Một số vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13

một số vấn đề lý luận về hội nhập
kinh tế quốc tế
1. Khái niệm chung về toàn cầu hoá.
Ngày nay, cụm từ "toàn cầu hoá" không còn xa lạ đối với chúng ta đặc
biệt là giới tri thức trẻ và những ngời quan tâm đến các vấn đề của thế giới.
Tuy nhiên có rất nhiều cách nhìn nhận về toàn cầu hoá. ở nét khái quát nhất,
tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) đã coi toàn cầu hoá là
quá trình mở rộng tới "một hoạt vấn đề cũng mang lại sự đổi thay cho nền
chính trị và kinh tế ngày nay trên quy mô toàn cầu". Đó là các vấn đề: Khả
năng có thể tồn tại của hệ thống thơng mại thế giới, nhu cầu ngày càng tăng
của sự hội nhập có "chiều sâu" về chính sách quốc tế và sự giám sát rõ ràng
tính độc lập tự chủ trong chính sách kinh tế quốc gia; sự tác động của cuộc
cách mạng công nghệ; tầm quan trọng của sự đổi thay trong các hệ thống
quản lý các tập đoàn Công ty lớn, hay trong hệ thống tổ chức công nghệ hoá
là cơ sở cho sức cạnh tranh của các nớc, các Công ty; sự đa dạng hoá ngày
càng tăng giữa các nớc phát triển, nạn đói nghèo và nguy cơ một tỷ lệ lớn dân
số trên trái đất bị loại trừ; những vấn đề nghiêm trọng về nạn thất nghiệp và
những khác biệt về tiền lơng về mức thu nhập đang ngày càng tăng lên ở
những nớc phát triển nhất, sự thay đổi của vai trò Chính phủ....
Để có cái nhìn rõ ràng hơn ta có thể hiểu quá trình toàn cầu hoá bao gồm:
Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vợt khỏi các đờng biên giới quốc
gia tới quy mô quốc tế, của các luồng giao lu hàng hoá, dịch vụ thơng mại,
đầu t, tài chính, công nghệ, công nghệ nhân lực.
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trờng thống nhất trên
phạm vi toàn cầu và khu vực, cũng nh sự hình thành và phát triển các định
chế và các cơ chế điều tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh
tế quốc tế.
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và
phát triển, mà nó đã có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử. Có ngời cho rằng
những tiền đề này đã có từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa t bản, trên cơ sở quá
trình xã hội hoá của lực lợng sản xuất trên qui mô thế giới. Chính vì thế phải

Đây là cơ sở đầu tiên của nền kinh tế toàn cầy thống nhất.
Chính nền công nghệ toàn cầu phát triển mạnh mẽ đã trở thành cơ sở
cho các quan hệ kinh tế toàn cầu. Trớc hết là quan hệ thơng mại, chi phí vận
tải liên lạc giảm đi thì khả năng buôn bán trao đổi giữa địa phơng quốc gia,
khu vực tăng lên. Cùng với nó quá trình phân công chuyên môn hoá sản xuất
diễn ra giữa các quốc gia, liên tục càng dễ dàng. Các linh kiện của máy bay
Boing, ô tô, máy tính... đã không phải là sản phẩm của một bớc mà của rất
nhiều nơi trên thế giới.
Thơng mại toàn cầu, sản xuất chuyên môn hoá toàn cầu đã kéo theo
đồng vốn, tiền tệ, dịch vụ... vận động trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, lợng
buôn bán tiền tệ toàn cầu đã vợt xa con số 1500 tỷ USD. Trong đó, ta thấy
rằng, thơng mại điện tử xuất hiện và phát triển với tốc độ chóng mặt.
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầy
đã ngày càng xung đột với các thể chế quốc gia, rào cản quốc gia. Các quốc
gia các khu vực, xích lại gần nhau hơn qua các tổ chức liên kết kinh tế. mang
bản chất chính trị nhiều hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết
kinh tế giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật và Hội đồng tơng trợ kinh tế SEV giữa các
quốc gia xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay lại hình thành nên các tổ chức nh
APEC, AFTA, NAFTA,... Đặc biệt quá trình quốc tế hoá về tài chính đẩy
mạnh nhanh chóng: hình thành nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB), Liên nớc kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần 11 nớc thành viên với
đồng tiền chung là đồng EURO. Cùng với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra
đời các cam kết này đã, đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các bức tờng
thành quốc gia, rào cản quốc gia. Các nớc thành viên của tổ chức thơng mại
thế giới (WTO) cũng đã cam kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào. Ngay cả đối
với Mỹ, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay gây sức ép thơng mại đối với các
nớc có vẻ nh đã mất hiệu lực, với dấu hiệu là Mỹ đã ký tối huệ quốc (MFN)
đối với Trung Quốc.
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên
bức xúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó

lại luôn đi với mặt hạn chế nảy sinh từ đó.
Toàn cầu hoá đa ra một thị trờng tiêu thụ mở rộng cho hàng hoá dịch
vụ. Thị trờng không hạn chế một nớc, một khu vực, hay một châu lục nữa mà
đã là thị trờng toàn cầu. Lúc này không ai khác chính bản thân sản phẩm
quyết định sự tồn tại của nó. Mỗi hàng hoá và dịch vụ phải đứng trớc một
môi trờng cạnh tranh gay gắt. Nền kinh tế của các quốc gia riêng lẻ chịu sức
ép vô cùng lớn từ bên ngoài. Không nhìn đâu xa, Việt Nam là một ví dụ phù
hợp cho vấn đề này. Quả thực, hàng hoá Việt Nam ngày nay đã có mặt nhiều
nơi trên thế giới và ban đầu đã gây uy tín không nhỏ thị trờng nớc ngoài ở
Việt Nam không chỉ là gạo, cà phê, thuỷ hải sản... mà còn là sản phẩm may
mặc, hàng thủ công mỹ nghệ... không ít các Công ty TNHH t nhân Việt
Nam có nhiều chi nhánh ở nớc ngoài. Đây là dấu hiệu của khả năng cạnh
tranh lành mạnh của hàng hoá, dịch vụ nớc ta. Bên cạnh đó, thị trờng Việt
Nam đã đang và sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hàng hoá mang nhãn hiệu của
các nớc khu vực và thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Việt Nam đang phải
cạnh tranh với những u thế của ngời bạn láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ,
mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng và với cả tâm lý "thích dùng đồ ngoại" của
3
ngời dân nớc ta. Với những khó khăn đang phải đối mặt liệu các doanh
nghiệp Việt Nam có đứng bên bờ "phá sản" hay không?
Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến.
Có thể nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nớc đang phát
triển và chậm phát triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phơng
pháp quản lý tiên tiến từ các nớc phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho
các nớc nhận rút ngắn khoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai
đoạn từ nghiên cứu cho đến khi triển khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho
các nớc đang phát triển có điều kiện đi tắt, đơn đầu mọi phơng tiện. Nhng
cũng chính dòng chảy vốn, công nghệ, kinh tế, phơng pháp quản lý tiên tiến
này tạo ra một thế lực cạnh tranh đối với các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém
hiệu quả. Trong một giới hạn nào đó, dòng di chuyển này là nguyên nhân

khả năng kiểm soát của các cổ phần còn biểu hiện ở tình trạng tội phạm
xuyên quốc gia, việc truyền bá nền văn hoá phi nhân bản...
4
Toàn cầu hoá là con dao hai lỡi, nhng là xu thế tất yếu khách quan mà
bất kỳ nền kinh tế nào cũng không thể đứng ngoài cuộc. Vì vậy việc sử dụng
nó nh thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là cả một nghệ thuật tinh xảo.
2. Những đặc trng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chúng ta biết rằng bằng CNTB đã tạo ra sự phát triển của sản xuất mà
cha nền văn minh nào trớc đó đạt đợc. Cùng với sự phát triển của CNTB, các
cuộc chiến tranh giành giật thị trờng cũng không ngừng bùng nổ. Chính qua
các cuộc chiến tranh này các quốc gia t bản Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp
và đặc biệt là Anh từ thế kỷ XVIII đã triển khai một sức mạnh kinh tế, hàng
hải quân sự bao chùm thế giới nh vậy có thể nói thời đại quốc tế hóa dù mở
ra và đợc triển khai trong vũ lực, bóc lột đối với các vùng thuộc địa.
Vào thế kỷ thứ XI đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế gần
nh toàn bộ thế giới cho đến thế kỷ XX nớc Anh kiểm soát các đờng giao
thông hàng hải quốc tế và khống chế nhiều vùng thuộc địa với 1/5 diện tích
trái đất, 428 triệu dân. Sự hội nhập của các thuộc địa vào thị trờng thế giới
đã đa đến sự biến động luồng di dân, thúc đẩy gia tăng dân số và giao lu kinh
tế. Hoạt động thơng mại phát triển mạnh mẽ, mậu dịch giữa các nớc mà trung
tâm đặt tại Luân Đôn đã trở thành một hệ thống thống nhất sau khi các quốc
gia Châu Âu thừa nhận chế độ bản vị vàng.
Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay quá trình quốc tế hóa đã trải qua ba
thời kỳ hay ba làn sóng.
Làn sóng đầu tiên diễn ra vào khoảng những 50 năm trớc chiến tranh.
Trong thời kỳ này sự trao đổi quốc tế và liên lục địa đã phát triển nhanh hơn
cả sự sản xuất trên toàn thế giới. Những dòng tài chính tăng lên nhanh hơn
nhiều trên quy thế giới. So với sự tăng trởng của việc trao đổi và sản xuất trên
toàn thế giới.
Làn sóng thứ hai của quốc tế hóa diễn ra vào những năm 50, 60, 70

Nguồn: World Economic Outlook
Thứ hai trong làn sóng thứ ba có sự gia tăng mạnh mẽ quá trình tự do
hóa, toàn cầu hóa thị trờng tài chính.
Tự do hóa thị trờng tài chính là một quá trình nhng không phải quá
trình phát triển theo đờng thẳng mà là quá trình có những đợt phát triển tăng
vọt và những bớc thang lùi. Sự quốc tế hóa hay hội nhập thị trờng tài chính
phát triển nổi bật từ cuối thế kỷ XIX khoảng từ năm 1980 đến năm 1914. Sau
đó có giai đoạn nhảy vọt chính, đặc biệt vào thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh
thế giới.
Thứ ba cùng với sự gia tăng toàn cầu hóa thị trờng tài chính là việc tập
trung ngày càng lớn nguồn vốn vào các Công ty hàng đầu thông qua làn sóng
sát nhập với qui mô lớn và cờng độ cao cha từng có.
Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia là nguyên nhân
đẩy mạnh xu hớng hội nhập quốc tế nh trên. Đồng thời sự gia tăng, tập trung
mạnh tài chính ngày càng lớn vào các Công ty đầu sỏ trong mọi lĩnh vực là
một điểm đáng chú ý của làn sóng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Các Công ty trong nền kinh tế thị trờng phát triển gắn liền với quá
trình tích tụ và tập trung t bản. Trong những làn sóng trớc đây của quốc tế
hóa không phải không có sự gia tăng tích tụ và tập trung t bản. Song từ những
năm 80 trở lại đây, nhất là những năm 90 quá trình diễn ra khá đặc trng,
nhiều chuyên gia kinh tế xem nh là những cơn sốt sát nhập hay hội chứng sát
nhập.
Thứ t là thị trờng lao động quốc tế đợc mở rộng do nhiều nớc chuyển
sang xây dựng nền kinh tế thị trờng, thực hiện mở cửa kêu gọi đầu t nớc
ngoài đã mở rộng dung lợng thị trờng lao động quốc tế.
Trong xu thế hội nhập kinh tế trớc đây thờng gắn liền với dòng di c lớn
của đội quân lao động. Chẳng hạn vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có
sự di c khá cao về lao động trong nền kinh tế thế giới. Tính ra có khoảng 40
triệu ngời Châu Âu chuyển tới Bắc Mỹ. Hàng triệu ngời từ các vùng ôn hòa
tới Nam bán cầu. Với làn sóng thứ ba này kinh tế thế toàn cầu ngày càng trở

Với cơ chế thị trờng thống nhất các quốc gia tham gia vào phân công lao
động quốc tế làm cho các nền kinh tế có sự gắn kết với nhau. Mỗi nền kinh tế
là một bộ phận của chính thể toàn cầu. Chỉ có hội nhập mới là cách thức để
phát huy những thế mạnh những lợithês so sánh trong phân công lao động
quốc tế. Bổ sung những điểm yếu của các nền kinh tế có thể.
Nh vậy vấn đề còn lại chỉ là ở chỗ xác định mức độ tiến trình hội nhập
và tự do hóa nh thế nào cho phù hợp với trình độ nền kinh tế. Đây là điều cần
tính toán, cần nhắc với mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
3. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan nhng đang chịu tác
động lớn từ Mỹ. Và một số nớc TB phát triển. Hiển nhiên là quá trình toàn
cầu hóa gắn liền với sự phát triển của CNTB. CNTB lợi dụng những thành tựu
khoa học - kỹ thuật tạo ra sự phát triển sản xuất mạnh mẽ. Và chínhtrong sự
phát triển sản xuất với mục tiêu lợi nhuận các tổ chức độc quyền cạnh tranh
với nhau gay gắt. Kết quả là hình thành những liên manh độc quyền không
chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế. Chúng cấu kết với
nhau chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế. Nh vậy khó có thể thay thế ngay
thời kỳ đầu quá trình quốc tế hóa đã chịu sự chi phối của CNTB.
7
Chơng II. tiến trình thực trạng hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Tiến trình hội nhập trong thời gian vừa qua của Việt Nam
Nghiên cứu vấn đề này ta mới nhận thấy rằng: chính sách mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển đất nớc không phải là một điều hoàn toàn
mới mẻ đối với Đảng và Nhà nớc ta. Nó chính là sự kế thừa, phát triển và vận
động sáng tạo và từng hoàn cảnh, từng giai đoạn của đất nớc những luận
điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ khi nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà vừa mới ra đời. Trong bài trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngày
23 tháng 10 nă, 1945, Ngời đã nói: "Chúng ta hoan nghênh những ngời Pháp
muốn đem t bản xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu cha có ai khai
thác.... Chúng ta sẽ mời những nàh chuyên môn Pháp, cũng nh Mỹ, Nga hay

Đảng (12 - 1986), trong khi quyết định chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa, thì cũng đồng thời chủ trơng: Việt Nam phải tham gia ngày
8
càng rộng rãi vào sự phân công lao động quốc tế, tích cực phát triển quan hệ
kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nớc, các tổ chức quốc tế và t nhân nớc
ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
Tuy nhiên trong tình hình cuộc chiến tranh lạnh lúc đó tiếp diễn, Mỹ
vẫn ngoan cố kéo dàu việc bao vây, cấm vận chống lại nớc ta thì việc thực
hiện chính sách mở cửa và hội nhậ kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm
tiếp theo đó chủ yếu nghiêng về một phía - Liên Xô và các nớc chủ nghĩa xã
hội trong Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEU).
Phải trải qua gần 5 năm đổi mới, nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa ở nớc ta bắt đầu vận hành có kết quả, đồng thời đứng trớc thực
tế của các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ, Liên Xô cũng đang trợt
dài tới bờ vực của sự tan rã, đại hội VII của Đảng (6 - 1991) mới đề ra các
luận điểm có ý nghĩa phơng châm chỉ đạo, tổng quát cho việc thị trờng chính
sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế rộng rãi ở nớc ta. "Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình
độc lập và phát triển"; "Đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ kinh tế với mọi
quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
bình đẳng và cùng có lợi".
Đại hội Đảng lần thứ VIII ( 6- 1996) tiếp tục cụ thể hoá các luận điểm
trên và quyết định "đẩy nhanh quá trình hội nhậ kinh tế khu vực và thế giới"
Nghị quyết hội nghị Trung ơng lần thứ IV khoá VIII (12 - 1997) cũng đã đa
ra nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta.
Một là, trên vấn đề phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính
sách thu hút nguồn lực bên ngoài.
Hai là, tiến hành khẩn trơng, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Th-
ơng mại Việt - Mỹ, gia nhập APEC và WTO.

Tháng 3/1996 Việt Nam tham gia với t cách thành viên sáng lập diễn
đàn hợp tác kinh tế á - Âu (ASEM).
Tháng 11/1998, Hiệp định Thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã đợc ký
kết và sau bao nhiêu nỗ lực, Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày
10/12/2001 mà không kèm theo cái gọi là Đạo luật nhân quyền nghị viện và
tổng thống Mỹ đa ra. Đây là bớc tiến thuận lợi trong quá trình gia nhập WTO
của nớc ta. Mà trớc đó, cuối năm 1994, Nhà nớc ta đã gửi đơn xin gia nhập
vào tổ chức này, hiện đang trong quá trình đàm phán để đợc kết nạp.
Tháng 9 /2001, tại Hà Nội đã diễn ra hội nghị Bộ trởng kinh tế các nớc
á - Âu lần thứ 3 (EMM - 3) và Hội nghị Bộ trởng kinh tế ASEAN lần thứ 33
và điều phối viện Châu á của EMM - 3 và đã hoàn thành một cách tốt đẹp
bạn bè đã biết đến một Việt Nam đang cố gắng bứt lên, một Việt Nam có
tiềm năng và nội lực dồi dào, đón nhận đầu t của các nớc trong khu vực và
quốc tế, một Việt Nam sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Thực trạng hội nhập kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Cho đến thời điểm hiện nay thì không thể nói rằng Việt Nam mới bắt
đầu hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các
hình thức hội nhập, đặc biệt là ba hình thức cơ bản đã trình bày ở đây chỉ có
thể xem nh là một lát cắt ngang thực trạng quan hệ Việt Nam với các tổ chức
các nớc mà có tác động lớn tới nền kinh tế nớc ta.
* Việt Nam trong lộ trình AFTA.
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đợc ký hiệp định thành lập
năm 1992 giữa các nớc ASEAN nhằm tạo ra bớc ngoặt phát triển kinh tế của
các nớc 6 thành viên. Mục tiêu của AFTA là giảm dẫn thuế quan hầu hết các
mặt hàng, trớc hết là giảm dần hàng công nghiệp chế biến.
Theo sự điều chỉnh đợc cam kết gần đây nhất, Việt Nam sẽ thực hiện
đầy đủ các quy định AFTA vào năm 2006, trong khi đối với các thành viên
khác, thời hạn đó là 2003. Ví dụ, đối với danh mục hàng hoá cắt giảm bình
thờng thì: các loại sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống dới 20%
vào ngày 01/11/.2001 (nớc khác là 1998) và sau đó xuống dới 5% vào ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status