LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, hàng loạt các vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường được phát hiện với mức độ nghiêm trọng ở nhiều tỉnh, thành khác nhau
trong cả nước, thể hiện tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp. Ngày càng có nhiều cá nhân, doanh
nghiệp vi phạm vấn đề về vệ môi trường, làm môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Để bảo vệ sức khỏe của chính chúng ta và bảo vệ môi trường sống đang bị đe
dọa, đầu độc bởi những “cá nhân, doanh nghiệp đen”, cả xã hội phải vào cuộc. “Bồi
thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường” là một trong những công cụ quan
trọng, góp phần hạn chế tình trạng trên.
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được pháp luật ghi
nhận lần đầu tiên tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 1993, theo đó “tổ
chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt
hại theo quy định của pháp luật”. Đến khi Luật BVMT (2005) được ban hành, vấn
đề này đã được đề cập một cách rõ ràng hơn. Bộ luật Dân sự(BLDS) nước ta cũng
đã đưa ra quy định về vấn đề này tại Điều 628 BLDS năm 1998; Điều 624 BLDS
sửa đổi năm 2005. Để có thể hiểu rõ và áp dụng được trách nhiệm này một cách đầy
đủ trên thực tế, em xin được trình bày về “Một số vấn đề về bồi thường thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trường”
NỘI DUNG
I.Một số lý luận chung:
1. Lý luận về thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra.
1.1.Thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra.
Theo quy định tại Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường: “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh
con người , có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người
và thiên nhiên. Bảo vệ môi trường trong Luật này là những hoạt động giữu cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn
chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi
trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên”.
hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu
ích của môi trường gây ra .Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể
hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị
2
mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường…
Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được
xem là thiệt hại gián tiếp (còn gọi là thiệt hại phái sinh hay thiệt hại thứ sinh) - thiệt
hại chỉ xảy ra khi đã có loại thiệt hại thứ nhất. Tuy nhiên, cần lưu ý là giữa thiệt hại
đối với môi trường tự nhiên và thiệt hại đối với tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân không phải luôn luôn và hoàn toàn tách biệt. Trong một số trường
hợp thiệt hại về môi trường tự nhiên tại một khu vực nhất định cũng đồng thời là
thiệt hại về tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tại khu vực đó.
Ví dụ, sự suy giảm nguồn lợi thủy sinh tại một vùng biển bị ô nhiễm cũng
đồng thời là sự giảm sút về thu nhập của ngư dân ở khu vực đó. Điều này thiết nghĩ
cần được lưu ý để tránh sự trùng lặp khi xác định các loại thiệt hại cụ thể do thiệt
hại về ô nhiễm môi trường gây ra.
1.2.Nguyên nhân gây thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường.
Nguyên nhân gây thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường chính là những hành
vi làm ô nhiễm môi trường, được hiểu là những hành vi tác động đến các yếu tố của
môi trường và gây ô nhiễm các các yếu tố đó làm tổn hại đến các yếu tố nguyên
thuỷ của môi trường dẫn đến thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng của người
khác…..Môi trường có thể bị xâm hại từ 2 nhóm nguyên nhân, cụ thể như sau :
• Một là, nguyên nhân khách quan:
Đây có thể hiểu là các sự cố môi trường “tai biến hoặc rủi ro trong quá trình
hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của thiên nhiên gây ô nhiễm
môi trường, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng” (Khoản 8 Điều 3,
Luật ô nhiễm môi trường).
trường thì phải bồi thường thiệt hại. Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi có
lỗi hoặc không có lỗi. Theo quy định tại Điều 624 BLDS, người gây ô nhiễm môi
trường cho dù có lỗi hay không có lỗi đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2.Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại(TNBTTH) là một loại trách nhiệm Dân
sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho
người khác phải bồi thường những tổn thất do mình gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách
nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định
4
ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải
bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ
cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có
hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác.
