Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa – thực tiễn, thực hiện tại công ty TNHH xây dựng DVTM sao phương đông - Pdf 62

MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................... i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................iii
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1, Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu......................................................................1
2, Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan....................................................2
3, Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu..................................................................2
4, Đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu..............................................................3
5, Phương pháp nghiên cứu........................................................................................3
6, Kết cấu khóa luận tốt nghiệp..................................................................................4
CHƯƠNG I. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA................5
1.1. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và bồi thường thiệt hại
trong HĐMBHH..........................................................................................................5
1.1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa..............................................................................5
1.1.2. Các chế tài trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa...................................9
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng mua bán hàng hóa...........................................................................16
1.2.1. Cơ sở ban hành.................................................................................................16
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
mua bán hàng hóa......................................................................................................16
1.3. Nguyên tắc cơ bản điều chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại..............................25
1.3.1. Nguyên tắc tự do thỏa thuận............................................................................25
1.3.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật.............................................................25
1.3.3. Nguyên tắc bảo vệ lợi ích hai bên.....................................................................25
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY
TNHH XÂY DỰNG DVTM SAO PHƯƠNG ĐÔNG..............................................26
2.1. Tổng quan tình hình thực hiện và các nhân tố ảnh hưởng đến chế tài bồi
thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa...............................................26
2.1.1. Tổng quan tình hình thực hiện bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán

3.1.2. Hoàn thiện pháp luật theo hướng pháp luật quốc tế về chế tài bồi thường
thiệt hại....................................................................................................................... 41
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật theo hướng ban hành một nghị định hướng dẫn cụ thể
việc thực hiện chế tài bồi thường thiệt hại.................................................................41
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng mua bán hàng hóa...........................................................................42
3.2.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề xác định mức bồi thường
thiệt hại....................................................................................................................... 42
3.1.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề xác định nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng.....................................................................................................43
3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh nghĩa vụ hạn chế tổn thất......43
3.3. Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu..........................................................44
KẾT LUẬN................................................................................................................46
2


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TNHH
DVTM
CISG
BLDS

HĐMBHH

: Trách nhiệm hữu hạn

trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng
cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thông pháp luật về mua
bán hàng hóa và cho các doanh nghiệp Việt Nam một khung pháp lý hiện đại, công
bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Bên cạnh đó, trên thực tế tại các doanh nghiệp nói chung và Công ty TNHH Xây
dựng DVTM Sao Phương Đông nói riêng, thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường
thiệt hại vẫn còn khá nhiều khó khăn, vướng mắc nhất định. Tình trạng vi phạm pháp
luật về vấn đề bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn xảy ra
thường xuyên. Các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và về bồi
thường thiệt hại nói riêng là một trong những dạng tranh chấp xảy ra nhiều trên thực
tế. Trước tình hình này, việc nghiên cứu pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng mua bán hàng hóa và thực tế triển khai tại Công ty TNHH Xây dựng DVTM Sao
Phương Đông là một vấn đề cấp thiết.
Để góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua
bán hàng hóa và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế, em đã quyết định
lựa chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa –


Thực tiễn, thực hiện tại Công ty TNHH Xây dựng DVTM Sao Phương Đông” làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Từ những phân tích ở trên cho thấy việc nghiên cứu
đề tài này sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2, Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa là vấn đề nghiên cứu có
tính thực tiễn cao, thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu. Có
thể kể đến một số công trình khoa học nghiên cứu về vẫn đề bồi thường thiệt hại như:
Luận văn thạc sĩ luật kinh tế của Nguyễn Thị Bích Vân, Viện đại học mở Hà Nội
với đề tài nghiên cứu “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng” năm
2015. Luận văn thạc sĩ Luật học của Đinh Hồng Ngân, Đại học Luật với đề tài nghiên
cứu “Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng” được viết năm 2006.
Luận văn thạc sĩ luật học của Ngô Văn Hiệp, trường Đại học Quốc gia khoa Luật

