Khoá luận tốt nghiệp pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH thương mại và sản xuất tân huy hoàng - Pdf 35

TÓM LƯỢC
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực
hiện chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đồng thời, hoạt động mở rộng quan hệ đối
ngoại và chủ động hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị… đã
giúp cho các mối quan hệ về kinh tế, dân sự, thương mại phát triển đa dạng và không
ngừng tăng thêm về số lượng cũng như chất lượng của các hợp đồng. Cùng với đó, là
sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động M&A trên thế giới, và ngày càng xuất hiện nhiều
các thương vụ mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam. Để tạo ra môi trường pháp lý ổn
định, bảo đảm an toàn pháp lý cho các cá nhân và tổ chức khi tham gia quan hệ hợp
đồng thì cần phải bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật, trong đó bao gồm các quy
định pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói riêng.
Nội dung cơ bản của khóa luận được tóm lược như sau: Chương I khóa luận nghiên
cứu một cách chi tiết về khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán doanh nghiệp.Từ
các phân tích về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, khóa luận cũng làm rõ được vai trò
của nó đối với nền kinh tế xã hội. Đối với chương II, khóa luận tập trung đánh giá về
thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Qua đó rút ra được
những khó khăn trong việc áp dụng và thi hành các quy định pháp luật về hợp đồng
mua bán doanh nghiệp. Sau khi đánh giá thực trạng về việc áp dụng pháp luật hợp
đồng mua bán hàng hóa, khóa luận cũng đã nghiên cứu một cách chi tiết và đưa ra
được các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi tại
chương III.

1


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, tác giả đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
và học tập nghiêm túc để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Đầu tiên, tác
giả xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn – ThS.
Tạ Thị Thùy Trang đã nhiệt tình hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành bài tốt nghiệp

LDN
TNHH
M&A

4

Ý NGHĨA
Bộ luật Dân sự
Luật Thương mại
Luật Đầu tư
Luật Chứng khoán
Luật Doanh nghiệp
Trách nhiệm hữu hạn
Hộp đồng sáp nhập và mua lại doanh nghiệp


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của để tài

Merge and Acquisition (viết tắt là M&A) có nghĩa là sáp nhập và mua lại (hoặc
mua bán) doanh nghiệp. Đó là hoạt động giành quyền kiểm soát một phần hoặc toàn
bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn
bộ doanh nghiệp. Trên thế giới, hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp được hình
thành khá sớm và được coi là một trong những giải pháp tổ chức lại các doanh nghiệp,
đồng thời cũng tạo ra các xu hướng tập trung lại để thống nhất, tập hợp nguồn lực tài
chính, công nghệ, nhân lực, thương hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh.
Ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế ngày nay, hoạt động mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp đang dần khẳng định vai trò quan trọng trong tiến trình tái cơ cấu,
xây dựng và phát triển nền kinh tế. Để hoạt động mua bán doanh nghiệp phát huy

luật về mua bán doanh nghiệp là một vấn đề cấp thiết. Điều này sẽ góp phần đảm bảo
các giao dịch mua bán doanh nghiệp diễn ra đúng trình tự pháp lý, có sự quản lý của
nhà nước, đảm bảo được nền kinh tế và bảo vệ được quyền lợi của các chủ thể kinh
doanh.
Từ những lý luận và thực tế trên cùng quá trình thực tập thực tế tại công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH) thương mại và sản xuất Tân Huy Hoàng, các vấn đề pháp lý
liên quan đến mua bán doanh nghiệp đặc biệt là hợp đồng mua bán doanh nghiệp đã
thu hút sự quan tâm của tác giả. Mặc dù hợp đồng mua bán doanh nghiệp đã được ký
kết thành công tuy nhiên qua việc nghiên cứu và thực tiễn nhận thấy quá trình giao kết
và thực hiện hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại công ty vẫn còn tồn đọng một số hạn
chế. Vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại công ty
TNHH thương mại và sản xuất Tân Huy Hoàng là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa
đối với công ty mà còn đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp của các doanh nghiệp
khác. Đây chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng mua bán
doanh nghiệp - Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân
Huy Hoàng” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp là một đề tài tương đối mới mẻ của
Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của các giao
dịch mua bán doanh nghiệp thì số lượng các bài viết nghiên cứu đã tăng lên khá nhiều.
Qua quá trình tìm hiểu có thể kể đến một số công trình và bài viết nghiên cứu liên
quan đến pháp luật về mua bán doanh nghiệp và hợp đồng mua bán doanh nghiệp như:
Nghiên cứu: M&A- Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam- Hướng
dẫn cơ bản dành cho bên bán của hai tác giả Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức, Nxb
Lao động xã hội, 2011 là một cuốn sách phân tích các thương vụ sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp ở Việt Nam theo các nội dung: sự cần thiết sáp nhập và mua lại doanh
nghiệp; thẩm định doanh nghiệp; khuân khổ pháp lý để thực hiện hoạt động mua bán
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các tác giả cũng giới thiệu tới độc giả các mẫu hợp đồng
mua bán doanh nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, biên bản ghi nhớ trong giao
dịch sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Cuốn sách trên được ghi nhận là nguồn tư liệu