TNBTTH do ô nhiễm môi trường cũng là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng
tuy nhiên không thể dựa vào khái niệm trên để đưa ra một khái niệm tương tự đối
với TNBTTH do ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ, thiệt hại do ô nhiễm môi trường như
nguyên nhân phân tích ở trên có thể là do hành vi gây ô nhiễm môi trường hoặc là
do sự cố môi trường. Như vậy, nên hiểu một cách toàn diện rằng TNBTTH do ô
nhiễm môi trường phát sinh khi có hành vi làm tổn thương môi trường, gây thiệt hại
cho nhà nước và cho người dân.
Thiệt hại do ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt nam chỉ
được xem xét dưới góc độ thiệt hại về vật chất. Do vậy TNBTTH do ô nhiễm, suy
thoái môi trường cũng chỉ là TNBTTH về vật chất. Theo điều 307, bộ luật dân sự
sản của mình. Các tổ chức có thể là pháp nhân (chẳng hạn, doanh nghiệp Nhà nước,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, các viện nghiên cứu…)
hoặc tổ chức khác không phải là pháp nhân (hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp
tư nhân, công ty hợp danh…)
Đối với cá nhân: những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủ
thì tự mình phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ
18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản
để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của họ. Người
dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường thiệt hại toàn
bộ. Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng thì lấy
tài sản riêng đó để bồi thường phần còn thiếu cho người bị hại.Người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có cá nhân, tổ chức giám
hộ thì cá nhân đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Nếu
người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người
giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nhưng người giám hộ chứng minh
6
được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để
bồi thường.
Trong thực tế đời sống, các chủ thể gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các
doanh nghiệp. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình do không có thiết bị
xử lý chất thải, hoặc không tuân thủ các quy định khác về bảo vệ môi trường… các
cơ sở sản xuất, kinh doanh đã làm suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố
môi trường gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác.
Như vậy, chủ thể “tiềm tàng” chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết
là các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
2.Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô mhiễm
môi trường.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thuộc loại trách
do bị ô nhiễm mà phải đóng cửa dẫn đến bị thất thu và nguồn lợi nhuận bị suy
giảm…
- Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu
chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút ; thu nhập
thực tế của người bị thiệt hại và người chăm sóc người bị thiệt hại bị mất , bị giảm
sút… Thí dụ: khi môi trường sống bị ô nhiễm ( ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô
nhiễm đất…) sức khoẻ con người bị giảm sút, bị mắc các bệnh về đường hô hấp,
đường tiêu hoá… Những người mắc bệnh phải bỏ ra một khoản tiền chi cho việc
khám bệnh, chữa bệnh đồng thời thu nhập của họ bị giảm sút do không tham gia lao
động…
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng,
chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho
những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Thiệt hại do tính mạng bị
xâm hại có thể xảy ra khi có các sự cố môi trường như tràn dầu, nổ xăng dầu, cháy
rừng……
- Thiệt hại đối với môi trường tự nhiên hay thiệt hại đối với các giá trị tinh
thần: nguồn nược bị nhiễm các chất độc hại, số lượng động thực vật suy giảm, diện
tích rừng bị thu hẹp……
- Thiệt hại về kinh tế hay thiệt hại về các lợi ích thương mại như doanh thu,
lợi nhuận của doang nghiệp sụt giảm khi nằm trong vùng ô nhiễm.
8
Thiệt hại xảy ra là điều kiện bắt buộc đầu tiên để xem xét việc có phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Điều này khác với việc xác định trách
nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính có thể không căn cứ vào thiệt hại xảy ra.
Chẳng hạn trong trách nhiệm hình sự, đối với một số tội có cấu thành hình thức thì
không đòi hỏi có hậu quả vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt hậu quả chưa
xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn
nguồn đất, bảo vệ đất; vi phạm các quy định về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên
nhiên…
- Vi phạm các quy định về vệ sinh công cộng như quy định về vận chuyển và
xử lý chất thải, rác thải; quy định về tiếng ồn, độ rung…
- Vi phạm các quy định về bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm; vi
phạm các quy định về phòng, chống sự cố môi trường trường trong tìm kiếm, thăm
dò, khai thác vận chuyển dầu khí; trong thăm dò, khai thác hầm mỏ…
Như vậy, điểm đặc biệt của yếu tố này trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về môi trường là ở chỗ: Hành vi gây thiệt hại xâm hại trực tiếp các yếu tố của môi
trường. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây thiệt hại cho môi trường đều là hành
vi vi phạm pháp luật môi trường. Thiệt hại đối với môi trường có thể là do sự cố và
hành vi bất cẩn trong sử dụng các phương tiện nguy hiểm cao độ và gây ra sự cố
môi trường. Không phải bất cứ hành vi vi phạm pháp luật môi trường nào cũng phát
sinh TNBTTH. Chỉ khi hậu quả của hành vi biểu hiện trên thực tế, gây hại đến các
hệ sinh thái, yếu tố môi trường và các chủ thể khác thì TNBTTH mới phát sinh.