hàng hóa tại Công ty TNHH Xây dựng DVTM Sao Phương Đông.
- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng mua bán hàng hóa.
4, Đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu.
a, Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua
bán hàng hóa cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng mua bán hàng hóa tại Công ty TNHH Xây dựng DVTM Sao Phương Đông.
b, Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các cơ sở lý luận, phân tích đánh giá các quy
định của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng pháp luật, đưa ra các giải pháp hoàn
thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
c, Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian nghiên cứu: trong Công ty TNHH Xây dựng DVTM Sao
Phương Đông.
+ Về thời gian nghiên cứu: Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong Hợp đồng mua
bán hàng hóa và thực tiễn, thực hiện tại Công ty TNHH Xây dựng DVTM Sao Phương
Đông giai đoạn 2016-2019.
5, Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra em chủ yếu sử dụng phép liệt kê, so
sánh và phân tích làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Ngoài ra để thực
hiện nhiệm vụ nghiên cứu, em đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu với
nhau, cụ thể:
Phương pháp liệt kê, tổng hợp: được sử dụng để tổng hợp quy định của pháp luật
liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Phương
pháp này giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát về hệ thống pháp luật điều chỉnh
vấn đề nghiên cứu để có cái nhìn tổng quát về hệ thống pháp luật điều chỉnh vấn đề
nghiên cứu để có được nhận xét khách quan.
Phương pháp so sánh, phân tích: được sử dụng để phân tích lý giải các quy định
của pháp luật, so sánh, đối chiếu các quy định giữa các văn bản quy phạm khác nhau
để rút ra những nhận xét, giúp cho người đọc hiểu sâu sắc hơn về các quy định của

nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái
niệm hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự để xác định bản chất của hợp
đồng mua bán hàng hóa.
Theo Điều 430 BLDS 2014 “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua
có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”. Hàng hóa được hiểu là động sản, kể
cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như vậy, hàng hóa
thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng
hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Điểm phân
biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản
khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời.
Thứ nhất, về đối tượng hàng hóa:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Tuy nhiên không thể
hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hóa là sản phẩm lao động của con người được tạo
ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người hay chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên
liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị
trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán. Khoản 2 Điều 3
Luật thương mại 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm:
a, Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b, Những vật gắn liền với đất đai.”
Như vậy, hàng hoá trong hợp đồng mua bán hàng hóa là đối tượng mua bán có
thể là hàng hoá hiện đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hoá có thể là động
sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại và phải loại trừ một số hàng
hoá đặc biệt chịu sự điều chỉnh riêng như cổ phiếu, trái phiếu…
-Hợp đồng mua bán tài sản: Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 thì:


“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể
là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi
bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại
hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ


của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải
thanh toán cho bên bán.
Mặc dù hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất pháp lý chung của một hợp
đồng thì cũng đồng thời có những điểm khác biệt đặc trưng so với các hợp đồng khác,
thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa: Chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, các chủ thể tham gia hợp đồng chủ yếu là các thương nhân - tham
gia hợp đồng để sinh lợi. Đây là điểm khác biệt so với hợp đồng mua bán tài sản trong
dân sự. Theo Điều 6 Luật thương mại 2005 thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và có đăng kí kinh doanh. Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp
tác vì tuy được thừa nhận là chủ thể của luật dân sự, có quyền hoạt động kinh doanh
dưới hình thức hộ kinh doanh, cá thể song hộ gia đình, tổ hợp tác không phải tổ chức
kinh tế, cũng chẳng phải là cá nhân. Thương nhân gồm có thương nhân Việt Nam và
thương nhân nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác. Trong hợp
đồng mua bán hàng hóa, các bên chủ thể của hợp đồng phải là thương nhân hoặc trong
một số trường hợp chỉ cần bên bán là thương nhân (vì bên bán thực hiện hoạt động bán
hàng mang tính chất nghề nghiệp). Những cá nhân có hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên không cần phải đăng kí kinh doanh vẫn có thể giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa trong thương mại với tư cách là bên mua hàng. Còn trong hợp
đồng mua bán tài sản thì chủ thể của loại hợp đồng này rộng hơn chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa khi mà mọi tổ chức, cá nhân đầy đủ năng lực, có nhu cầu mua bán
tài sản đều có thể trở thành chủ thể cảu hợp đồng mua bán tài sản.
Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa: Đối tượng của hợp đồng

của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có
thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luật Thương mại 2005 không quy định
hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắt buộc nào. Tuy nhiên, ta có thể
thấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa
thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm
nhận giao hàng. Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi
những điều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy
định của pháp luật, tức là những điều khoản pháp luật có quy định nhưng các bên
không thỏa thuận trong hợp đồng.
Thứ năm, về mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa: Mục đích mà các chủ
thể tham gia hoạt động mua bán hàng hóa hướng tới là để sinh lợi: lợi nhuận mà các
bên có thể đạt được không chỉ về vật chất, tài sản mà còn bao gồm cả những lợi ích phi
vật chất như uy tín, thương hiệu doanh nghiệp hay niềm tin của khách hàng. Mục đích
của các bên tham gia hoạt động thương mại là kinh doanh, lợi nhuận. Về nguyên tắc,
mục đích lợi nhuận mà cả hai bên hướng tới hoặc ít nhất một bên phải có mục đích lợi
nhuận, trong hợp đồng luật lựa chọn là Luật Thương mại.
1.1.2. Các chế tài trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.2.1. Khái niệm


Chế tài trong hoạt động mua bán hàng hóa là sự gánh chịu hậu quả bất lợi của
bên vi phạm hợp đồng trong mua bán hàng hóa và được hiểu theo nhiều phạm vi khác
nhau. Chế tài là một đặc trưng cơ bản của pháp luật. Nó là một phương tiện để thi hành
quyền hoặc ngăn cản việc vi phạm quyền hay khắc phục hậu quả của sự vi phạm
quyền, cụ thể:
Theo nghĩa rộng, chế tài trong mua bán hàng hóa được hiểu là hình thức chế tài
được cơ quan nhà nước hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm áp dụng đối với mọi tổ chức
cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong thương mại. Khi có hành vi vi phạm pháp
luật trong mua bán hàng hóa thì cơ quan nhà nước hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm sẽ
có quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm. Các đặc trưng cơ

doanh trái phép.
Về hình thức của chế tài: tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm
pháp luật trong mua bán hàng hóa mà có thể áp dụng các hình thức chế tài khác nhau
bao gồm: các chế tài hành chính, chế tài hình sự và các chế tài khác mang tính chất
dân sự hoặc hợp đồng.
Về mục đích áp dụng chế tài thương mại: căn cứ vào hình thức chế tài được áp
dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong mua bán hàng hóa, việc
áp dụng các chế tài nhằm đảm bảo các mục đích khác nhau:
- Thứ nhất, đối với hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lí hoạt
động mua bán hàng hóa của nhà nước thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng
chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật,
bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và của chính các chủ thể tham gia vào quan hệ
này cũng như các chủ thể khác trong xã hội.
- Thứ hai, đối với các hành vi vi phạm quy định về hợp đồng, chế tài nhằm đảm bảo
kỷ luật hợp đồng, ngăn ngừa mọi hành vi vi phạm hợp đồng và trừng phạt bên vi phạm
một cách thích đáng, đảm bởi quyền lợi cho các bên tham gia trong quan hệ hợp đồng.
Tóm lại, theo cách hiểu này, chỉ cần chủ thể tham gia pháp luật thương mại có
hành vi vi phạm pháp luật thương mại đều đã hình thành căn cứ để áp dụng chế tài.
Tuy nhiên nhược điểm của cách hiểu này là khi áp dụng chế tài, việc phân tích và tìm
hiểu các hành vi vi phạm gặp rất nhiều khó khăn khi khó tìm quy phạm điều chỉnh để
áp dụng các hình thức chế tài cụ thể. Nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật quy định rất
rộng, rải rác trên nhiều văn bản quy phạm khác nhau.
Tiếp cận khái niệm chế tài theo nghĩa hẹp thì đó là một bộ phận của quy phạm
pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho
pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài
của quy phạm pháp luật sẽ được áp dụng đối với chủ thể nào vi phạm pháp luật, không
thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm
pháp luật.
Trong quan hệ giữa các thương nhân, pháp luật thương mại ra đời là cần thiết để
duy trì và đảm bảo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Khi một

cầu áp dụng theo quy định của pháp luật. Căn cứ pháp lý để áp dụng chế tài hợp đồng
được quy định từ Điều 292 đến Điều 316 Luật Thương mại 2005. Theo quy định của
pháp luật hiện hành các chế tài trong thương mại bao gồm:
Điều 292 Luật Thương mại 2005: Các loại chế tài trong thương mại:
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng
2. Phạt vi phạm
3. Buộc bồi thường thiệt hại
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng
6. Hủy bỏ hợp đồng
Chế tài thứ nhất, buộc thực hiện đúng hợp đồng: là hình thức chế tài mà theo đó,
bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của