luật Việt Nam quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Vì vậy bài khóa luận này
sẽ đi sâu vào phân tích cụ thể về hợp đồng mua bán doanh nghiệp theo pháp luật hiện
hành và áp dụng cụ thể vào công ty TNHH thương mại và sản xuất Tân Huy Hoàng.
Từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế và đưa ra các giải pháp cải thiện nhằm nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Trong để tài khóa luận này, tác giả sẽ đi nghiên cứu về năm vấn đề lớn sau:
Thứ nhất là phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của hợp đồng mua bán
doanh nghiệp.
Thứ hai là phân tích về thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh
nghiệp tại Việt Nam.
Thứ ba là đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh
nghiệp tại công ty TNHH thương mại và sản xuất Tân Huy Hoàng.
7


Thứ tư là đánh giá và chỉ ra một số hạn chế cần khắc phục trong pháp luật quy
định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Thứ năm là đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc
ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại công ty TNHH thương mại và
sản xuất Tân Huy Hoàng nói riêng và với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.
4. Đối tượng , mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đế lý luận chung về pháp lý
liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp, thực trạng các quy phạm pháp luật về
hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ đó phân tích thực tiễn thực hiện các
điều khoản này tại công ty TNHH thương mại và sản xuất Tân Huy Hoàng. Bên cạnh
đó khóa luận cũng tập trung nghiên cứu đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm giải
quyết các vấn đề còn hạn chế nhằm giúp doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động

Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập thông tin là làm cơ
sở lý luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào phân tích các quy phạm pháp luật về hợp
đồng mua bán doanh nghiệp như: thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp
luật và các tài liệu tổng quan quy định về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán
doanh nghiệp nói riêng; thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến hợp đồng mua bán
doanh nghiệp của công ty TNHH thương mại và sản xuất Tân Huy Hoàng để làm rõ
thực trạng áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại công ty.
6. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Bố cục bài khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận thì gồm có 3 chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh về hợp
đồng mua bán doanh nghiệp - Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Thương mại và
Sản xuất Tân Huy Hoàng.
Chương III: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp
đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

9


CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP
1.1.

Một số vấn đề cơ bản liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về mua bán doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm mua bán doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng nhanh hiện nay bên cạnh việc
đầu tư vào phát triển sản phẩm dịch vụ các doanh nghiệp luôn mong muốn tìm các
biện pháp nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị phần, củng cố


Theo Luật Cạnh tranh 2004: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp
mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối
toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” (Khoản 3, Điều 17). Theo
quy định này, mua bán doanh nghiệp là việc mua tài sản của doanh nghiệp tuy nhiên
việc mua này lại mang đến cho bên mua quyền kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một
ngành nghề của doanh nghiệp bị mua. Tuy nhiên Luật Cạnh tranh (2004) lại chỉ quan
tâm đến khả năng kiểm soát, chi phối của doanh nghiệp sau thương vụ mua bán doanh
nghiệp. Sở dĩ như vậy bởi lẽ bản chất của Luật Cạnh tranh (2004) là luật mang tính
chất kiểm soát các hành vi có khả năng xâm hại trật tự cạnh tranh. Với ý nghĩa như
vậy, hoạt động mua bán doanh nghiệp được tiếp cận trong Luật Cạnh tranh (2004)
dưới khía cạnh khả năng kiểm soát chi phối doanh nghiệp sau mua bán doanh nghiệp
có ảnh hưởng gì đến cạnh tranh hay không? Nếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh
tranh, hành vi đó sẽ bị kiểm soát. Vì vậy định nghĩa về mua bán doanh nghiệp được
quy định trong Luật Cạnh tranh chỉ được xét trên khía cạnh của luật mà không thể coi
đây là định nghĩa chung cho mọi trường hợp mua bán doanh nghiệp.
Năm 2014, cùng với việc ban hành luật Doanh nghiệp, Quốc hội đã thông qua
Luật Đầu tư và trong luật này đã coi hoạt động mua bán doanh nghiệp như một hình
thức đầu tư trực tiếp nhằm mục đích kinh doanh theo quy định tại điều 24 Luật đầu tư
2014. Cụ thể quy định: Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào
tổ chức kinh tế.
Nghị định số 128/2014/NĐ-CP quy định về bán, giao và chuyển giao doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước có hiệu lực từ ngày 31 tháng 12 năm 2014 đưa ra định
nghĩa bán doanh nghiệp, cụ thể quy định: Bán doanh nghiệp là việc chuyển đổi sở hữu
toàn bộ một doanh nghiệp hoặc đơn vị hạch toán phụ thuộc cho tập thể, cá nhân hoặc
pháp nhân khác có thu tiền. Định nghĩa này cho phép xác định bản chất của quan hệ
mua bán doanh nghiệp và chuyển quyền sở hữu có thu tiền và đối tượng của quan hệ
mua bán là một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp.
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệm
mua bán doanh nghiệp, tuy nhiên dựa vào tính chất, đặc điểm mà có thể khái quát mua