2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường.
Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi
trường được hiều là: thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược
lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy
định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự dưới dạng: "Người nào... xâm phạm... mà gây
thiệt hại... thì phải bồi thường". Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó. Tuy nhiên,
việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó cần phải xem xét, phân tích, đánh giá
tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó
mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách
nhiệm của người gây thiệt hại.
Thiệt hại thực tế xảy ra là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật. Hoặc nói
một cách khác, hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra.
được trên thực tế. nguyên tắc xác định thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng theo
quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại.
11
- Do môi trường bị xâm hại mà ô nhiễm môi trường là nguyên nhân gây ra
những thiệt hại trước mắt và lâu dài cho con người, đời sống và môi trường sống
của muôn loài.
2.4. Lỗi của chủ thể gây thiệt hại.
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình
thức lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới
hai dạng bao gồm: lỗi cố ý và lỗi vô ý(Điều 308, Bộ luật Dân sự).
Hành vi có lỗi, theo quy định tại Điều 308 BLDS thì "Người không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi
có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác”. Khoản 1 Điều 308 nói trên quy định lỗi do hành vi không thực hiện
nghĩa vụ dân sự thì người có hành vi đó bị coi là có lỗi. Theo quy định của khoản 2
Điều 308 BLDS thì nội dung của khoản này có ý nghĩa viện dẫn trực tiếp trong việc
xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Khoản 2 Điều 308 quy định: "Cố ý
gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt
hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn,
nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra"
Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường có thể
được phân tích như sau:
• Lỗi trong ô nhiễm môi trường do hành vi của con người:
- Các tổ chức, cá nhân thải các chất độc hại vào môi trường hoặc cố ý khai
thác quá mức các thành phần của môi trường, vi phạm các quy định của pháp luật
môi trường. Họ nhận thức hành vi của mình sẽ gây thiệt hại tới môi trường, người
khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn để
thiệt hại do các nhà máy công nghiệp đang hoạt động, các lò phản ứng hạt nhân, các
nhà máy điện nguyên tử, kho chưa vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất dễ cháy, chất
phóng xạ… hoặc các sự cố tràn dầu từ các phương tiện giao thông đường thuỷ …
thời gian qua đã làm ô nhiễm môi trường với diện rất rộng, gây nhiều thiệt hại cho
nhân dân , tổ chức khu vực xung quanh.
Như vậy, các yếu tố cấu thành TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường
nói trên là các điều kiện cần và đủ. Tuy nhiên mỗi 1 tình huống thực tế thì sự có mặt
và vai trò từng yếu tố là khác nhau. Vấn đề đặt ra là phải áp dụng một cách linh
hoạt từ lý luận đến thực tiễn.
13
3.Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường:
Vấn đề bảo vệ môi trường là công việc không phải của riêng cơ quan bảo vệ
môi trường và những người thuộc cơ quan bảo vệ môi trường, mà còn là trách
nhiệm của toàn dân và suy rộng ra là trách nhiệm, bổn phận của mọi công dân. Vì
môi trường sống là của mọi người do đó mọi người đều có bổn phận và nghĩa vụ
bảo vệ môi trường sống đó. Vì vậy, hành vi gây ô nhiễm môi trường điều chỉnh
bằng nhiều ngành luật khác nhau: hành chính, hình sự…và dân sự là một trong số
công cụ quan trọng hiện nay.
