Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Huy Hải - Pdf 61

TÓM LƯỢC
Hiện nay nền kinh tế của nước ta đang ngày càng phát triển, đặc biệt là sự hội
nhập với thế giới làm cho hoạt động thương mại phát triển không ngừng, các hợp đồng
thương mại ký kết ngày càng nhiều. Song song với sự phát triển số lượng các hợp
đồng thì nội dung của hợp đồng ngày càng được quan tâm nhiều hơn, nội dung ngày
càng chi tiết hơn, đặc biệt là sự quan tâm thỏa thuận các điều khoản về chế tài thương
mại nói chung và chế tài bồi thường thiệt hại nói riêng. Tuy nhiên quy định của pháp
luật còn nhiều thiếu sót và bất cập dẫn tới việc khó khăn khi áp dụng quy định về phạt
vi phạm trong hợp đồng thương mại, khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Từ thực tế đó,chương 1 khóa luận nghiên cứu một số vấn đề về chế tài bồi
thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại theo quy định của Luật thương mại 2005
và Bộ luật Dân sự 2015 như: các khái niệm liên quan đến hợp đồng thương mại, chế
tài thương mại và chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại.
Chương 2 khóa luận tập trung chỉ ra thực trạng các quy phạm pháp luật điều
chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại, thực trạng thực hiện quy
định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại và thực tiễn tại Công ty
TNHH Huy Hải.
Dựa trên những phân tích, những bất cập đã được chỉ ra, chương 3 khóa luận đưa
ra một số quan điểm và kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về chế
tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại.

1


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè. Với
lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Kinh tế - Luật –
Trường Đại học Thương mại đã cùng tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn
kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt,
trong thời gian này, khi chúng em thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp, các thầy cô đã

4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu..........................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................4
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp..................................................................................5
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI..............................6
1.1. Tổng quan về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại.......................6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng thương mại.....................................................6
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương
mại................................................................................................................................. 9
1.1.3. Ý nghĩa, vai trò của chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại
13
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng thương mại.................................................................................................14
1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại.................................................................................................................14
1.2.2. Nội dung pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại....15
1.3. Các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng thương mại........................................................................................................19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI - THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG
TY TNHH HUY HẢI.................................................................................................22
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng thương mại........................................................................22
2.1.1. Tổng quan tình hình về pháp luật bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại.................................................................................................................22
3


2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật phạt bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng thương mại........................................................................................................23

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS 2005
BLDS 2015
LTM 2005

Bộ luật Dân sự 2005
Bộ luật Dân sự 2015
Luật Thương mại 2005

VN

Việt Nam

5


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại
Trải qua một quá trình dài đầy khó khăn trong việc phấn đấu để trở thành thành
viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Vào ngày 07/11/2006 Việt Nam đã trở
thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, điều này lại một lần nữa khẳng định
Việt Nam luôn luôn chủ động để hòa nhập chung vào nền kinh tế thế giới hiện đại.
Hiện nay, khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt sau khi gia
nhập WTO, các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với tiến trình
phát triển đó, một nền kinh tế thị trường mới đã được mở ra dựa trên sự thiết lập nền
tảng pháp lí là quyền tự do kinh doanh trong quan hệ thương mại và phương thức hình
thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng. Những giao dịch, hợp tác mà chúng
ta tham gia ký kết ngày càng nhiều. Những hợp đồng trong và ngoài nước ngày càng
được ký kết một cách đa dạng hơn. Các quan hệ hợp đồng trong thương mại cũng vì lẽ

thiết. Qua đó góp phần bảo vệ các thương nhân, tổ chức và cá nhân Việt Nam khi họ
tham gia các hoạt động thương mại. Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề
tài: “Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại – Thực tiễn thực
hiện tại công ty TNHH Huy Hải” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hợp đồng thương mại nói
chung cũng như các công trình nghiên cứu về chế tài bồi thường thiệt hại trong thương
mại nói riêng, có thể kể đến như :
Luận văn thạc sĩ “Chế tài pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” năm
2009 của Th.S Phạm Thị Minh Phương. Luận văn nghiên cứu chung về chế tài pháp
luật, đồng thời đưa ra một số vấn đề cả về lý luận và thực tiễn còn tồn đọng. Từ đó,
nhận xét thực trạng và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về vấn đề này.
Đỗ Văn Đại (2010), Cuốn sách “ Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng
hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”, nxb Chính trị Quốc gia, tác giả đã mở ra nhiều
hướng nghiên cứu mới về vấn đề xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng.
Bài viết “ Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng kinh doanh thương mại của doanh
nghiệp” của công ty luật Minh Khê – đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Bài viết đã chỉ ra
được cơ sở lý luận về hợp đồng kinh doanh, thương mại và quy định của pháp luật về
phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Ngoài ra bài viết còn đưa ra các vấn đề về thực
tiễn đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng. Qua đó đưa ra các ý kiến trao đổi, tập
trung vào các chế tài thường được thoả thuận trong hợp đồng gắn với việc liên hệ đến
các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam với thực tiễn và thông lệ phổ biến trên
thế giới.
Bài viết “Chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng” của công
ty Luật PLF được đăng trên website của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VCCI. Bài viết đã phân biệt rõ những khác biệt chính của hai chế tài thương mại
thường được sử dụng đó là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, trong đó nổi bật là
vấn đề áp dụng các chế tài trong hợp đồng thương mại.


hướng giải quyết, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp luật về chế tài bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng thương mại.
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Tiếp cận vấn đề nghiên cứu về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại cả góc độ lý luận và thực tiễn. Từ những nghiên cứu, phân tích làm rõ
được các bất cập trong quy định pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng thương mại, những khó khăn khi áp dụng quy định pháp luật. Dựa trên những bất
cập đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, giảm những khó

3


khăn khi áp dụng chế tài chế tài bồi thường thiệt hại. Những mục tiêu cụ thể của khóa
luận như sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng thương mại, chế
tài thương mại và chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại.
Thứ hai, phân tích thực trạng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng thương mại và thực tiễn tại Công ty TNHH Huy Hải để chỉ ra những bất cập
và khó khăn khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại.
Thứ ba, trên cơ sở thực trạng đó, đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Do sự hạn chế thời gian cũng như khả năng nghiên cứu mà em chỉ tập trung
nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại:
Về thời gian: Tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật kể từ khi Luật
Thương Mại 2005 được ban hành cho đến nay. Các quy định pháp luật được nghiên
cứu là các quy định về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại theo
quy định của pháp luật Việt Nam.

Ngoài lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận tốt nghiệp
bao gồm 3 chương:
Chương 1 – Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng thương mại.
Chương 2 - Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương
mại.
Chương 3 – Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại.

5


CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng thương mại
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như tổ chức phải tham gia nhiều mối
quan hệ xã hội khác nhau. Khi các mối quan hệ về tài sản, các mối quan hệ về nhân
thân càng ngày càng phát triển trong xã hội, một nhu cầu về trao đổi tài sản, hàng hóa
cũng như vấn đề thuê nhân lực để phục vụ cho việc phát triển tài sản của mình cũng
ngày càng phát triển theo. Khi ý chí của các bên trong việc trao đổi đó gặp nhau ở một
số điểm nhất định, họ muốn tiến tới thực hiện ý chí của nhau ở những điểm trùng lặp
đó. Nhưng việc tiến hành những điểm chung đó là chưa đủ, cần có một cơ chế để giúp
việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau khi họ thực hiện ý chí của mình,
và từ đó hợp đồng ra đời
Vậy hợp đồng là gì? Hiểu theo một cách khái quát và chung nhất theo nghĩa
rộng, hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề
nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
của các bên. Bản chất thực sự của hợp đồng là sự tự nguyện và thống nhất ý chí thông
qua sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể. Hợp đồng còn đóng vai trò là bằng chứng

thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng
Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt
động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực
hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm
mục đích sinh lợi đó áp dụng luật này.”
Về mặt lý luận, hợp đồng thương mại là một loại hợp đồng dân sự (một dạng cụ
thể của hợp đồng dân sự) nên nó sẽ mang những đặc điểm của hợp đồng dân sự:
Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia giao kết.
Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự
ưng thuận giữa các bên với nhau. Đây là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao
kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi
quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt
đối. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã
hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức
quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn
quyền tự do giao kết hợp đồng. Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý
và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp
đồng.
Yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng luôn được đề cao. Chỉ được coi là hợp
đồng khi những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng
thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng
thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các
hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là
không có sự ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức
thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp

7


đồng. Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không

động kinh doanh một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Có những
quan hệ hợp đồng trong thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân, như: hợp
đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng
cáo thương mại... Có những hợp đồng thương mại chỉ đòi hỏi ít nhất một bên là
thương nhân, như: hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá
8


hàng hoá, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng dịch vụ xây dựng, hợp đồng bảo
hiểm... Cá biệt, có những hợp đồng thương mạikhông nhất thiết chủ thể hợp đồng phải
là thương nhân, như: hợp đồng giao kết giữa các chủ thể kinh doanh là những người
bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập
thấp (những người này không phải đăng ký kinh doanh, do đó họ không phải là thương
nhân).
Thứ hai,về hình thức: Hợp đồng trong thương mại được thiết lập theo cách thức
mà hai bên thoả thuận, có thể được thể hiện bằng hình thức lời nói, văn bản hoặc hành
vi cụ thể. Trong một số trường hợp, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng
bằng hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương với văn bản (hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua
bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương
mại, ...)
Thứ ba, mục đích phổ biến của các bên trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận:
Mục đích lợi nhuận là đặc trưng của các giao dịch thương mại. Khi tham gia hợp đồng
thương mại, thông thường các bên của hợp đồng đều nhằm thu được lợi nhuận từ việc
thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một bên của hợp đồng thương
mại không có mục đích lợi nhuận. Những hợp đồng này, về nguyên tắc không đương
nhiên chịu sự điều chỉnh bỡi những quy định riêng của pháp luật kinh doanh. Theo
Luật thương mại 2005, những hợp đồng được ký kết giữa một bên là thương nhân với
một bên là chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận thì
việc có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng đó hay không

tài sản thể hiện ở cách thức bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, đó là:

11


- Bên vi phạm phải dùng tiền (tài sản) thuộc quyền sở hữu của mình để thực hiện
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ cam kết trong hợp đồng. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo
sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.
- Bên vi phạm buộc phải có những chi phí hợp lý cần thiết để thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng. Ví dụ như chi phí sủa chữa sai sót, loại trừ khuyết tật của hàng hóa…
Thứ ba, chủ thể có quyền lựa chọn và áp dụng các hình thức chế tài bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng thương mại là chủ thể có quyền và lợi ích bị vi phạm trong
quan hệ hợp đồng.
Khi có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu
bên vi phạm thực hiện một hay nhiều hình thức chế tài theo cam kết trong hợp đồng
hoặc theo quy định của pháp luật. Trường hợp yêu cầu thực hiện chế tài trong thương
mại không được đáp ứng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Điều này thể hiện được quyền lựa chọn và
quyết định áp dụng chế tài của bên bị vi phạmđối với bên vi phạm hợp đồng thương
mại đã ký kết. Tòa án hay Trọng tài khi được yêu cầu giải quyết tranh chấp phải tôn
trọng quyền tự định đoạt của nguyên đơn hoặc cũng có thể là yêu cầu phản tố của bị
đơn. Việc Tòa án hay Trọng tài ban hành phán quyết buộc bị đơn phải bồi thường thiệt
hại thể hiện cơ quan này đã chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
chứ không thể hiện được việc quyết định áp dụng hình thức chế tài nào hay có áp dụng
chế tài hay không mà quyền quyết định này thuộc về bên bị vi phạm.
Thứ tư, chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng trong thương mại sẽ được áp
dụng trực tiếp đối với bên có hành vi vi phạm trong quan hệ hợp đồng.
Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm
đối với bên bị vi phạm không phụ thuộc vào nguyên nhân sự vi phạm là do tổ chức, cá

ý chí của mình trong khuôn khổ cho phép, pháp luật không thừa nhận những trường
hợp bị cưỡng ép, lừa dối. Tuy nhiên, một khi thỏa thuận đã đạt được thì hai bên cần
nghiêm túc thực hiện. Có những trường hợp biết trước rằng việc tiếp tục thực hiện sẽ
dẫn đến tình trạng bất lợi cho mình nhưng nếu không thực hiện thì sẽ bị đối tác yêu
cầu phạt hay bồi thường thiệt hại, tình trạng sẽ càng tồi tệ hơn nữa nên dù không muốn
nhưng vẫn phải tuân thủ thỏa thuận. Pháp luật đưa ra các quy định về chế tài bồi
thường thiệt hại đã giúp cho những chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng có thể
bảo vệ được quyền lợi của mình khi bị xâm phạm. Điều này cho thấy, việc bồi thường
thiệt hại có vai trò trong việc hình thành và củng cố thái độ tích cực của các bên đối
với nghĩa vụ phát sinh từ những thỏa thuận trong hợp đồng.
Thứ hai, đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng thương mại.Bên cạnh việc áp
dụng chế tài làm tăng ý thức thực hiện hợp đồng của các bên thì việc áp dụng chế tài
bồi thường thiệt hại còn có vai trò đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Thỏa thuận điều
khoản hay các quy định về bồi thường thiệt hại để một phần nào đó tạo ra niềm tin cho
các bên khi cùng nhau hợp tác.
Thứ ba, bảo vệ lợi ích của các bên khi có hành vi vi phạm xảy ra. Trong thương
mại, các bên thực hiện việc giao kết hợp đồng chủ yếu với mục đích lợi nhuận, và tất
nhiên là các thương nhân đều muốn kiếm về cho mình lợi nhuận cao hơn nữa. Từ đó,
đã xảy ra không ít các hành vi vi phạm hợp đồng như không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ các nghĩa vụ. Các hành vi này luôn tiềm ẩn cao những nguy cơ gây thiệt
13


hại cho đối tác. Vì vậy, pháp luật đã đưa ra quy định về các chế tài cũng góp phần bảo
vệ quyền lợi, lợi ích của bên bị vi phạm khi có hành vi vi phạm xảy ra; mặt khác nó
giúp bù đắp phần nào tổn thất bên bị vi phạm phải gánh chịu. Tuy nhiên, không chỉ
dừng lại ở đó, pháp luật cũng bảo vệ cho cả bên vi phạm trong các trường hợp được
miễn trách nhiệm, các căn cứ, chứng minh, thủ tục áp dụng, mức phạt… để đảm bảo
rằng bên vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đúng theo mức độ vi
phạm. Do đó, chế tài bồi thường thiệt hại nói riêng và các chế tài khác nói chung



năm 1997 cũng được thay thế bởi Luật thương mại mới được Quốc hội thông qua ngày
14/06/2005, có hiệu lực từ ngày01/01/2006. Đây là nguồn luật chính điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Bên trong đó cũng chứa các
quy định của pháp luật về chế tài trong thương mại nói chung và chế tài bồi thường
thiệt hại nói riêng.
Nội dung của chế tài bồi thường thiệt hại là bên vi phạm phải trả cho bên bị
vi phạm giá trị vật chất bị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra. Do
dó về nguyên tắc bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vật chất cho
bên bị vi phạm, không giới hạn bởi giá trị hợp đồng. Sự ban hành của nhà nước về các
quy định liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại đã và đang thể hiện rõ tầm quan
trọng của nó trong việc điều chỉnh sự phát triển của các hợp đồng trong doanh
nghiệp, bản thân doanh nghiệp nói riêng mà còn góp phần xây dựng phát triển nền
kinh tế nói chung.
Về cơ sở kinh tế - xã hội:
Từ khi Luật thương mại 2005 ra đời, tình hình kinh tế xã hội, hoạt động thương
mại đã có nhiều sự thay đổi nhiều bước phát triển mới, đặc biệt là từ khi Việt Nam gia
nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Hoạt động thương mại, số lượng các hợp
đồng thương mại được ký kết phát triển không ngừng, các chế tài thương mại nói
chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng được quan tâm và thỏa thuận áp dụng nhiều
hơn để thực hiện hợp đồng một cách thuận lợi và đảm bảo quyền lợi của các bên.
Nhận thức của thương nhân về các chế tài thương mại đã thay đổi, tình hình kinh tế
thay đổi đó là những yếu tố ảnh hưởng tới thực tế áp dụng chế tài thương mại và chế
tài bồi thường thiệt hại hợp đồng thương mại.
1.2.2. Nội dung pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại
Quan hệ hợp đồng là một một quan hệ hết sức phổ biến trong lĩnh vực thương
mại.Một hợp đồng sau khi được giao kết và phù hợp với quy định của pháp luật thì sẽ
phát sinh quyền và nghĩa vụ với các bên. Tuy nhiên, không ít hợp đồng đã bị vi phạm
do vô tình hay có hành vi cố ý vi phạm. Để phòng ngừa các hành vi này thì bồi thường

phát từ quyền độc lập kinh doanh của các chủ thể kinh doanh. Hoạt động thương mại
thường xuyên được hiểu: trên cơ sở có kế hoạch lâu dài, được thực hiện một cách thực
tế, lặp đi lặp lại, kế tiếp, liên tục mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên để kiểm
sống, tạo ra nguồn thu nhập cho thương nhân.
Như vậy, có thể thấy là việc doanh nghiệp ký kết một hợp đồng bất kỳ với một
chủ thể khác nhằm mục đích kinh doanh đều thuộc sự điều chỉnh của Luật Thương
mại. Do vậy, nắm bắt rõ chủ thể là ai, ký kết hợp đồng nhằm mục đích gì sẽ giúp làm
sáng tỏ cho đối tượng của luật mà chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng.
1.2.2.2. Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
thương mại
Chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng khi một trong các bên của quan hệ hợp
đồng thương mại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ
của mình làm cho mục đích của bên còn lại không đạt được và ảnh hưởng trực tiếp đến
lợi ích của họ. Khi đó bên vi phạm phải có trách nhiệm bù đắp những tổn thất đủ để
bên bị vi phạm có thể khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi có hành vi vi phạm
gây thiệt hại và thỏa mãn những quyền lợi chính đáng của mình.

16


Tuy nhiên khác với các loại chế tài khác, chế tài bồi thường thiệt hại chỉ được đặt
ra khi có đầy đủ các yếu tố theo quy định của pháp luật: có hành vi vi phạm hợp đồng,
có thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ
pháp lý cần thiết để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng.
Việc xác định hành vi vi phạm hợp đồng đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết vì nó
là căn cứ pháp lý không thể thiếu để áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm hợp
đồng thương mại nói chung và chế tài bồi thường thiệt hại nói riêng. Nếu không có
hành vi vi phạm hợp đồng thì không thể áp dụng bất cứ một loại chế tài nào.
Thứ hai, có thiệt hại thực tế: Nếu như hành vi vi phạm hợp đồng là điều kiện cần,

vi phạm”.
Theo điều luật này, mức bồi thường thiệt hại chỉ có thể là mức thiệt hại thực tế
trực tiếp và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng. Nói cách khác, có thể hiểu các bên
không được thỏa thuận một mức bồi thường thiệt hại cố định không tương ứng với các
khoản tiền này.
Như vậy, theo quy định của pháp luật, khi tính toán các khoản thiệt hại về tài sản
phải bồi thường, bên vi phạm chỉ phải bồi thường đối với những tổn thất thực tế, những
khoản lợi ích đáng lẽ được hưởng nếu không có vi phạm hợp đồng và các khoản này
được quy thành tiền. Thiệt hại được bồi thường là toàn bộ những tổn thất thực tế phát
sinh. Do đó, thiệt hại thực tế là bao nhiêu, thì bên vi phạm bồi thường bấy nhiêu.
1.2.2.4. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thiệt hại trong hợp đồng
thương mại
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi một bên vi phạm hợp đồng, tức là thực
hiện không đúng hoặc không đầy đủ các nghĩa vụ đã thỏa thuận thì phải chịu trách
nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp có hành vi vi
phạm nào cũng dẫn đến hậu quả là bị áp dụng chế tài. Nếu hành vi vi phạm của một
bên thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm mà bên vi phạm có thể chứng minh
được, thì họ không bị yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Quy định này của
pháp luật thương mại nhằm dự liệu trước những sự cố nằm ngoài dự đoán có thể xảy
ra khiến cho một hoặc cả hai bên trong quan hệ hợp đồng thương mại không thể thực
hiện được nghĩa vụ của mình dẫn đến việc vi phạm hợp đồng. Các trường hợp miễn
trách nhiệm này có thể được các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được pháp luật
quy định.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các trường hợp miễn trách nhiệm này được
quy định tại khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005 đã quy định bốn trường hợp
miễn trách nhiệm: xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận, xảy
ra sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia,
hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.”
Thứ nhất là trường hợp miễn trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên: Pháp luật

đồng mà vẫn đồng ý giao kết hợp đồng thì không được áp dụng miễn trách nhiệm.
Quyết định của cơ quan nhà nước phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi phạm, tức là
phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nào đó dẫn tới hành vi vi
phạm hợp đồng.
Như vậy, các quy định về chế định miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua
bán hàng hóa đã tạo được một môi trường pháp lý công bằng đối với những thiệt hại
thực tế không do lỗi trực tiếp của người vi phạm gây ra.
1.3. Các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh chế tài bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng thương mại
Trong mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại năm 2005 được xác
định là luật riêng, tức là các giao dịch thương mại là một loại giao dịch dân sự đặc thù,
có mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 cũng không thể quy định
chi tiết tất cả các hoạt động thương mại. Chính vì vậy, trong mối quan hệ với các luật
quy định các hoạt động thương mại đặc thù như tài chính, bảo hiểm,…thì Luật Thương
19


mại năm 2005 được xác định là luật chung, quy định nguyên tắc chung, còn những vấn
đề cụ thể trong các lĩnh vực đó thì phải do các luật chuyên ngành điều chỉnh.
Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại phù hợp với nguyên tắc của
Bộ Luật Dân sự năm 2005 cũng như thực tiễn hoạt động thương mại tại Việt Nam.
Pháp luật dân sự là tổng hợp của tất cả các quy phạm pháp luật liên quan đến địa
vị pháp lý của các chủ thể pháp luật dân sự, còn pháp Luật Thương mại chỉ điều chỉnh
các hoạt động thương mại được thực hiện chủ yếu bởi thương nhân nhằm mục đích
sinh lời. Bộ luật Dân sự quy định 10 nguyên tắc cho các quan hệ dân sự, trên nền các
nguyên tắc đó, Luật Thương mại năm 2005 cũng có một số nguyên tắc thể hiện tính
đặc trưng của hoạt động thương mại. Các nguyên tắc đó là:
Thứ nhất, Luật Thương mại năm 2005 là tuyên ngôn về sự bình đẳng trước pháp
luật của thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong hoạt động thương mại (Điều 10).
Trong kinh doanh nói chung cũng như trong hoạt động thương mại, quyền bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status