hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế.
• Giai đoạn 2008 – nay: Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011). Về định hướng đối ngoại Cương lĩnh (bổ sung, phát
triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển những nội dung sau:
- Khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình,
hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giầu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
- Xác định rõ hơn cơ sở của sự hợp tác: Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả
các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của hiến chương Liên Hợp quốc và
luật pháp quốc tế.
- Mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên
cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp
tác và phát triển (bổ sung thêm quan hệ với “những đảng khác”).
2. Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới.
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Việc nhập khẩu
các sản phẩm trung gian và thu hút đầu tư mà trong nước không thể cung cấp
với giá tương ứng, việc chuyển giao công nghệ và các ý tưởng từ những nước
phát triển hơn, và việc tiếp cận thị trường vốn và hàng hóa quốc tế có thể giúp
chúng ta giải quyết một số hạn chế cố hữu để tăng trưởng và phát triển nhanh
hơn. Nhưng đó là những lợi ích tiềm năng chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng
khi trong nước chúng ta có nội lực vững mạnh với những chính sách và thể chế
sâu nhằm tạo thế đan xen lợi ích, xây dựng các mối quan hệ thực chất, ổn định lâu
dài; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các
nước Châu Á - Thái Bình Dương; củng cố quan hệ với các đảng cộng sản, công
nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế
giới...
Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm chủ động, linh hoạt, sáng
tạo và hiệu quả, tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới;
tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công tác văn hoá đối
ngoại và thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa
nhân dân ta với nhân dân các nước. Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì
quyền con người; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực
có liên quan về vấn đề nhân quyền, kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động
lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” can thiệp vào
công việc nội bộ, an ninh và ổn định chính trị của nước ta.
Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết
lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội XI khẳng định quan điểm chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế. Chủ động hội nhập kinh tế trước hết là chủ động
trong đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong chủ trương,
chính sách hội nhập kinh tế nói riêng; là chủ động nắm vững quy luật, tính tất yếu
của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh, xác định lộ
trình, nội dung, quy mô, bước đi phù hợp, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ
kinh tế quốc tế. Chủ động còn bao hàm sự sáng tạo, lựa chọn phương thức hành
động đúng, dự báo được những tình huống trong hội nhập kinh tế.