Trách nhiệm dân sự do làm ô nhiễm môi trường là trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của người gây ô nhiễm môi trường kể cả trường hợp người gây ô nhiễm
môi trường không có lỗi. Quy định tại điều 624 BLDS nhằm điều chỉnh quan hệ xã
hội phát sinh do có việc gây ô nhiễm môi trường.
Người có hành vi xâm phạm môi trường cho dù không có lỗi, có lỗi cố ý hay
vô ý, đều có trách nhiệm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, cụ thể về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại:
Thứ nhất, những chi phí làm trong sạch môi trường như tình trạng trước khi
môi trường chưa bị xâm hại.
Thứ hai, có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm
nhiên, pháp luật hướng dẫn việc xác định thiệt hại về môi trường:
Một là, thành phần môi trường được xác định thiệt hại: Thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên được hiểu là thiệt hại đối với tất cả các yếu tố vật chất tạo thành
môi trường, như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và
các hình thái vật chất khác. Qua khá nhiều cuộc tranh luận khoa học (ở cả cấp quốc
gia và quốc tế), việc xác định thiệt hại đối với môi trường tự nhiên chỉ nên bao gồm
thiệt hại đối với đất, nước, không khí và đa dạng sinh học. …
Hai là, mức độ thiệt hại được xác định. Hiện tại, Luật BVMT (2005)xác định
có 3 mức độ của sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, đó là: có suy
giảm, suy giảm nghiêm trọng, suy giảm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 1 Điều 131
Luật bảo vệ Môi trường).
Ba là, các căn cứ để xác định mức độ thiệt hại. Xác định mức độ thiệt hại môi
trường thông qua việc xác định phạm vi, giới hạn môi trường bị suy giảm chức
năng, tính giảm chức năng, tính hữu ích .
15
Bốn là, các căn cứ để tính toán thiệt hại. Trong số 4 căn cứ để tính toán thiệt
hại thì căn cứ vào chi phí xử lý, cải tạo phục hồi môi trường và chi phí giảm thiểu
hoặc triệt tiêu nguồn gây thiệt hại (điểm b, c khoản 4 Điều 131) được xem là có tính
khả thi trong việc xác định thiệt hại cũng như cho việc áp dụng trách nhiệm bồi
thường.
5.Một số vụ việc thực tế về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường:
Ví dụ 1:
Tình huống:
Ông nguyễn Văn A và ông Lê Đình B là chủ sở hữu 2 cơ sở xà phòng bột thủ
công độc lập tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Trong quá trình sản xuất hệ thống
nước thải có chứa chất tẩy trắng thành phẩm xà phòng đã rò rỉ ra hồ nuôi cá của ông
Chúc Bá Khoan. Tiếp đó ngày 7/6/2007, ba lò gạch của ông Thạch, ông Bình và
ông Kiên cùng được phát hoả và lượng khói từ ba lò gạch toả ra rất lớn và diện tích
trồng lúa trên tiếp tục bị cháy táp cháy hoàn toàn do khói từ 4 lò gạch của các chủ
sở hữư nói trên.
Ông Thuần và ông Khoan đã yêu cầu 3 chủ sở hữư nói trên bồi thường thiệt
hại diện tích trồng lúa của họ bị cháy táp. Diện tích trồng lúa của ông Bình được
xác định là 820m2. Diện tích trồng lúa nhà ông Khoan được xác định là 46m2.