tài sản của doanh nghiệp mục tiêu, còn như đã đề cập ở trên, đối tượng của quan hệ
mua bán doanh nghiệp là doanh nghiệp. Còn xét về đối tượng chủ thể, chủ thể của mua
bán tài sản doanh nghiêp chính là doanh nghiệp đó còn chủ thể của quan hệ mua bán
doanh nghiệp là chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Ngoài ra, so với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp, mua bán doanh nghiệp cũng
có nhiều điểm khác biệt về đối tượng và hệ quả pháp lý. Cụ thể là : đối tượng của mua
bán doanh nghiệp là quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp mục tiêu, còn
đối với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp đối tượng là toàn bộ tài sản , quyền , nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị sáp nhập sang doanh nghiệp nhận sáp
nhập.
Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng mua bán doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm
Thực tiễn giao dịch cho thấy mua bán doanh nghiệp là một loại giao dịch khá
phức tạp cho nên các bên thường lựa chọn việc ký kết với nhau một thỏa thuận chuyển
nhượng bằng văn bản gọi là hợp đồng mua bán doanh nghiệp để làm bằng chứng ghi
nhận sự thỏa thuận của hai bên.
Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là một trong những điều kiện tiên quyết để hình
thành thương vụ mua bán doanh nghiệp. Hợp đồng mua bán doanh nghiệp được coi là
sự thỏa thuận giữa các bên , theo đó bên bán doanh nghiệp có nghĩa vụ chuyển giao
toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu doanh nghiệp cho bên mua lại doanh nghiệp và
nhận tiền bán doanh nghiệp theo thỏa thuận trong hợp đồng, còn bên mua lại doanh
nghiệp có nghĩa vụ nhận toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp và tiếp tục thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó theo quy định của pháp luật cũng như theo
12


thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng , đồng thời trả tiền cho bên bán lại doanh
nghiệp.
1.1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Về cơ bản hợp đồng mua bán doanh nghiệp cũng giống như các loại hợp đồng

1.2.

Cơ sở ban hành và nội dung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh

1.2.1.

nghiệp.
Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp
13


1.2.1.2.

Cơ sở về chính trị

1.2.1.3.

Sau khi giành được thắng lợi trong công cuộc kháng chiến dành độc lập, nền
chính trị của nước ta đã trở nên ổn định. Trong suốt quá trình hơn 30 năm đổi mới,
kinh tế nước ta đã và đang phát triển theo chiều hướng tích cực, các doanh nghiệp
được thành lập ngày càng nhiều và hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Cùng với đó, Việt Nam ngày càng gia tăng các quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực đặc
biệt là lĩnh vực kinh tế với các nước trong và ngoài khu vực. Điều này tạo điều kiện
thuận lợi cho các quan hệ kinh tế và xã hội đẩy mạnh và phát triển. Hoạt động mua
bán doanh nghiệp là một trong những quan hệ thương mại góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Quan hệ mua bán doanh nghiệp được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Vì vậy, trước tình hình trên cùng với quá trình hội
nhập kinh tế thế giới mạnh mẽ và nhu cầu phát triển kinh tế trong nước, việc ban hành
các văn bản pháp luật điều chỉnh những quan hệ trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.2.2.2.

1999 . Đồng thời các ngành luật chuyên ngành mới được ra đời như: Luật Đầu tư
(2005) và mới được thay thế, điều chỉnh bằng Luật Đầu tư (2014): Luật Chứng khoán
(2007) …các ngành luật này ra đời góp phần giúp cho thị trường tài chính nói chung
và thị trường mua bán doanh nghiệp nói riêng trở nên minh bạch hơn thu hút được
nhiều nhà đầu tư cả trong nước lẫn ngoài nước.
Cơ sở xã hội
Trong nhà nước pháp quyền, mọi quan hệ xã hội đều cần được điều chỉnh bởi
pháp luật. Quan hệ mua bán doanh nghiệp là một phần của quan hệ xã hội. Thực chất
hoạt động mua bán doanh nghiệp là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm mục đích kinh
doanh , sao cho hai bên đều được hưởng lợi ích tối đa.Việc ban hành các quy định về
mua bán doanh nghiệp thông qua hợp đồng mua bán doanh nghiệp sẽ đảm bảo quyền
và lợi ích của các chủ thể tham gia , từ đó tạo điều kiện xây dựng , duy trì và phát triển
các mối quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân , tổ chức trong xã hội.
Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp
1.2.2.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Trong bất kỳ mối quan hệ hợp đồng nào, việc xác định xem các quy định pháp
luật nào điều chỉnh giao dịch đó là hết sức cần thiết, đặc biệt đối với một quan hệ hợp
đồng phức tạp như hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước để điều
chỉnh những quan hệ xã hội giữa các cá nhân, tổ chức. Hợp đồng mua bán doanh
nghiệp là một hợp đồng mua bán thể hiện mối quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt
động mua bán doanh nghiệp giữa bên bán doanh nghiệp và bên mua doanh nghiệp nên
những quan hệ đó được điều chỉnh bởi các quy tắc xử sự chung của nhà nước.
Như vậy, pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp là tập hợp những
quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ giữa bên bán và bên mua nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động mua bán doanh nghiệp.

phải thỏa thuận trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Ở Việt Nam nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán doanh nghiệp
gồm các yêu cầu đảm bảo điều kiện có hiệu lực của hợp đồng quy định tại Bộ luật Dân
sự và các nội dung chủ yếu về chủ thể, đối tượng tham gia; hình thức ,thủ tục giao kết
hợp đồng ; điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và các trường hợp hợp đồng vô hiệu;
quyền và nghĩa vụ của các bên;… trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Trên cơ sở Bộ luật Dân sự 2005 , Luật doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 ,
Luật Cạnh Tranh 2004 là căn cứ pháp lý quan trọng điều chỉnh hợp đồng mua bán
doanh nghiệp, nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua doanh nghiệp ở Việt Nam
có thể chia thành các nhóm quy phạm sau:
Các quy phạm quy định về chủ thể giao kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp:
Chủ thể trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp phải là những tổ chức, cá nhân được
quyền mua bán doanh nghiệp. Trong đó các tổ chức, cá nhân này không thuộc các đối
tượng bị cấm quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp. Chủ thể tham gia quan hệ hợp
đồng mua bán doanh nghiệp còn phải đáp ứng các điều kiện chung như: đối với tổ
chức thì tổ chức đó phải có đủ năng lực pháp luật; đối với các cá nhân tham gia vào
quan hệ hợp đồng mua bán doanh nghiệp thì phải có năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự đầy đủ.
Các quy phạm quy định về nội dung và hình thức hợp đồng mua bán doanh
nghiệp: Về căn bản pháp luật Việt Nam không quy định nội dung giao kết hợp đồng
mua bán doanh nghiệp nhưng thực tế trên cơ sở hợp đồng nói chung thì nội dung giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể căn cứ vào các quy định của BLDS 2005. Còn
16


về hình thức hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng mua bán doanh nghiệp phải
được xác lập bằng văn bản tuy nhiên những quy định này nằm rải rác ở nhiều văn bản
luật, điều này dẫn đến nhiều khó khăn cho việc tìm hiểu và thực thi pháp luật.
Các quy phạm về trình tự thủ tục giao kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp: Bất
cứ loại hợp đồng nào cũng phải được giao kết theo một trình tự thủ tục nhất định, đó là

thì hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu.
1.3.2. Nguyên tắc thực hiện đúng
17


Chấp hành thực hiện đúng hợp đồng là không được tự ý thay đối tượng này bằng
một đối tượng khác hoặc không được thay thế việc thực hiện nó bằng cách trả một số
tiền nhất định hoặc không thực hiện nó. Nguyên tắc này đòi hỏi thỏa thuận cái gì thì
thực hiện đúng cái đó.
1.3.3. Nguyên tắc thực hiện đầy đủ.
Nguyên tắc này có nghĩa là thực hiện đầy đủ tất cả các điều khoản đã cam kết
trong hợp đồng, tức là tất cả các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng đều
phải được thực hiện đầy đủ.
1.3.4. Nguyên tắc giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng
Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau, thường xuyên
theo dõi và giúp đỡ nhau để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh mọi điều khoản của hợp
đồng, giúp nhau khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh
tế.

18


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA
BÁN DOANH NGHIỆP – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI VÀ SẢN XUẤT TÂN HUY HOÀNG.
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh
hợp đồng mua bán doanh nghiệp
2.1.1. Tổng quan tình hình về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh
nghiệp
Ở Việt Nam, hoạt động mua bán doanh nghiệp được quan tâm kể từ khi Luật

2.1.2.1. Môi trường thể chế, chính trị
Đối với mọi hoạt động kinh doanh nói chung và đối với hợp đồng mua bán
doanh nghiệp nói riêng đều nhạy cảm với tình hình chính trị của mỗi quốc gia. Các
yếu tố về thể chế, pháp luật có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế trong đó có
hoạt động mua bán doanh nghiệp. Một nền chính trị ổn định, không có những yếu tố
gây xung đột sẽ tạo tâm lý ổn định cho các nhà đầu tư. Các chính sách, qui định, đạo
luật liên quan đến hoạt động mua bán doanh nghiệp như luật dân sự, luật doanh
nghiệp, luật đầu tư hay luật cạnh tranh nếu được xem xét xây dựng một cách có khoa
học, đầy đủ, rành mạch sẽ tạo một khung pháp lý vững chắc thúc đẩy hoạt động mua
bán doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập các hợp đồng
mua bán.
2.1.2.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế cũng là một trong những nhân tố có tác động không nhỏ đển
hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Theo học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã
hội thì cơ sở hạ tầng (bao gồm toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định) quyết định đến kiến trúc thượng tầng.
Vì vậy, yếu tố quan trọng quyết định đến việc thực thi pháp luật nói chung và pháp
luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói riêng chính là cơ sở kinh tế. Điều kiện
kinh tế thấp kém thì tính chất của hành vi thực thi pháp luật ít phức tạp hơn; ngược lại,
kinh tế càng phát triển thì tính chất của hành vi thực hiện pháp luật càng trở lên phức
tạp. Điều đó cho thấy trình độ phát triển kinh tế tác động thường xuyên, trực tiếp đến
chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.
Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi sự vận động của nền kinh tế
được vận động dưới sự kiểm soát của nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân
phối về thu nhập, nhà nước can thiệp sâu vào tất cả các hoạt động của nền kinh tế,
không coi trọng quy luật vận động của thị trường. Vì thế việc hoạt đồng mua bán
doanh nghiệp gần như không xuất hiện nhiều và vì vậy cũng không có nhiều các hệ
thống quy phạm pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng mua bán này. Ngược lại, trong cơ
chế kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh, đầu tư và hội nhập của các chủ thể
kinh tế trong xã hội rất lớn vì vậy hoạt động mua bán doanh nghiệp cũng từ đó mà

nghiệp nói riêng, nó có thể tác động trực tiêp đến việc thực hiện hợp đồng nhanh
chóng hơn, đơn giản hơn và hiệu quả hơn hoặc ngược lại.
2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
doanh nghiệp
2.2.1. Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam không có định cụ thể về chủ thể trong hợp đồng mua bán
doanh nghiệp. Duy nhất, tại điều 187 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “chủ doanh
nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác”. Trên thực tế,
khi tiến hành giao dịch, các bên căn cứ vào các quy định gián tiếp và thông lệ thực tế
để xác định rằng chủ thể của giao dịch mua bán doanh nghiệp. Chủ thể của hợp đồng
mua bán doanh nghiệp gồm bên bán doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp và bên
mua là tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua doanh nghiệp. Việc xác định về chủ thể mua
doanh nghiệp là cơ sở pháp lý giúp các bên có nhu cầu mua doanh nghiệp xem xét họ
có được quyền mua doanh nghiệp hay không để hạn chế việc đầu tư không khả thi.
Mặt khác, quy định pháp luật về chủ thể mua bán doanh nghiệp chính là một trong căn
cứ để xem xét điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
21


Quy định về chủ thể bán doanh nghiệp: Về nguyên tắc, chủ sở hữu doanh nghiệp
có quyền bán doanh nghiệp. Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước, do đặc thù chủ
sở hữu là Nhà nước, một chủ thể đặc biệt nên xác định cơ quan, tổ chức nào đại diện
cho bên bán doanh nghiệp Nhà nước vẫn chưa được xác định rõ ràng trong các văn
bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Việc không quy định rõ ràng này sẽ gây ra
không ít những khó khăn trong việc xác định cơ quan nào sẽ là đại diện cho bên bán
trong một thương vụ mua bán doanh nghiệp nhà nước.
Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, để hòa nhập với nền kinh tế thế giới và để
tuân thủ theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký với các tổ chức quốc tế, nước ta
đang cố gắng cổ phần hóa hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước, thể hiện đúng quy luật
và đặc tính của nền kinh tế thị trường, xóa bỏ hoàn toàn bàn tay điều tiết vô hình của

Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành
lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức,
viên chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng
trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người
được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh
nghiệp;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người
được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh
nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử
lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm
hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan
đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của
pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.”
Tuy nhiên những quy định này lại tạo ra một số vấn đề không rõ ràng trong việc
xác định các chủ thể được quyền mua doanh nghiệp. Nếu xác định chủ thể có quyền
mua lại doanh nghiệp là những chủ thể được quyền mua bán doanh nghiệp và không
thuộc các trường hợp bị pháp luật cấm quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, thì
những đối tượng thuộc khoản 2 điều 18 Luật Doanh nghiệp hoàn toàn không được
phép tham gia với tư cách chủ thể trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Thế nhưng,
nếu mục đích của những đối tượng kể trên không phải là thành lập quản lý doanh
nghiệp mà đơn cử họ mua lại doanh nghiệp để mang toàn bộ doanh nghiệp đó làm tài
sản góp vốn vào một doanh nghiệp khác, hoặc người mua dùng doanh nghiệp mua
được làm tài sản tặng cho một người khác có đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp,

Do đó, một cách gián tiếp pháp luật Việt Nam đã quy định hợp đồng mua bán
doanh nghiệp phải được xác lập bằng văn bản.
Việc xác lập hợp đồng dưới hình thức bằng văn bản pháp luật Việt Nam có quy
định: Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ
liệu được coi là giao dịch bằng văn bản (Khoản 1, Điều 124, Bộ luật Dân sự 2005);
Như vậy từ quy định này có thể đương nhiên hiểu rằng: hợp đồng mua bán doanh
nghiệp qua các hình thức điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu cũng được công nhận
là hình thức hợp đồng bằng văn bản và hoàn toàn không trái với quy định của pháp
luật.
Tuy nhiên, hợp đồng mua bán doanh nghiệp là loại hợp đồng phức tạp với giá trị
hợp đồng rất lớn so với các loại hợp đồng mua bán thông thường khác. Quá trình thiết
lập và thực hiện loại hợp đồng này thường được cân nhắc và tìm hiểu một cách kỹ
càng, quá trình ký kết thường cần xác minh rất nhiều thông tin liên quan đến doanh
nghiệp mục tiêu và các chứng minh xác thực về chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như
xác minh giá trị tài sản của doanh nghiệp, quá trình chuyển giao doanh nghiệp cũng
tương đối phức tạp, đồng thời sau khi tiến hành ký kết các bên còn rất nhiều nghĩa vụ
24


ràng buộc sau hợp đồng. Chính vì vậy, việc thực hiện hợp đồng qua fax, telex, điện
báo, thông điệp dữ liệu sẽ không thật sự đảm bảo quyền lợi cho các bên. Nếu không có
quy định riêng biệt về hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp tách riêng ra
khỏi các quy định về hình thức của hợp đồng nói chung thì có thể dẫn đến sự thiếu tính
minh bạch và thực tế trong quá trình ký kết hợp hợp đồng. Đây cũng sẽ có thể trở
thành một quy định làm giảm tính hiệu quả điều chỉnh của luật.
2.2.3. Nội dung của hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Hợp đồng là sự tự do ý chí của các bên. Về nguyên tắc, pháp luật không ràng
buộc hay hạn chế thỏa thuận của các bên (trừ khi có lý do xác đáng như để bảo vệ
quyền và lợi ích của người thứ ba, bảo hộ quan hệ hợp đồng và theo đó đảm bảo trật tự
công cộng, đạo đức xã hội). Trong mối quan hệ hợp đồng giữa các bên thì hợp đồng lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status