bên bị vi phạm. Khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005 quy định: “Buộc thực hiện
đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng
hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu
chi phí phát sinh.” Mục đích của việc áp dụng chế tài này nhằm đảm bảo thực hiện
trên thực tế hợp đồng đã giao kết mà một bên vì lợi ích của mình đã trốn tránh không
thực hiện hợp đồng gây ra tổn thất/thiệt hại cho bên còn lại.
Tuy nhiên, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng còn tồn tại một số hạn chế nhất
định, cụ thể: một phần trong định nghĩa về hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng
thể hiện tính không khả thi, cụ thể: việc thực hiện đúng hợp đồng là khó có thể thực
hiện đặc biệt là trường hợp vi phạm hợp đồng về mặt thời hạn. Ngoài ra, Khoản 2 Điều
299 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm không thực hiện
chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên
bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình”.
Quy định như vậy đã làm cho chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trở thành vô giá
trị, bởi vì ngay cả trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài này thì cũng không
chịu bất kì trách nhiệm bổ sung nào mà chỉ chịu các hình thức chế tài như phạt hợp

một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ kinh doanh. Điều 308 Luật Thương mại
2005 quy định: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật
này, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ
trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau:
1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng
thực hiện hợp đồng.
2. Một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng”
Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện, hợp đồng vẫn có hiệu lực. Bên bị vi phạm
có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại đối với những tổn thất đã xảy ra.
Như vậy, về mặt bản chất, việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng không ảnh hưởng đến
hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng đó sẽ tiếp tục được thực hiện trong tương lai khi
điều kiện áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng chấm dứt. Vấn đề đặt ra ở đây
là sau khi áp dụng biện pháp này, thời điểm nào sẽ được coi là chấm dứt việc tạm
ngừng thực hiện hợp đồng? Căn cứ nào để một bên yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp
đồng đã bị tạm ngừng thực hiện? Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng bị tạm ngừng thực
hiện do bên tạm ngừng tự động thực hiện hay theo yêu cầu của bên có hành vi vi phạm
hợp đồng? Tất cả những yếu tố này hiện nay đều chưa được tính đến trong Luật
Thương mại, gây khó khăn cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Chế tài thứ 5, đình chỉ thực hiện hợp đồng: Đây là hình thức chế tài mà theo đó
một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng kinh doanh. Điều 310 Luật
Thương mại 2005 quy định: “trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều
294 của Luật này, đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp
đồng;
2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”
1.1.2.3. Chế tài bồi thường thiệt hại
a, Khái niệm bồi thường thiệt hại:



kết giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
- Chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài mang tính chất tài sản. Khi thương nhân
thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng trong mua bán hàng hóa, có thể phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi mang tính vật chất trong đó có hình thức chế tài bồi thường thiệt
hại. Bản chất của các giao dịch dân sự và thương mại là các quan hệ về tài sản, có tính
chất đền bù ngang giá, trong đó hợp đồng trong mua bán hàng hóa được các bên kí kết


chủ yếu là những hợp đồng mang tính chất đền bù ngang giá, phản ánh mối quan hệ
mang tính chất hàng hóa tiền tệ, nên việc áp dụng các chế tài mang tính tài sản là tất
yếu, trừ khi chính bản thân người bị vi phạm trong cùng quan hệ hợp đồng không
muốn áp dụng chế tài hợp đồng đối với bên vi phạm. Hậu quả bất lợi mang tính chất
tài sản thể hiện ở việc bên có hành vi vi phạm phải nộp một khoản tiền phạt hợp
đồng, nộp tiền bồi thường hợp đồng hay những chi phí cần thiết để thực hiện đúng
hợp đồng.
- Chủ thể lựa chọn và quyết định hình thức chế tài buộc bồi thường thiệt hại
chính là bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng. Những điều khoản các bên đã cam
kết trong hợp đồng là điều khoản bắt buộc phải được tuân thủ thực hiện, nếu không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo các cam kết được thỏa thuận trong hợp
đồng thì chủ thể đó bị coi là có hành vi vi phạm hợp đồng. Lúc này bên bị vi phạm
có thể áp dụng một hoặc một số chế tài theo cam kết trong hợp đồng hay theo quy
định của pháp luật. Khi bên bị vi phạm áp dụng các chế tài trong thương mại trong
đó có chế tài buộc bồi thường thiệt hại, nhưng bên vi phạm không thừa nhận hành vi
vi phạm hay không tuân thủ các biện pháp chế tài đưa ra thì bên bị vi phạm có thể
làm đơn khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình. Trong khuôn khổ quy định pháp luật, bên bị vi phạm được toàn quyền
quyết định việc yêu cầu bên vi phạm thực hiện một phần hay toàn bộ trách nhiệm tài
sản đối với mình. Giả sử trong hợp đồng thỏa thuận áp dụng đồng thời hai chế tài là
phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm có thể chỉ áp dụng biện pháp
bồi thường thiệt hại mà không áp dụng biệt pháp phạt vi phạm. Do đó cơ quan có