Giải quyết tình huống:
Thiệt hại trên thuộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi
trường, theo quy định tại Điều 624 bộ Luật Dân Sự. Theo điều 624 BLDS quy
định:“cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt
hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường,
kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”. Như vậy việc xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ lò gạch trên đối với người thiệt
hại do là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường. Cụ thể:
Trước hết xác định lò gạch nhà ông Bình đã gây ra thiệt hại diện tích trồng
lúa nhà ông Thuần và ông Khoan là bao nhiêu mét vuông? Sau đó lấy tổng số diện
tích trồng lúa bị thiệt hại trừ đi diện tích lúa bị thiệt hại do khói từ lò gạch nhà ông
Bình gây ra, còn lại bao nhiêu do thì các chủ lò gạch còn lại phải liên đới chịu trách
nhiệm. Phần thiệt hại tương ứng với diện tích lúa mà ông Khoan và ông Thuần bị
gây thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại căn cứ vào diện tích lúa mới được gieo trồng
17
hay tính thời vụ không thể khắc phục được nữa. Nếu diện tích lúa mới gieo trồng thì
ông Thạch, ông Kiên và ông Bình phải liên đới bồi thường những chi phí hợp lý cho
việc gieo trồng lại diện tích lúa đó. Nếu diện tích lúa không thể khắc phục được nữa
do tính chất của thời vụ, thì các ông chủ lò gạch phải lien đới bồi thường sản lượng
thóc thu được trong điều kiện bình thường theo năng suất lúa thu hoạch được trong
vụ gặt. Áp dụng quy định tại điều 616 BLDS về bồi thường thiệt hại do nhiều người
môi trường gây ra: Hiện nay chưa có quy định nào phân định cụ thể: khi nào áp
dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và khi nào áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra dẫn đến có những cách hiểu và áp
dụng không thống nhất trên thực tế. Thực tiễn cho thấy khi xét xử, nhiều trường hợp
cứ thấy thiệt hại có liên quan đến ô nhiễm môi trường là áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, bất kể nguyên nhân gây thiệt hại là
do con người có lỗi hay không có lỗi .
Thứ tư, về thời hiệu khởi kiện: người dân phải đối mặt với vấn đề thời hiệu
là chỉ được khởi kiện trong vòng hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích của mình bị
xâm phạm (Điều 607 BLDS), trong khi đó vấn đề xác định thời hiệu khởi kiện
trong thực tế là phức tạp. Theo pháp luật hiện hành thì ngày mà đối tượng xâm
phạm quyền lợi hợp pháp của mình là ngày xảy ra vi phạm. Các vi phạm về môi
trường và hậu quả của nó thường rất khó phát hiện. Vấn đề là làm sao dễ dàng biết
được ngày xảy ra vi phạm để mà tính thời hiệu, nếu như cơ quan không vào cuộc
điều tra, phát hiện hành vi vi phạm đó? Do vậy, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện về
hành vi xâm hại môi trường phải được quy định riêng, phù hợp với đặc điểm của
thiệt hại do xâm phạm môi trường gây ra, mà không thể áp dụng thời hiệu khởi kiện
như thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung như hiện
nay. Nói cách khác, cần qui định thời hiệu cho những vụ đòi bồi thường thiệt hại về
môi trường là hàng chục năm trở lên, thậm chí là không có thời hiệu.
Thứ năm, về các quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi
trường: các quy định này chỉ mới dừng lại ở quy định chung mang tính nguyên tắc.
Đây sẽ là khó khăn lớn đối với các cơ quan tư pháp khi xem xét, giải quyết các yêu
cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên. Cần đưa ra
các điều luật cụ thể hơn nũa. Mặc dù vậy, các quy định đó bước đầu đã tạo ra cơ sở
pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm dân sự đối với các chủ thể có hành vi làm ô
19
định thiệt hại đối với môi trường và áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về
20
môi trường trong mọi trường hợp đều không phải là mong muốn hàng đầu được áp
dụng trong lĩnh vực dân sự nói chung và môi trường nói riêng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình luật dân sự Việt Nam, trường ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND.
2. Giáo trình luật dân sự 2, TS. Lê Đình Nghị chủ biên
3. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, NXB Thống kê
4. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khoẻ và tính mạng,
TS.Phùng Trung Tập (NXB Hà Nội, 2009)
5. Luận án tiến sĩ, vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
6. wwwtailieu.vn
7. wwwphapluat.com
21
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………… ……………1
NỘI DUNG………………..………………………………………………………...1
I.Lý luận chung về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường……………….1
1. Lý luận về thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra……………………………….1
1.1.Quan niệm về thiệt hại do ô nhiễm môi trường…………………………………1
1.2.Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường………………………………………….2
2. Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra…......2
II. Một số vấn đề về thiệt hại do làm ô nhiếm môi trường…………………….…....6
1.Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi