Phân tích vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam - Pdf 50

A. LỜI MỞ ĐẦU
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng
trong ngành luật dân sự của bất kì quốc gia nào trên thế giới. Đặc biệt trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay khi giao lưu dân sự đang diễn ra ngày càng
đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài đã trở thành một vấn đề
mang tính pháp lý quốc tế, là môt trong những nội dung quan trọng của Tư pháp
quốc tế. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của cá nhân lợi ích của nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh.
“Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh
dự.”1. Với các căn cứ pháp lý cao nhất được quy định tại Hiến pháp thì bất kỳ một
chủ thể nào xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì chủ thể đó phải có trách
nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà mình gây ra không phụ thuộc vào việc
chủ thể đó là ai. Điều này đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong các giao
lưu dấn sự hiện nay. Xuất phát từ các nguyên tắc mang tính chất nền tảng được quy
định trong Hiến pháp, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nươc ngoài nói riêng được
quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 và các điều ước quốc tế song phương và
đa phương đề cập đến tương đối chi tiết. Bài viết dưới đây xin làm rõ vấn đế:
“Phân tích vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam” và đưa ra các ví dụ minh họa là cần thiết nhằm
nhận thức về vấn đề bồi thường thiệt ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, góp
phần chủ động áp dụng vào giải quyết các vụ việc thực tiễn một cách hiệu quả.

1 Điều 30 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.


B. PHẦN NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“2. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Dựa vào cơ sở trên có thể rút ra định nghĩa như sau về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài như sau: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
có yếu tố nước ngoài là trách nhiệm dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh khi có
thiệt hại xảy ra. Cụ thể là các yếu tố sau: (1) Các bên chủ thể tham gia trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quốc tịch khác nhau; (2) Các bên
tham gia trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đều là công dân Việt
Nam hoặc pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm
dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài; (3) Các bên tham gia trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam nhưng đối
tượng của quan hệ bồi thường đó ở nước ngoài.
Là một trong những chế định quan trọng của Tư pháp quốc tế, trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài được ghi nhận trong các
hiệp đinh đa phương, song phương hay trong các văn bản quy phạm pháp luật của
mỗi quốc gia. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên đặc biệt là bên bị thiệt hại, nâng cao tinh thần trách nhiệm của bên gây thiệt hại
cũng như có tác động tích cực trong việc ngăn ngừa, khắc phục thiệt hại xảy ra.


2. Xung đột pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố
nước ngoài
Theo quan niệm truyền thống thì khi có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống

thưc tế của sự kiện gây thiệt hại, luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại, luật nơi cư trú
của đương sự.
Các nước Liên mình châu Âu EU, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được
điều chỉnh theo quy định ROME II: “ Các bên có thể thỏa thuận chọn pháp luật áp
dụng đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng: (a) bằng một thỏa thuận sau khi sự kiện
dẫn chiếu đến gây thiệt hại xảy ra; hoặc (b) Khi các bên tham gia vào một hoạt
động thương mại, bằng một thỏa thuận thương lương tự do trước khi sự kiện dẫn
đến gây thiệt hại xảy ra. Sự lựa chọn phải phù hợp với một sự chắc chắn rằng
trong mọi trường hợp sẽ không làm phương hại đến các quyền của bên thứ ba.” 4
Theo pháp luật Trung Quốc, pháp luật để áp dụng giải quyết quan hệ bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng được điều chỉnh theo hệ thuộc luật: Luật do các
bên đương sự thỏa thuận hoặc sử dụng hệ thuộc luật khác phù hợp với từng loại vi
phạm pháp luật.
Pháp luật Hàn Quốc quy định luật tư pháp quốc tế của Hàn Quốc quy định hệ
thuộc chính điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là luật nơi xảy
ra hành vi gây thiệt hại...5
Pháp luật Nhật Bản quy định: “Việc xác lập và hiệu lực của trái quyền phát
sinh do hành vi trái pháp luật tuân theo luật cả nước nơi phát sinh của hậu quả
hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên nếu không xác định được nơi phát sinh hậu quả
của hành vi gây thiệt hại thì xác định nơi hành vi gây thiệt hại.” 6...
Như vậy có thể thấy, nhiều quốc gia đã nhận thức sự tồn tại của xung đột
pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ đó đã đề ra những biện pháp
giải quyết của riêng quốc gia đó. Có quốc gia ưu tiên sự lựa chọn pháp luật áp dụng
4 Khoản 1 Điều 14 quy định Rome II.
5 Điều 32 Luật tư pháp quốc tế Hàn Quốc số 6465 ngày 07/04/2001.
6 Điều 17 Luật tư pháp quốc tế Nhật Bản.


theo sự thỏa thuận của các bên đương sự, có quốc gia lại lựa chọn theo nơi xảy ra
hành vi gây thiệt hại, nơi phát sinh hậu qủa của hành vi gây thiệt hại... Tuy nhiên

nguyên tắc là nền tảng là sự thỏa thuận giữa các bên. Việc cho phép các bên trong
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quyền chọn pháp luật áp dụng
không ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội mà còn có
ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên bị
thiệt hại. Ngoài ra cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn áp dụng có thể sẽ giúp các
bên thi hành bản án của tòa án một cách tự nguyện và dễ dàng hơn. Điều này cũng
góp phần đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
Ngoại lệ, các bên không được lựa chọn pháp luật áp dụng trong trường hợp
bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú đối với cá nhân hoặc nơi thành lập
đối với pháp nhân tại cùng một nước vì pháp luật của nước đó áp dụng (khoản 2
Điều 687). Tức là, trong trường hợp này áp dụng pháp luật của nước mà các bên có
nơi cư trú chung. Quy định này là hợp lí và thống nhất với quy định trong các
HĐTTTP Việt Nam kí kết với nước ngoài.
Hệ thuộc thứ hai: Áp dụng pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự
kiện gây thiệt hại, nếu các bên không có thỏa thuận.
Việc giải quyết xung đột pháp luật đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng chủ yếu
quy định các quy phạm xung đột để lựa chọn pháp luật của quốc gia này hay pháp
luật của quốc gia khác để áp dụng giải quyết vụ việc. Việc quy định theo nguyên
tắc nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại nếu các bên không có thỏa thuận là hợp lý, vừa
tôn trọng sự thỏa thuận, lựa chọn vừa có thể giải quyết nếu các bên không có thảo
thuận, lựa chọn và theo quan điểm của nhiều luật gia tư pháp quốc tế là phù hợp
hơn cả.7
Việc pháp luật quy định áp dụng pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả
của sự kiện gây thiệt hại để giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi
7PGS.TS. Hoàng Thế Liên, Bình luận khoan học bộ luật dân sự năm 2005,(2013), NXB Chính trị quốc gia,
Tr 595.


thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những ý nghĩa nhất định như thể hiện tính

sản phẩm gây ra; bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực cạnh tranh...
Đối với lĩnh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực sở hữu trí
tuệ. Bộ luật dân sự năm 2015 đã thừa nhận quan điểm có xung đột pháp luật trong
quan hệ hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng và chuyển nhựng quyền sở hữu trí
tuệ. Mặc dù không có quy định riêng biệt giải quyết xung đột pháp luật về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, với quy định tại Điều
679 Bộ luật dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật nội dung ở Luật sở hữu trí
tuệ năm 2005, có thể hiểu Việt Nam thiên về sử dụng hệ thuộc luật của nước nơi
quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ.8
Đối với lĩnh vực tai nạn giao thông cơ bản vẫn áp dụng quy định chung tại
điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên cần chú ý Khoản 3 Điều 3 Bộ luật
hàng hải Việt Nam 2015 quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột
pháp luật như sau: (1) Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va,
tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của
quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó; (2) Trường hợp quan hệ pháp
luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở vùng biển quốc tế thì áp
dụng pháp luật của quốc gia mà Trọng tài hoặc Tòa án của quốc gia đầu tiên đã thụ
lý giải quyết tranh chấp. (3) Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở vùng biển quốc tế
giữa các tàu biển có cùng quốc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển
mang cờ quốc tịch.
2.2 Theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài có thể được
giải quyết trên cơ sở các quy định của điều ước quốc tế. Các quy định của điều ước
quốc tế ở đây chính là các quy định được ghi trong các Hiệp định tương trợ tư pháp
(HĐTTTP) về dân sự Việt Nam ký kết với nước ngoài. Cụ thể : Hiệp định với Liên
8 Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 472.


Xô (cũ) tại Điều 33, với Tiệp Khắc (cũ) tại Điều 33, với Hungari tại Điều 30, với
Bungari tại Điều 31, với Ba Lan tại Điều 38, với Lào tại Điều 23, với Liên Bang

hại, còn pháp luật Việt Nam sử dụng hệ thuộc luật do các bên thỏa thuận và nếu các
bên không thỏa thuận, áp dụng pháp luật nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện
gây thiệt hại.Theo nguyên tắc chung được thừa nhận ở các nước và Việt Nam là
khi có sự khác nhau về pháp luật áp dụng của điều ước quốc tế và pháp luật trong
nước điều chỉnh về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định trong điều ước quốc tế.
Khoản 2 Điều 665 BLDS năm 2015 quy định : “ Trong trường hợp điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên có quy định khác với
các quy định của Phần này và luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng”.
Đối với vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong vụ việc bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng các hiệp định cũng tạo nhiều khả năng lựa chọn các cơ quan tài
phán cho đương sự. Cụ thể tòa án có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng là tòa án bên kí kết nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại và nơi
phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại, hoặc tòa án nơi bi đơn thường
trú hoặc có trụ sở, nơi có tài sản của bị đơn. Tòa án của bên ký kết nơi nguyên đơn
thường trú hoặc có trụ sở cũng có thẩm quyền giải quyết nếu trên lãnh thổ của nước
này có tài sản của bị đơn (Điều 23.3 HĐTTTP Việt Nam – Lào; Điều 39 HĐTTTP
Việt Nam – Nga; Điều 18 HĐTTTP Việt Nam – Trung Quốc) 9.
III. TÌNH HUỐNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG
Tình huống xây dựng: Nhà bà Phan Thị Mỹ Tâm ngụ tại TDP 1 Phường
Đậu Liêu, Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh có cây ổi cành lá xum xuê trước cửa.
Ngày 10/1/2017 Một hôm trời mưa, đúng lúc chị Hasara(quốc tịch Hàn Quốc) sang
Việt Nam du lịch đi ngang qua thì một cành ổi to bị gãy rơi trúng người chị, gây
9 Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 174.


thương tích nặng. Chị Hasara phải nằm điều trị tại bệnh viện thành phố Hà Tĩnh
mất 4 tháng, chi phí hết 38 triệu đồng. Trong thời gian, Hansara nằm điều trị tại
bệnh viện, chị phải thuê người chăm sóc với chi phí 3,5 triệu đồng/tháng. Gia đình

Việc cành cây rơi trúng người HanSara đã gây thiệt hại cho Hansara về sức
khỏe. Căn cứ theo Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết 03/ 2006 thì
những thiệt hại Hasara được bồi thường là: (1) Chi phí cho việc cứu chữa, bồi
dưỡng, phục hồi sức khỏe đã bị mất, bị giảm sút của người thiệt hại (chi phí 4 tháng
nằm viện: 38 triệu đồng); (2) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại
trong thời gian điều trị (thuê người chăm sóc= 3,5 triệu/tháng x 4 tháng= 15 triệu).
(3) Do Hansara làm nội trợ, công việc không có thu nhập nên không được nhận bồi
thường thu nhập thực tế bị mất. (4) Khoản tiền bù đắp do tổn thất tinh thần được
bồi thường cho Hansara khi sức khỏe bị xâm phạm. Mức bồi thường khoản tiền bù
đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu
không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần
cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa
không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết
bồi thường. Trong tình huống này do chị Hansara không yêu cầu bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng nên tòa án không giải quyết yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh
thần.
IV. ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
VÀ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
1. Đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015 việc mở rộng
quyền lựa chọn pháp luật khắc phục được tâm lý của các chủ thể trong quan hệ
quốc tế. khi nghiên cứu TPQT Việt Nam trước đây về vấn đề BTTHNHĐ người


quan tâm có cảm giác việc xác định pháp luật điều chỉnh mang tính "áp đặt” vì các
chủ thể liên quan không có quyền lựa chọn, định đoạt pháp luật điều chỉnh quan hệ
liên quan đến họ. Do đó, việc mở rộng trường hợp cho phép các chủ thể liên quan
lựa chọn pháp luật cho thấy chúng ta tôn trọng sự định đoạt của họ.
Thứ hai, các quy định hiện nay về xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ bồi

Để tạo điều kiện cho các bên trong việc xác định pháp luật điều chỉnh quan
hệ của họ và để tôn trọng quyền định đoạt của họ, thiết nghĩ cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất nhận thức và áp dụng theo
hướng, ghi nhận thời điểm lựa chọn pháp luật, chỉ chấp nhận cho các bên lựa chọn
pháp luật sau khi có sự kiện gây thiệt hại, điều này phù hợp với pháp luật các nước,
không chấp nhận thỏa thuận nói chung và thỏa thuận lựa chọn pháp luật khi chưa
có sự kiện gây thiệt hại xảy ra.
Về thời điểm lựa chọn pháp luật, nếu các bên được quyền lựa chọn pháp luật
điều chỉnh ở bất kỳ thời điểm nào đối với hợp đồng thì đối với bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, chúng ta nên theo hướng của pháp luật Trung Quốc là chỉ chấp
nhận cho các bên lựa chọn pháp luật ở thời điểm sau khi có sự kiện gây thiệt hại
(nhìn chung pháp luật các nước không chấp nhận thỏa thuận nói chung và thỏa
thuận lựa chọn pháp luật khi chưa có sự kiện gây thiệt hại).


C. KẾT LUẬN
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại
thế giới WTO thì quá trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng và
mạnh mẽ. Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt là quan hệ bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế sẽ xảy ra thường xuyên với tần suất
nhiều hơn. Trong bối cảnh hội nhập chung ấy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
Bộ luật dân sự 2015 với nhiều điểm mới tiến bộ cũng như ky thuật lập pháp hiện
đại đã dần dần xóa bỏ những bất cấp của bộ luật dân sự 2005 trong nhiều vấn đề
trong đó có bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng trong khoa hoc
luật dân sự cũng như khoa học tư pháp quốc tế. Ngày nay trong xu thế hội nhập,
mở cửa nền kinh tế, khi các quan hệ dân sự ngày càng được mở rộng và phát triển,
chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật dân sự ,đặc
biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế ngày
càng có vai trò vô cùng to lớn.


A.
B.

LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................2
I.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.........................2
1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố
nước ngoài..........................................................................................................2
II. GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI....................................................................4
1. Giải quyết xung đột về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở một số
nước trên thế giới...............................................................................................4
2. Giải quyết xung đột về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Việt Nam. 6
III. Tình huống thực tiễn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước
ngoài.....................................................................................................................13
IV. Đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng có yếu tố nước ngoài và một số kiến nghị đề xuất...............................15
1. Đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam..............................................15
2. Một số kiến nghị liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
có yếu tố nước ngoài........................................................................................16
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:............................................................18

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐTTTP: Hiệp định tương trợ tư pháp
BTTHNHĐ: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
BLDS: Bộ luật Dân sự
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status