Luật Thương mại 2005 quy định về các hoạt động liên quan tới thương mại đặc
biệt là quy định liên quan đến bồi thường thiệt hại. Trước đó quy định này được quy
định trong Luật thương mại 1997. Hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong những
quy định thiết yếu của bộ luật này. Tại hợp đồng mua bán hàng hóa có các điều khoản
do các bên thỏa thuận trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện không
đúng hoặc thực hiện không đủ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định là hình
thức trách nhiệm chung và được áp dụng rộng rãi, phổ biến trong mọi trường hợp
không thực hiện hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng mà gây ra thiệt hại. Chế tài
bồi thường thiệt hại được quy định tại Chương 7 của Luật này, từ Điều 303 đến Điều
307 có quy định rõ căn cứ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh tổn thất và các
điều khoản liên quan khác.
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng mua bán hàng hóa.
1.2.2.1. Căn cứ bồi thường thiệt hại
Điều 303 Luật thương mại 2005 có quy định rất rõ về căn cứ phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các
yếu tố sau đây: có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm
hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”.
Trong quan hệ hợp đồng, hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên làm
trái với nội dung đã thỏa thuận. Đó có thể là hành vi không thực hiện, thực hiện không
đúng hoặc thực hiện không đủ một phần hay toàn bộ những cam kết phát sinh trong
hợp đồng. Trong đó các bên không chỉ thực hiện mà phải thực hiện các nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật.
- Có hành vi vi phạm hợp đồng


Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý cần thiết để áp dụng đối với tất cả
các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng. Theo khoản 12 Điều 3 Luật thương mại
2005, “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định

nhân phải có trước và chính nguyên nhân đó dẫn đến kết quả. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương
mại nói riêng đòi hỏi giữa hành vi vi phạm và thiệt hại phải có mối quan hệ nhân quả.


Hành vi vi phạm là nguyên nhân và thiệt hại là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm
đó. Nếu không có hành vi vi phạm thì không thể làm phát sinh hậu quả.
1.2.2.2. Phạm vi xác định thiệt hại được đền bù
Thiệt hại yêu cầu bồi thường do vi phạm gây ra được coi là một khoản đền bù để
bù đắp những tổn thất, mất mát mà người bị vi phạm phải chịu. Quy định tại Điều 302
Luật thương mại 2005 có quy định rõ “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn
thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi
trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Như
vậy, tùy thuộc vào mức thiệt hại xảy ra, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên mà
bên vi phạm sẽ phải bồi thường cho bên bị vi phạm một khoản tiền tương ứng với
những tổn thất do mình gây ra cho bên bị vi phạm.
Công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành
Mục II Chương 5 cho chế tài bồi thường thiệt hại. Trong đó Điều 74 Công ước viên
1980: “tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản
tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự
vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi
bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp
đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà
họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết.” Khi đối chiếu với quy định trong Bộ nguyên tắc
Unidroit Điều 7.4.2 quy định nguyên tắc bồi thường toàn bộ bao gồm cả những thiệt
hại vật chất (tổn thất và lợi ích bị mất đi) và cả những thiệt hại phi tiền tệ bắt nguồn
đặc biệt từ nỗi đau thể chất hoặc tinh thần trong đó có thiệt hại do mất uy tín (loại thiệt
hại mà bên bị thiệt hại đòi bồi thường trong một số tranh chấp điển hình), Công ước
viên 1980 không có quy định cụ thể về loại thiệt hại này.
1.2.2.3. Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại và hạn chế thiệt hại

Theo quy định của pháp luật, bên bị thiệt hại không chỉ có nghĩa vụ chứng minh
tổn thất, mức độ của tổn thất và khoản lợi trực tiếp đáng nhẽ được hưởng nếu không có
hành vi vi phạm mà còn có nghĩa vụ hạn chế tổn thất. Điều 305 Luật thương mại 2005
quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất như sau: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải
áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi
thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu
cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng nhẽ có thể hạn chế
được”. Quy định trên là phù hợp với Điều 77 Công ước viên 1980 “Bên nào viện dẫn
sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào
các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp
đồng gây ra. Nếu họ không làm điều đó, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm
bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn
chế được.” hay quy định tại Khoản 1 Điều 7.4.8 Bộ nguyên tắc Unidroit “Bên có
nghĩa vụ không chịu trách nhiệm đối với thiệt hại mà bên có quyền lẽ ra có thể hạn
chế được bằng những biện pháp hợp lý.”
Quy định này buộc bên bị thiệt hại phải có những biện pháp cần thiết để hạn chế
tối đa các thiệt hại có thể xảy ra, không những góp phần giảm thiểu tổn thất cho chính
mình mà còn hạn chế được thiệt hại cho bên đối tác, tránh tư tưởng bàng quan, ỷ lại
vào quy định của bồi thường thiệt hại. Cụ thể, khi có hành vi vi phạm hợp đồng của


một bên, tất yếu có thể dẫn đến những thiệt hại cho bên còn lại. Ví dụ như hành vi giao
hàng không đủ số lượng hay chất lượng của bên bán làm thiệt hại đến hợp đồng, danh
dự, uy tín của bên mua với bên thứ ba hoặc khách hàng; hay hành vi nhận hàng không
đúng thời điểm của bên mua làm chất lượng hàng bị suy giảm; và rất nhiều trường hợp
khác. Trong những trường hợp này, nếu bên bị thiệt hại không dùng các biện pháp có
thể hạn chế, ví dụ như hàng không được giao tồn kho không được bảo quản, thiệt hại
từ 30% tăng đến 50%; hay không được linh động chuyển hóa làm giảm sút giá trị… thì
phần thiệt hại gia tăng đó sẽ không được bồi thường. Đây có thể coi là hành vi cố tình



không tuân thủ hợp đồng. Do đó, các bên có thể thỏa thuận gián tiếp trách nhiệm ở
một chừng mực nhất định.
Thứ hai là miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng.
Theo quy định của pháp luật thương mại, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách
nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Điều này có nghĩa là dù hợp
đồng có quy định hay không thì khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn đến việc vi phạm
hợp đồng, bên vi phạm vẫn được miễn trách nhiệm. Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật
dân sự 2015 “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể
lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần
thiết và khả năng cho phép”. Theo đó, để được xem là bất khả kháng thì một sự kiện
cần thỏa mãn ba nội dung bao gồm: một là sự kiện khách quan xảy ra sau khi kí hợp
đồng, tức là sự kiện nằm ngoài phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng như các
hiện tượng tự nhiên: bão, lụt, sóng thần, các sự kiện chính trị, xã hội như đình công,
bạo loạn, chiến tranh… ngoài ra còn có các trường hợp như hỏa hoạn phát sinh từ khu
vực bên ngoài lan sang và thiêu rụi nhà máy… Hai là sự kiện xảy ra không thể dự
đoán trước được. Năng lực đánh giá xem xét một sự kiện có xảy ra hay không được
xét từ vị trí của một thương nhân bình thường chứ không phải một chuyên gia chuyên
sâu. Ba là sự kiện xảy ra mà hậu quả để lại không thể khắc phục được dù đã áp dụng
mọi biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể tránh được về mặt hậu quả. Tức là sau
khi bên vi phạm đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng vẫn không khắc phục được
hậu quả thì mới đáp ứng điều kiện này. Tuy nhiên, nếu như bên vi phạm không thực
hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả nhưng chứng minh được rằng dù có
hành động vẫn không thể khắc phục được hậu quả thì xem như đã thỏa mãn điều kiện
này. Để được áp dụng miễn trừ do sự kiện bất khả kháng thì bên có hành vi vi phạm
phải chứng minh được sự cố dẫn đến vi phạm hợp đồng thỏa mãn ba điều kiện vừa
nêu. Khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ. Nếu các bên không có thỏa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status